Monthly Archives: May 2015

Kino, Kino, và Kino

Kino” là một truyện ngắn của Murakami được dịch sang tiếng Anh, rồi tiếng Việt vào đầu năm 2015. Bản dịch tiếng Việt có thể đọc ở đây.

Review của mình:

Đây dường như là một hành trình tuyệt đối cô độc của Kino, Kino, và Kino. Kamita cũng chính là Kino. Kamita là một tiếng nói từ thẳm sâu trong lòng Kino. Là lý trí của Kino. Là phần mạnh mẽ trong con người Kino. Cũng là con người mà Kino muốn trở thành.

Khi Kino chỉ còn lại một mình, Kamita xuất hiện để “để mắt” đến Kino. Kamita bảo gì, Kino làm nấy. Khi Kino không hiểu Kamita muốn nói gì, Kamita lại rất hiểu Kino cần làm gì.

Bà bác chỉ là một cái cớ. Đúng hơn là một cảm giác thoáng qua về tình mẫu tử của một người đàn ông đã quá tuổi để có thể về với vòng tay mẹ. Cái tuổi mà người ta đôi khi chỉ còn biết trông cậy vào chính mình trong những lúc đau khổ nhất. Thậm chí, để bắt đầu nói chuyện với chính mình cũng thật khó khăn. Như giữa Kino và Kamita.

Chuyện bắt gặp vợ mình ngủ với bạn thân mình là câu chuyện dễ hiểu nhất về một mối đau tình. Bởi thế nên nó cũng là một câu chuyện rất tầm thường. Bởi thế nên nó chỉ là cái vỏ bọc cho một nỗi đau mà ngay cả trong trí tưởng tượng người ta cũng không muốn nhắc đến. Gọi Murakami là một nhà văn biết biến những cái tầm thường thành cái phi tầm thường là vì thế. Tất cả những cái tầm thường chỉ là vỏ bọc. Kể cả jazz, mèo, và một quán bar. Murakami thực sự kết nối với người đọc bằng những cái khác. Cảm giác về nỗi đau chẳng hạn.

Các chi tiết khác đều là fantasy của Kino để hành trình vượt qua nỗi đau của mình bớt cô độc. Trên thực tế, cô người yêu nào đã phản bội hoặc ruồng bỏ Kino có thể đã không bao giờ nói với anh nửa câu. (Nếu có, có khi anh đã không phải sáng tác ra câu chuyện này.) Và một cô gái cool cool bí ẩn nào đó tự nhiên chia sẻ với anh một nỗi đau, tự nguyện lên giường với anh, cũng chỉ là một fantasy mà thôi. Cô gái ấy cũng rất có thể là một góc khuất của cô người yêu kia. Với những nỗi đau mà Kino không thể biết chính xác chúng là gì, nhưng anh giả định là có những nỗi đau ấy. Một cách để có thể tiến thêm một bước đến sự tha thứ.

Kino hẳn là đã cô độc hơn những gì mà Murakami đã vẽ ra. Cô độc tuyệt đối.

3 Comments

Filed under Truyện ngắn

Còn chút gì để nhớ

Mãi gần đây tôi mới nhận ra Nguyễn Nhật Ánh (NNA) là nhà văn Việt Nam mà tôi đọc nhiều nhất. Tuy không nhớ là đã đọc bao nhiêu và đọc những quyển nào, ít nhất tôi cũng đã phải đọc được hai chục quyển của ông. Nhưng cũng thú thực là có những quyển tuy đã đọc rồi đến giờ nhìn tựa sách tôi không thể nhớ được nội dung của chúng như thế nào nữa.

Mấy hôm trước tự dưng tôi lại đọc NNA sau rất nhiều năm. Cũng vô tình, Còn chút gì để nhớ không chỉ viết về tuổi học trò nghịch ngợm như các tác phẩm quen thuộc khác của NNA mà truyện kéo dài cho tới khi các nhân vật bước vào lứa tuổi ba mươi, sau khi đã đi qua cái thời hồn nhiên, trải qua các biến cố, và có lẽ bắt đầu nhìn cuộc đời một cách nhẹ nhàng hơn. Bởi vậy, những độc giả một thời của NNA mà nay đã “toan về già” nếu chưa đọc quyển này thì giờ đọc vẫn còn kịp ;). Tôi cũng đã ngoài ba mươi mà đọc quyển này vẫn thấy nguyên vẹn một niềm thích thú như đã đọc NNA hồi còn teen teen cách đây mười mấy năm.

Hơn nửa đầu của truyện viết về tình cảm tuổi học trò cùng với tất cả những sự hồn nhiên và nhí nhố của những cậu trai, cô gái mới lớn, đúng sở trường của NNA. Dĩ nhiên trong đó không thể thiếu những “bà chằn” cá tính, to mồm có lẽ là luôn xuất hiện trong mọi truyện của NNA để bắt nạt mấy cậu trai khờ. Hội thoại rất dễ thương, đọc không thể không lăn ra cười :D.

Phần sau là câu truyện khi bối cảnh chính trị, xã hội bắt đầu chen vào, trở thành lửa thử vàng cho những nhân vật đã một thời hồn nhiên và dễ thương ngang nhau. Mối tình Chương – Quỳnh ngay lập tức gãy đôi ra trước ngọn lửa ấy, để cho nhân vật Chương cứ đau khổ, day dứt mãi nhiều năm về sau, để rồi sau sóng gió anh hiểu nhiều hơn về từng người sống quanh mình. Ai ích kỷ, ai hèn nhát, ai khẩu xà tâm Phật…

NNA đã để cho Chương, giống như nhiều người trong chúng ta, cảm thấy thật khó để ghét một người mình đã từng yêu thương thật lòng, kể cả khi họ đã làm mình tổn thương và mình biết rõ họ không xứng đáng với tình cảm của mình. Đối với người ấy có còn chút gì để nhớ hay không là câu hỏi mà Chương tự hỏi khi tất cả mọi chuyện đã lùi vào dĩ vãng. Truyện cũng kết thúc ở đó.

Đôi khi chạy ngang tiệm may, tôi vẫn nhìn thấy Quỳnh. Có một lần, vâng, chỉ có một lần thôi, tôi dừng xe lại đứng nói chuyện dăm ba câu với Quỳnh trước cửa. Thú thật, đó là những câu chuyện nhạt phèo, chán ngắt nhưng chẳng hiểu sao khi nhìn vào mắt Quỳnh, tôi bỗng cảm thấy bồi hồi, xao xuyến lạ lùng chẳng khác nào tôi đang đứng trước Quỳnh mười lăm năm về trước. Đúng là lạ lùng, bởi vì tôi biết chắc rằng tình yêu của tôi đối với Quỳnh thực sự đã chết từ lâu. Khi đạp xe đi, bỗng dưng tôi bâng khuâng tự hỏi, rằng không biết trong vô vàn những kỷ niệm tươi đẹp ngày xưa, đối với Quỳnh bây giờ có còn một chút gì để nhớ hay không.

Mô tuýp truyện như thế này thực ra không mới. Đọc Còn chút gì để nhớ tôi lại nhớ đến những cuốn như Ruồi trâu của Voynich hay Tạm biệt, Columbus của Philip Roth. Chắc là vì ở đâu cũng có những chuyện tình yêu như thế. Xét cho cùng, chúng ta ai mà chẳng là con người xã hội, chịu ảnh hưởng của các định kiến xã hội và các tư tưởng chính trị. Kể cả khi nhận dạng ra được các định kiến của mình, cũng cần có sự dũng cảm mới có thể vượt qua được những định kiến đó.

Điều quan trọng là, NNA đã kể một câu chuyện rất Việt Nam!

Leave a comment

Filed under Truyện vừa

Quẩn quanh trong tổ

Cuốn sách này tôi đã từng xếp vào chồng sách sẽ đem đi tặng vì lần đầu mở ra đọc được chừng vài chục trang thấy lối viết của tác giả khá lan man và không có gì đặc sắc. Rồi lười chưa mang đi tặng nên sách cứ nằm đó. Rồi một ngày dọn tủ sách tôi lại tiếc của nghĩ rằng thôi đem ra đọc một lượt rồi đem đi tặng cũng chưa muộn.

Cũng muốn nói thêm rằng đây là cuốn sách đầu tiên tôi đọc sau ba tháng giời quanh quẩn với công việc, Tết nhất, một số thú vui nhất thời, cũng như một chút việc gia đình. Đến hôm nay khi mọi thứ lắng xuống, tôi tự dưng cảm thấy thèm đọc một cuốn sách. Và tôi đã đọc Quẩn quanh trong tổ (QQTT).

Trước hết, cần nói là Phan An (PA) viết quyển này với phong cách rất lan man. Nghĩa là từ chuyện A vắt sang chuyện B nói chán nói chê rồi mới quay lại chuyện A. Câu văn đa phần là câu rất rất là phức, rất rất là dài. Bởi thế nên lúc đầu đọc tôi thấy hơi mệt vì phải chạy theo mạch kể chuyện lòng thòng này. Nhưng qua được vài chục trang đầu thì cũng bắt đầu thấy quen hơn. Câu chuyện cũng bớt nhảm hơn lúc đầu.

Mặc dù nhiều đoạn khá quằn quại, QQTT mang một giọng điệu chung là hài hước. Điều này làm tôi thích QQTT hơn là những quyển tản văn quằn quại một cách nghiêm túc của Nguyễn Trương Quý. Tôi hiểu hài hước ở đây là liều thuốc giảm đau để PA vượt qua những cảm xúc tiêu cực của chính mình khi nhìn thấy quá nhiều điều nực cười một cách tàn nhẫn xảy ra xung quanh cái “tổ” của mình. Còn bên dưới thì có lẽ nhiều khi tự cảm thấy tâm hồn mình “rách nát”. Giống như Lưu Quang Vũ, người được trích thơ liên tục từ chương này sang chương khác trong QQTT. Và cũng giống như tôi, người đã một thời đọc Lưu Quang Vũ say sưa điên cuồng.

Một điểm nữa mà tôi thích ở QQTT là giọng văn dạt dào tự do. Mặc dù tác giả tự nhận là “chỉ nỏ mồm” thôi nhưng tôi nghĩ nhiều người viết vớ vẩn như tôi sẽ phải cảm thấy chút ghen tị và xấu hổ trước cái sự “nỏ mồm” ấy của tác giả. Mấy năm nay tôi chẳng viết được cái gì mà ngôn từ tuôn trào ra như không gì ngăn lại được như thế. Mấy năm nay tôi cũng quẩn quanh một chỗ mà chẳng viết được gì ra hồn (hoặc có thì cũng rất rất ít).

Những điểm cộng nữa có thể kể đến trong cuốn sách này là những hình vẽ minh họa nhí nhố của chính tác giả, những dòng chữ viết tay, và cách dùng từ ngữ rất tinh tế giữa những ngổn ngang câu chữ.

Điểm trừ nào cho quyển sách này? Có thể hơi lan man và vài đoạn hơi quá quằn quại với một số người. Với tôi thì ok.

Leave a comment

Filed under Tản văn

Sách đọc tháng 11/2014

Tháng Mười kết lại bằng một nhà văn Brazil thì tháng Mười Một này bắt đầu với Sống để kể lại của Gabriel Garcia Marquez, một nhà văn Mỹ Latinh khác (người Colombia, mới mất cách đây không lâu). Quyển tự truyện này chủ yếu kể lại lịch sử viết văn của bác, dĩ nhiên gắn với nhiều yếu tố lịch sử cá nhân và gia đình, đặt trong bối cảnh chính trị xã hội của Colombia qua các thời kỳ. Ai mà là fan của bác này thì đọc hẳn sẽ rất thích thú vì trong này bác tiết lộ nhiều cái khởi nguồn của các cuốn sách của bác cũng như cảm hứng để xây dựng một số nhân vật trong các tiểu thuyết của bác. Ai không phải là fan của bác thì đọc có thể thỉnh thoảng sẽ mất kiên nhẫn vì sách hơn 600 trang, khá nhiều chi tiết, với cả bối cảnh lịch sử, chính trị của Colombia chắc cũng ít quen thuộc với người đọc Việt Nam. Dưng mà đọc xong rồi được cái làm geo quiz sẽ không trả lời sai câu hỏi dòng sông Magdalena là của nước nào. Đùa tí thế thôi chứ đọc xong cũng thấy khâm phục sự kiên định, bền bỉ, và chịu khó với nghề viết văn của bác.

Vì theo dõi tình hình chính trị xã hội Colombia hơi mệt nên mình quyết định chuyển tiếp bằng một quyển truyện quê nhà ngăn ngắn, Những thiên đường mù của Dương Thu Hương. Đúng là văn học “phản động” có khác, ai lại mắng các nhân vật cán bộ như tát nước (cống) vào mặt thế bao giờ. Nhưng mà viết kiểu nhẹ nhàng, ý nhị kiểu ‘Thời xa vắng’ thì đã chẳng nên chuyện. Truyện này mình thích nhất cái kết, khi mà cô cháu gái kiên quyết sống ra ngoài vòng hào quang dòng họ mà bà cô đã lăn lộn cả đời để gây dựng lại bằng cách bán cái nhà đi và tính chuyện ra nước ngoài. Cách nghĩ cách làm tuy không Việt Nam lắm nhưng đọc xong thấy nhẹ cả người.

Sẵn tinh thần quê nhà đang lên một tí, mình quyết định đọc tiếp một quyển truyện Việt. Giờ thì rời từ đồng bằng Bắc Bộ vào trong Nam, rời khỏi những năm 80 để đến với thời đại mới hơn với Bãi vàng, đá quý, trầm hương của Nguyễn Trí. Nguyễn Trí là nhà văn tay ngang đã ngót nghét sáu chục tuổi, đã từng phiêu bạt giang hồ đi tìm vàng – đá quý – trầm hương, rồi làm công nhân nhà máy, chạy xe ôm, đồ tể, dạy tiếng Anh… Đến giờ bác đã xuất bản được hai cuốn sách, trong đó cuốn mà mình đọc và giới thiệu ở đây là tác phẩm đầu tay của bác, một tập truyện ngắn. Như cái tựa nêu ra, các truyện trong này chủ yếu viết về cuộc sống của những người làm nghề đi tìm mấy thứ đồ quý kể trên, ngoài ra xen vào một số ít truyện khác về giới khai thác rừng, gái mại dâm trong thành phố, hay công nhân trong các khu công nghiệp. Qua đó, người đọc có thể hình dung ra rõ hơn về những thế giới rất thật bên cạnh cái thế giới mà đa số chúng ta đang sống. Những thế giới “ngầm” này đang hàng ngày hàng giờ vận hành theo những cách thức và luật lệ riêng của nó, đặc biệt rõ nét trong “Tiền rừng”, truyện kể về một đế chế nho nhỏ của mấy đại gia giàu lên từ rừng, từ thuở khởi nghiệp, lên đến đỉnh cao, rồi đến lúc thân bại danh liệt.

Tuy đề tài thuộc loại “chua chát” nhưng Nguyễn Trí có lối kể chuyện cứ tưng tửng mà lại hài hước, các câu truyện thường được bóc tách bằng đối thoại kiểu hỏi-đáp, khi thì là đối thoại giữa các nhân vật, khi lại là đối thoại giữa người viết và người đọc. Nên cảm giác như là được ngồi giữa sông nước miền Tây Nam Bộ hoặc bên thềm một ngôi nhà sàn mà nghe một ông già kể chuyện. Các truyện kể hầu như đều kết thúc có hậu, hoặc có tan nát thì cũng không quá đau thương bi lụy. Đọc xong có cảm giác, đấy là cuộc sống, người kể đã kể khách quan hết sức có thể, còn đánh giá cái cuộc sống đấy thì dành cho người đọc.

Tiếp nối tinh thần tò mò về giới giang hồ, mình chuyển sang đọc một quyển về găng xtơ Mỹ,Gang leader for a day của Sudhir Venkatesh. Nghiên cứu xã hội học về giới găng xtơ của anh chàng gốc Ấn này cách đây vài năm đã vang danh thiên hạ nhờ cuốn Freakonomics (bản dịch tiếng Việt là Kinh tế học hài hước) của mấy tay kinh tế gia trẻ hay nói chuyện xã hội (giờ họ cũng không còn trẻ lắm). Khác với quyển giang hồ Việt nói trên là chuyện hư cấu, quyển sách có hơn ba trăm trang này kể lại quá trình ngót nghét 7-8 năm tác giả tiếp cận và đeo bám theo một băng nhóm giang hồ ở thành phố Chicago sống chủ yếu bằng buôn bán ma túy lẻ. Venkatesh đã may mắn được một gang leader tạo điều kiện cho hang out với băng đảng của anh và xâm nhập vào thế giới này vì cũng thấy tò mò trước việc một anh sinh viên trói gà không chặt mà lại đi tò mò về việc người da đen nghèo ở khu ổ chuột sống như thế nào.

Không chỉ viết về giới giang hồ, cuốn sách còn mang đến một chân dung sinh động về cuộc sống của những con người không thuộc băng nhóm nhưng sống trong cộng đồng lân cận và mối quan hệ phức tạp giữa họ với nhóm buôn bán ma túy cũng như cảnh sát địa phương. Sách viết cho độc giả đại chúng nên dễ đọc, đọc có cảm giác như đọc tiểu thuyết vậy. Trong đó, việc tác giả phục dựng lại từng đoạn hội thoại quan trọng nhờ vào những ghi chép thực địa hàng ngày của anh trong thời gian nghiên cứu thật thú vị. Và Venkatesh quả là có một câu chuyện trọn vẹn để kể vì anh đến vào lúc các băng đảng ở Chicago đang ở giai đoạn thịnh vượng (cuối những năm 80) và gắn bó với họ cho tới lúc băng nhóm này tan rã bởi việc thành phố buộc những người dân nơi đây rời đi nơi khác để xây dựng những tổ hợp mới. Sách cũng có thể giúp cho những người không chuyên hoặc những sinh viên đang bước đầu tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu ethnography hiểu thêm về công việc nghiên cứu định tính xã hội học hoặc nhân chủng học.

Completion of the (two) month chắc là thuộc về Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần vì quá dài (tháng trước mình đọc một nửa, tháng này đọc nốt nửa còn lại). Mình đọc bản 120 hồi mà kết thúc là Bảo Ngọc lấy Bảo Thoa một thời gian, đi thi trả hiếu cha mẹ rồi mới đi tu. Nghe nói là nhiều người không thích cái kết này bằng cái kết khác là Bảo Ngọc trong ngày cưới phát hiện ra không phải em Lâm mà là em Bảo thì bỏ nhà đi tu luôn, nhưng mình thấy kết kiểu kia cũng được, nó hợp với cái tên gốc Thạch đầu ký hơn (mình cũng thích cái tên này hơn). Vì mình cũng chẳng đọc văn học cổ điển Trung Quốc bao giờ nên đọc bộ này thấy lối kể truyện cũng thú vị vì nó khác lạ so với các dạng tiểu thuyết khác mà mình đã đọc. Chỉ có điều, cảm thấy là lối nghĩ, cách sống của các nhân vật trong truyện là của thế kỷ 18 mà sao gần gũi thế, không biết là do mình đã xem quá nhiều phim Tàu hay là do nhân dân Trung Hoa và nhân dân Việt Nam đã bảo trì một cách kỳ diệu (or kỳ lạ) – for better or worse – nhiều giá trị tư tưởng, nếp nghĩ, nếp sống xưa đến vậy. Ảnh hưởng của Khổng giáo và Phật giáo rất rõ nét. Nhìn chung đây đúng là một bộ tiểu thuyết đồ sộ, lắm nhân vật, nhiều tình tiết, triết lý vừa phải, chỉ trừ khoảng một chục hồi ở giữa đọc hơi nản và buồn ngủ vì nhiều chuyện linh tinh lan man.

1 Comment

Filed under Review ngắn

Sách đọc tháng 10/2014

Tháng Mười mình đã đọc được tổng cộng 9 quyển/truyện và đọc được một nửa bộ Hồng Lâu Mộng, trong đó có một quyển là đọc lại và ba quyển trước đây đã đọc được một phần. Tổng cộng mình đọc trong tháng này được hơn 4.000 trang. Not a bad start.

Trước tiên mình đọc liền ba quyển của Haruki Murakami. Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là tiểu thuyết gần nhất của Murakami. So với nỗi thất vọng 1Q84 thì câu chuyện trong quyển sách nhỏ này được kể tốt hơn, trọn vẹn hơn, mặc dù đây chỉ là một truyện bình thường của tác giả này, như kiểu đến hẹn lại ra sách, không thể so sánh với các sách đình đám khác của bác được. Tuy nhiên, cốt truyện cũng khá thú vị, mặc dù vẫn xoay quanh những con người có vấn đề với bản ngã của mình loay hoay tìm cách sống giữa những dằn vặt về quá khứ cũng như các mối quan hệ bạn bè trúc trắc. Đặc biệt, có lẽ lần đầu tiên trong truyện Murakami có một đoạn quan trọng được lấy bối cảnh ở ngoài nước Nhật, mà cụ thể là tại Phần Lan. Mình thích cái đoạn ấy, không rõ là tại làm sao.

Rồi mình đọc nốt cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Cuốn này trước đây mình đã đọc được hai phần ba rồi. Rất phục bác Murakami đã lao động như một nhà xã hội học thực thụ khi tiến hành tiếp cận, phỏng vấn các nạn nhân của thảm kịch sarin cũng như một số thành viên của giáo phái Aum và kể lại câu chuyện của cá nhân từng người để giúp người đọc có một cái nhìn gần gũi hơn so với việc đọc những bài báo “khách quan” thông thường.

Cuốn thứ ba của Murakami mà mình đọc trong tháng này là Biên niên ký chim vặn dây cót. Cuốn này mình đã đọc cách đây chừng 6-7 năm nhưng bỏ cách những đoạn về hồi ức của ông trung sĩ, vả lại hồi đó đọc không hiểu lắm nên đã quên gần hết. May mà giờ có thời gian đọc lại, vì đây đúng là một trong những truyện hay nhất của Murakami vì nội dung trúc trắc, không đơn giản như các truyện khác của bác, mặc dù có những chi tiết mình thấy hơi thừa thãi (hoặc là do underdeveloped, giống như trong bộ 1Q84). Giờ mình đã nhớ được cốt truyện rồi, nhất định khi nào sẽ lại đọc lại cuốn này một lần nữa, để có thể phân tích và so sánh nhân vật Kano Creta với nhân vật người vợ ngay từ đầu. Nhìn chung là một quyển truyện đọc vất vả.

Tiếp đó mình đọc Khởi sinh của cô độc của Paul Auster. Mình bắt đầu chú ý đến Paul Auster khi vô tình đọc The New York Trilogy, một tác phẩm rất nổi tiếng của bác này, nhưng lại mang một cái tên Việt rất buồn cười là Trần trụi với văn chương. Sau quyển đầu tiên đó và trước quyển hồi ký này mình đã đọc Moon Palace và thấy rất thích lối kể truyện của bác, chứ nếu không nhìn cái tựa này mình sẽ không có hứng thú để mua lắm. Quyển này mình đọc hơi mất tập trung nên không review gì nhiều. Chỉ có cảm giác nổi bật nhất là quyển này bác viết rất thơ, nghĩa là giọng văn rất mềm mại, mượt mà mà ít khi mình đọc được. Cũng không lạ vì bác ngoài là một nhà văn còn là một nhà thơ nữa, đã từng sống nghèo khổ trong một cái phòng áp mái rẻ tiền ở Paris để làm thơ mà sống.

Tiếp theo mình đọc một quyển sách mà mình nghĩ là sẽ xếp nó vào trong top những quyển sách mà mình thích nhất, đó là Người gieo hy vọng (Teaching hope) của Erin Gruwell và nhóm các nhà văn tự do. Lại là một tập hợp khác những câu chuyện cá nhân giống như cuốn ‘Ngầm’ kể trên, nhưng là do mỗi cá nhân tự viết ra. Đó là những chuyện rất ngắn, kể về những kỷ niệm ấn tượng hoặc đôi khi chỉ là cảm xúc của những người giáo viên dạy những lớp học sinh cá biệt ở mọi nơi trên khắp nước Mỹ. Mình thích quyển này vì bản thân mình cũng quan tâm đến việc dạy học và nó giúp cho mình hiểu nhiều hơn về cuộc sống của những tầng lớp dưới trong xã hội Mỹ thông qua câu chuyện của những đứa trẻ tại trường học mà cá nhân mình đã từng tiếp xúc khi còn ở Mỹ.

Tiếp nữa mình đọc Bản giao hưởng đồng nội của Andre GideChú nhóc của Anfonse Daudet, được dịch sang tiếng Việt và in chung trong một cuốn sách. Có lẽ lâu lắm rồi mình mới lại đọc truyện của các nhà văn châu Âu. Hai truyện này đều đã viết khá lâu rồi, đọc cũng được nhưng không có gì quá đặc biệt để review, trừ câu chuyện của “chú nhóc” được dựa trên chính cuộc đời của tác giả là cho thêm một góc nhìn về cuộc sống của một người đã dấn thân theo con đường văn chương, giống như cuốn sách của Auster kể trên hoặc một cuốn hồi ký của một nhà văn khác mà mình đọc trong tháng Mười Một.

Cuốn sách ấn tượng nhất của tháng Mười mà mình đọc là Phúc lành của đất (Growth of the soil) của nhà văn người Na Uy Knut Hamsun. Đầu tiên phải nói là bản dịch tiếng Việt rất dở, đọc hơi khó chịu. Thật đáng tiếc vì đây thực sự là một tiểu thuyết có tầm vóc. Nói là truyện có tầm vóc là bởi nó như một sự tóm tắt ngắn gọn sự phát triển của nhân loại từ thuở bình minh của nền văn minh nông nghiệp cho đến bình minh của nền văn minh công nghiệp. Câu truyện bắt đầu bằng hình ảnh một người đàn ông độc hành đi tìm đến một nơi hoang vu để bắt đầu một cuộc sống mới (không rõ cuộc sống trước đó thì như thế nào). Rồi tại đây anh lập gia đình, dần dần phát triển thành một trang trại trù phú trước khi những người khác bắt đầu kéo đến đây lập nghiệp. Rồi câu chuyện cứ tiếp tục phát triển với mối quan hệ đan xen trong vùng nông thôn này, mối quan hệ của nó với thành phố, sự can thiệp của nhà nước, sự phát hiện ra các mỏ kim loại, sự xuất hiện của các đội quân khai mỏ và kế đó là các nhà buôn tạp hóa,sự cơ giới hóa nông nghiệp, rồi sự tranh giành đất đai giữa nhiều bên có thế lực. Truyện tái hiện lại những gì đã diễn ra ở Na Uy đầu thế kỷ 20, nhưng có thể tìm thấy ở bất kỳ quốc gia nào khi bước đầu tiếp xúc với công nghiệp hóa. Có thể đó chính là lý do cuốn sách này đã góp phần lớn giúp cho Knut Hamsun đoạt giải Nobel Văn học năm 1920.

Trước khi tháng Mười kết thúc mình cũng kịp đọc thêm một cuốn nữa là O Zahir của Paulo Coelho. Cuốn này cách đây 7 năm mình đã cầm lên đọc nhưng vì thấy không hấp dẫn nên đã bỏ dở và đã từng xếp nó vào danh sách những cuốn sách mình sẽ không bao giờ thèm đọc cho hết. Nhưng vì vừa đọc lại Biên niên ký chim vặn dây cót là một truyện về một người đàn ông có vợ tự dưng mất tích nên mình lại có cảm hứng đọc lại quyển này để xem cùng với một bối cảnh mở đầu giống nhau thì hai nhà văn triển khai cốt truyện tiếp theo như thế nào. Nói chung quyển này đọc mình thấy bình thường. Vẫn giọng văn triết lý quen thuộc của Coelho, một vài đoạn đọc thì cũng được nhưng tổng thể mình thấy triết lý hơi nhiều. Cái kết của truyện mình cũng không hiểu lắm. Nhưng mình thích việc tác giả đưa vào đây câu chuyện về đất nước Kazakhstan vốn là một đất nước ít ai để ý đến.

Leave a comment

Filed under Review ngắn

Sách đọc tháng 4-5/2009

Saturday, May 30, 2009 at 9:56am

Gần đây bạn đọc một ít sách. Có quyển thik có quyển vứt và có quyển thì cũng cố đọc cho hết. Vì sự tò mò (hóng hớt) của bạn bè gần xa, bạn quyết định viết cho mỗi quyển một vài dòng gọi là có tí ý kiến.

1. Suối nguồn:

Một thời cuốn này được các báo lăng xê rất ghê nhưng lèo tèo mấy bài viết review cực chán và các độc giả thì thấy ngài ngại vì bản dịch lên tới gần 1.200 trang (có bạn xuýt xoa: rơi vào chân là què đấy!) Quyển này là tiểu thuyết, tương đối dễ đọc nhưng nhiều đoạn viết nhàn nhạt mà cầm thì nặng tay nên dễ nản. Về cuối mình phải cố mà đọc cho hết mặc dù 200 trang đầu giới thiệu một cốt truyện tương đối gây tò mò

Đại để là nói về ngành kiến trúc ở Mỹ những năm 1920-1930, khi những giá trị kiến trúc đích thực bị xã hội ruồng bỏ, và do vậy, những người nắm giữ những giá trị ấy phải vật lộn, đấu tranh để tìm lại được vị trí xứng đáng. Các nhân vật được xây dựng theo hướng hình tượng hóa nhưng việc “thắt nút, mở nút” không thuyết phục lắm. Truyện mang tính triết lý và nhiều đoạn viết hơi vụng theo kiểu: đây là A, nhân vật chính diện này, còn kia là B, nhân vật phản diện này; thằng B đứng trước thằng A cứ có cái cảm giác vừa lo lắng vừa sợ hãi vừa kính nể không thể lý giải nổi (!!)

Tuy vậy, truyện cũng không đến nỗi tệ quá, nó cũng có những đoạn đối thoại khá là thú vị và cũng khá công phu trong việc xây dựng các tình tiết về xã hội thực bên ngoài. Ngoài ra, mình thấy rằng lối viết của J.K. Rowling có một nét gì đó khá giống với nữ tác giả Ayan Rand (1905-1982), nhất là cách viết về giới báo chí trong tập 5 Harry Potter.

2. Ăn, cầu nguyện, yêu:

Quyển này cũng dày, mình đọc cũng hơi lắc lư nhưng cơ bản tớ rất thik. Đây không phải là tiểu thuyết mà là một quyển tự truyện về một năm gap-year của một nữ nhà báo Mỹ ngoài 30 tuổi, mới thoát khỏi một cuộc ly dị đau đầu và quyết định dành 4 tháng sống ở Ý, 4 tháng ở Ấn Độ và 4 tháng ở Bali, Indonesia. Một hành trình khám phá thế giới, tìm lại sự bình yên cho tâm hồn và quan trọng nhất, học được cách yêu lấy chính bản thân mình.

[Trên blog này có 3 bài review lại cuốn này khi mình đọc lại nó lần thứ hai năm 2015.]

3. Nỗi buồn chiến tranh:

Truyện viết rất tốt, rất xuôi, rất nhẹ nhàng và rất nhân văn. Không thấy một sự hằn học phê phán chiến tranh mà chỉ viết về cái sự buồn với tất cả những nỗi niềm và những lý lẽ của nó. Nói là buồn thực ra chưa đủ, phải là thê thảm mới đúng. Đọc xong cứ nặng hết cả người, và rồi cất cho kỹ chứ chả dám đọc lại. Vì thế mình khuyên các bạn, nếu chưa đọc, thì chỉ nên đọc khi tinh thần đang khỏe mạnh và minh mẫn thôi.

4. Cô đơn trên mạng:

Đọc được khoảng 100 trang thì chán. Coi cọp trước phần cuối thấy chả hay, thế là quăng!

[Sau này hồi 2015 mình có đọc lại cuốn này, lần này thì đọc hết, và cảm nhận vẫn như lần đầu, ấy là không thích. Mình thấy quyển ấy viết hơi kiểu khoe kiến thức khoa học, đọc không có thấy hấp dẫn mà thấy hơi phô. Kể chuyện yêu đương hẹn hò cũng không có gì đặc sắc.]

5. Trên đường:

Quyển này thì đọc được gần hết rồi đấy, mà cũng chả hết được. Truyện viết dựa trên một chuyến đi bụi xuyên nước Mỹ của tác giả Jack Kerouac và là một trong những quyển khá tiếng tăm trong làng văn học Mỹ, nhưng chả hiểu đầu óc mình thế nào đọc mãi mà chả xâu chuỗi được các thứ với nhau thế là nản, bỏ.

[Sau này mình thử đọc lại cuốn này 1-2 lần gì đó nhưng lần nào cũng không thấy hay.]

Leave a comment

Filed under Review ngắn

Rừng Na Uy, lần thứ ba

Entry for 27 December 2010

Lần thứ ba tôi viết về Rừng Na Uy. Có lẽ với tôi nó là cuốn tiểu thuyết nhiều ám ảnh nhất. Cầm sách đọc thì tôi đã đọc Rừng Na Uy chừng ba bốn lần, nhưng tôi “đọc” lại nó rất nhiều lần trong đầu mình. Các chi tiết, các câu thoại, các bức thư, không gian của các cuộc trò chuyện… Mỗi một lần đọc lại “thấy” được nhiều hơn.

Lần thứ nhất đọc, thấy như một người không sành rượu mà uống phải một thứ rượu nặng, ngon nhưng cái chất lỏng ấy đi xuống quá nhanh, đốt cháy bên trong một chút, nhưng chưa thể nói được một cách đầy đủ hương vị của nó như thế nào. Nhân vật ấn tượng nhất là Midori. Phạm trù được nhắc đến trong truyện ấn tượng nhất là cái chết. Cảm giác chung sau khi đọc xong là nhìn cuộc sống tích cực. Ba ấn tượng này là hoàn toàn logic với nhau và hình như là trái với cảm nhận của rất nhiều người.

Thứ nhất, mọi người nhìn cái chết như một cái gì đó buồn thảm. Thực ra cuộc đời đôi khi còn buồn thảm hơn cả cái chết. Trong rất nhiều tôn giáo, cái chết là một sự giải thoát. Khi một ai đó chết đi, cái buồn thực ra ở lại với người còn sống. Chết nhiều khi không khó, sống mới là khó. Hơn nữa, đã là người ai cũng sẽ chết. Một người bạn của tôi nói, mỗi người sinh ra là đã đeo sẵn một cái án tử hình rồi. Nghe thì “ghê” nhưng thực tế cuộc sống là như vậy. Tôi đồng ý với bác Trịnh Lữ, cái chết thực ra là một phần của sự sống. Không có cái chết thì cũng chẳng có sự sống.

Thứ hai, khi đọc Rừng Na Uy nhiều người đi đếm cái chết. Trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết chẳng có ai chết cả. Trong Rừng Na Uy thì có bốn người chết. Lại toàn là người trẻ. Thế là đủ để làm cho người ta kinh hãi. Nhưng chẳng phải Toru và Reiko cuối cùng lựa chọn con đường sống hay sao? Kể cả Naoko, trước khi tự tử không phải là cô ấy đã rất cố gắng để sống hay sao? Tác giả đã cố gắng “cứu” những nhân vật của mình khỏi đau khổ và tuyệt vọng. Ông để một số nhân vật thất bại có lẽ là vì cuộc sống này đâu có đơn giản. Muốn vượt qua nỗi buồn người ta phải nỗ lực. Những gì ông có thể làm là tạo ra một Reiko mạnh mẽ biết tự cứu mình (dĩ nhiên với sự hỗ trợ của Naoko và Toru). Với Toru, ông tạo ra Midori. Midori là một nhân vật sống mãnh liệt. Ít nhất trong truyện cũng không có một lời nào cho thấy cô ấy từng nghĩ đến cái chết, mặc dù cô cũng có những nỗi buồn của riêng mình. “Tớ là một đứa con gái có thực và đang sống, với dòng máu sinh động có thực đang chảy ào ạt trong người.” Bởi thế, Midori thích nói về những gì có thể nhìn thấy, cầm nắm, và cảm nhận được cụ thể bằng giác quan. Khi nào cần, cô ấy hỏi Toru về những thứ trừu tượng hơn. Midori được tạo ra không chỉ để cứu Toru. Cô ấy còn “cứu” cả người đọc. Khó mà có thể không thích nhân vật Midori. Tôi tin là trong vô thức mọi người đều mong có nhiều Midori ở quanh mình.

Cuối cùng, như nhiều khái niệm khác, cái chết chỉ là “phương tiện” để Murakami bắt người đọc phải suy nghĩ. Ông để các nhân vật của mình suy nghĩ về sự sống và cái chết và lựa chọn những giải pháp khác nhau, bởi vậy khi đọc người đọc cũng bị cuốn theo và phải suy nghĩ, trừ những người đơn giản coi việc tự tử của người trẻ là điều mọi người đều cần phải tự thân mà tránh mà không chịu dừng lại vài bước để nghĩ xem vì sao có những người không thể tránh được nó. Cái chết xảy ra trong truyện nhưng đối với tôi nó có thể như một sự giả định. Tôi thích cái cuộc trò chuyện cuối cùng của Toru và Hatsumi, khi Toru đưa cô gái ấy về, họ nói chuyện và uống với nhau một chút. Lời cuối cùng mà Toru nói với Hatsumi ngày hôm đó là “mình thích có một người chị gái như cậu.” Đó cũng là lời cuối cùng mà cậu nói với Hatsumi, vì sau đó họ không gặp lại nhau nữa và cô gái này cuối cùng cũng tự tử. Chẳng ai nói trước được khi nào mình chết hoặc khi nào mình sẽ mất đi một người mà mình yêu quý. Khi Hatsumi còn sống, Toru đã nói được với cô ấy một điều cần nói, và đó là một điều có ý nghĩa trong cuộc sống ngắn ngủi của Hatsumi.

Nói chung tôi không mất nhiều thời gian để “đọc” cái sự chết trong Rừng Na Uy nhưng lại mất nhiều thời gian với những khía cạnh khác của tác phẩm, như các tuyến nhân vật, cái tôi, nỗi buồn, văn hóa, tính đại diện… Gần đây đạo diễn Trần Anh Hùng khi chuyển thể câu truyện này lên màn ảnh có chia sẻ một vài góc nhìn của anh về tác phẩm văn học gốc tôi cho là cũng khá thú vị. Ví dụ như anh nói trong mỗi người phụ nữ đều có cả Naoko và Midori. Quả thực điều này tôi cũng chưa nghĩ đến bao giờ, nhưng nghe cũng khớp với cách xây dựng nhân vật thường thấy của Murakami. Các nhân vật của Murakami thường được xây dựng để phản ánh một nét nào đó của con người thay vì là đại diện cho một cá thể nào đó mà chúng ta vẫn gặp cuộc đời thật, và qua những nhân vật ấy ta có những góc nhìn khác nhau về cuộc đời. Ý này quả thật chưa biết diễn đạt thế nào cho đúng nhưng lấy một ví dụ từ một tác phẩm khác của Murakami là ông già Nakata nói chuyện được với mèo trong Kafka bên bờ biển. Ông Nakata sau một cú sốc đã bị mất hoàn toàn ký ức hồi còn nhỏ và gặp vấn đề về tư duy trí tuệ (nên không hiểu được những gì phức tạp), đổi lại thì ông nói chuyện được với mèo. Một nhân vật như Nakata thì ngoài đời không có, nhưng ta có thể nhìn cuộc đời thông qua đôi mắt Nakata, đơn giản nhưng chân thực đến tận bản chất vấn đề.

Trở lại với Rừng Na Uy và Trần Anh Hùng, tôi cứ suy nghĩ mãi về diễn giải của vị đạo diễn này về Naoko và Midori. Cái cảm giác nhiều nhất về Naoko mà tôi có, thực ra là cô ấy là một bản sao của Toru và luôn luôn là quá khứ của Toru. Toru yêu cô ấy như thương cho chính bản thân mình. Còn Midori tôi nhìn theo một góc hơi khác như đã chia sẻ ở trên. Tôi không nhìn thấy được Naoko và Midori trong bản thân mình và cũng chưa hình dung được sự tồn tại hài hòa của cả hai nhân vật này trong một con người. Về cơ bản tôi thấy mình là Toru Watanabe. Tôi thiên hướng về tư duy trừu tượng hơn là những gì thực thể, nên cũng tương đối vất vả để “sống thực” 😛. Tôi lui vào thế giới của riêng mình nhiều hơn nhưng tôi cũng vẫn cố gắng sống cho “bình thường.” Tôi quan sát cuộc sống và cũng có thể giải thích vài điều kiểu như vì sao lại cần học ngữ pháp tiếng Anh. Tôi cũng hay (một cách vô thức) “bắt cuộc đời phải vừa khít theo cách sống của mình” (Reiko nói về Toru). Nói chung, tôi cố gắng giải thích cuộc đời và cố gắng làm những gì có thể để giải quyết các vấn đề rắc rối, nhưng cũng bởi thế với những nỗi buồn thì chỉ có cách duy nhất là  lặng lẽ đem ra gặm cho hết, bởi vì nỗi buồn chẳng có gì để giải thích nữa. Kêu ca hay chia sẻ không giải quyết được nỗi buồn một cách triệt để, mà chỉ tạo ra một cảm giác đánh lừa nhất thời mà thôi. Tình dục, cách mà Toru, Nagasawa, và các nhân vật khác lựa chọn, cũng chẳng phải là giải pháp cho sự trống rỗng trong lòng. Quay đi quay lại thì chỉ có cách duy nhất là đối diện với nó và đối diện với chính mình.

Thực ra lần đầu tiên đọc tôi không cảm nhận được sâu sắc nỗi buồn của Toru. Tôi đã không hiểu được tại sao trong một bức thư gửi Midori cậu ấy lại viết về “những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của mình.” Tôi đã nghĩ Toru là người biết giải quyết vấn đề, biết cách tự cứu mình, nên những nỗi buồn đã không giết chết cậu ấy. Thực ra sự chết không nhất thiết là một cái chết có thực, mà đôi khi một lúc nào đó một góc trong tâm hồn người ta cũng có thể chết đi. Tôi thích cách Trần Anh Hùng để Toru ngồi trên đỉnh một ngọn núi tuyết giữa một không gian núi đá trắng xóa và gào lên đầy đau khổ. Đó là một cách giải thoát cho Toru. Và có lẽ cũng là giải thoát cho người xem và người đọc của Murakami.

Dù nỗi buồn thấm đẫm trong từng lời văn của Murakami và cá nhân tôi thì càng đọc càng cảm nhận được nỗi buồn ấy một cách rõ nét hơn, các nhân vật của Rừng Na Uy cũng vẫn có một điểm tựa để bám vào cuộc sống, đó là tình yêu, tình bạn, hay là tình cảm nói chung giữa con người với nhau. Đó là điểm mà tôi thích ở các tác phẩm của Murakami. Dịch giả Trịnh Lữ cũng chia sẻ rằng sau khi đọc xong Rừng Na Uy thì cảm thấy muốn nói với những người thân yêu của mình như những gì mà các nhân vật của Rừng Na Uy đã nói với nhau. Còn Trần Anh Hùng thì nói với khán giả Việt Nam là sau khi xem phim xong thì nên nói chuyện với người mình yêu chứ đừng nói chuyện với đạo diễn nữa.

Một người bạn có lần hỏi, các nhân vật của Murakami về một phương diện nào đó đều vô dụng và yếu đuối, nhưng tại sao HA vẫn yêu? Đến giờ tôi vẫn chưa bao giờ trả lời được một cách trọn vẹn câu hỏi ấy cả. Có thể vì bản thân tôi về một phương diện nào đó cũng rất vô dụng và yếu đuối 😀.

Columbus, một ngày mà nỗi buồn lại một lần nữa chạm được tới tôi.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Kinh tế học hài hước (Freakonomics)

Freakonomics, được NXB Tri Thức dịch ra tiếng Việt và xuất bản với cái tên Kinh tế học hài hước, thực ra cũng không hài hước cho lắm. Nó là một góc nhìn thế giới với một tư duy kinh tế học và bám vào những con số thống kê, do vậy, có thể cũng là một quyển sách đọc được đối với người đọc phổ thông ở Việt Nam. Ít ra, nó cũng thú vị ở chỗ thường xuyên đưa ra những bảng dữ liệu thống kê giữa các trang sách, dù chưa xác minh được độ chính xác và độ tin cậy, cũng mang lại một cách tư duy ổn hơn trước hàng loạt những “conventional wisdom“, được dịch là “nhận thức thông thường”, thường được nuôi dưỡng bởi những niềm tin mù quáng và những nỗi sợ vô lý trong xã hội.

Đọc Freakonomics của Steven LevittStephen Dubner cũng giống như đọc Lexus… hay Thế giới phẳng của Thomas Friedman ở chỗ, nó giống như một tập san đặc biệt của tờ The New York Times (chắc là vì tác giả/đồng tác giả đều là nhà báo của NYT). Do đó, nó sẽ cung cấp cho người đọc những câu chuyện cuộc sống thú vị, nêu ra một số câu hỏi và dẫn người đọc đi đến câu trả lời ít nhiều đều làm thỏa mãn trí tò mò, đặc biệt là của những độc giả không sống trên đất Mỹ. Ví dụ, việc gian lận và phát hiện gian lận trong kiểm tra trắc nghiệm ở các trường mid-schools, những người môi giới bất động sản, chuyện một người đàn ông đi bán bánh vòng bằng sự tự giác trả tiền của người mua, băng đảng Ku Klus Klan, thế giới của những kẻ buôn ma túy, phân tích tình hình tội phạm, vấn đề cho phép/không cho phép nạo phá thai hợp pháp và những nỗi lo sợ rất bản năng của con người. Trong đó, ấn tượng nhất có thể nhắc đến là câu chuyện của anh chàng nghiên cứu sinh Venkatesh mang bộ câu hỏi đi điều tra nhóm buôn bán ma túy ở một khu ổ chuột ở Michigan để “chợt nhận ra rằng hầu hết tất cả mọi người, trong đó có cả anh, chưa từng bao giờ suy nghĩ nhiều về cuộc sống hàng ngày của những tên tội phạm ở các khu người da màu“. Kết quả là, Venkatesh đề nghị thủ lĩnh của băng đảng cho anh ta gia nhập nhóm, rồi dành 6 năm sống cùng họ, “chuyển từ gia đình này tới gia đình khác, rửa chén bát sau bữa tối và ngủ dưới sàn nhà.

Điểm tớ không thích ở Freakonomics là quyển sách nêu lên nhiều câu hỏi/giả thuyết có thể xem là thú vị, nhưng bản thân cuốn sách lại không trả lời/diễn giải được một cách trọn vẹn và thực sự thuyết phục, đặc biệt là những trường hợp liên quan đến động cơ của con người sau mỗi hành động. Nếu phải so sánh thì quyển The undercovered economist viết sắc sảo hơn, dí dỏm hơn, dễ hiểu hơn và có hệ thống hơn.

Dù sao thì,

[t]ất cả những gì cuốn sách hướng đến là một cách nhìn, cách nhận thức và đánh giá mới lạ. Không nhất thiết phải là một công việc khó khăn, hay cần có lối suy nghĩ quá tinh tế. …Bạn có thể trở nên hoài nghi hơn về lối suy nghĩ thông thường; bạn có thể bắt đầu tìm hiểu những dấu hiệu ẩn giấu về những thứ thực chất không giống với vẻ bề ngoài của nó; có lẽ bạn sẽ tìm ra một vài điều từ những dữ liệu và phân tích về chúng, cân bằng giữa tư duy trực giác của bạn để có được những ý tưởng mới.

Tóm lại, vào một ngày không quá bận rộn, người ta có thể dành thời gian để đọc quyển sách này giống như việc theo dõi một thiên phóng sự về thế giới bên ngoài kia, bên ngoài Việt Nam.

Lưu ý: Bài review viết năm 2008.

Xem thêm một book review ở đây.

1 Comment

Filed under Kinh tế

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời

Sau khi “giam mình” 3 tuần ở nhiều-nơi-xa-nhà, tôi trở về với những trải nghiệm mới, những tư duy mới và những xáo trộn mới. Những trang viết tự bạch về chuyện đời mình của Garcia Marquez làm tôi nhớ ra cuộc sống còn có cả chất thơ nữa. Dường như đã có lúc tôi quên đi điều đó. Tôi chỉ làm việc, tìm hiểu và đọc sách khoa học. Vậy nên tôi đã nghĩ, về Hà Nội mình phải đi mua một quyển sách văn học để đọc. Với những cảm xúc có được từ Rừng Na Uy vẫn còn vương vất, tôi đã quyết định tiếp tục với Haruki Murakami. Lần này thì là Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời.

Một trăm trang đầu tôi đọc thật vất vả, vì nó là quãng đời gần bốn mươi năm sống nhàn nhạt của nhân vật chính. Và Murakami kiên nhẫn viết một cách nhàn nhạt như thế. Tôi cảm thấy mệt mỏi với những trang viết ấy, có lẽ giống như những gì Hajime cảm thấy với quãng đời đó của mình. Hình như nhờ thế, người đọc hiểu được nhân vật hơn, hiểu bằng trải nghiệm.

Khi Hajime gặp lại Shimamoto-san thì cũng là lúc tôi nhận ra một Murakami mà mình đã đọc. Tôi bắt đầu gấp sách liên tục. (Đây là thói quen của tôi khi đọc sách, để đánh dấu những đoạn hay.)

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời không mang nhiều màu sắc trẻ trung như Rừng Na Uy, nhưng vẫn đậm chất Murakami, tức là nhạc jazz, là cocktail, là mưa, là cái tôi trong sâu thẳm mỗi con người.

“Nhóm tam tấu vừa chơi xong một bản blues độc đáo, và đàn piano bắt đầu chơi đoạn dạo đầu bản “Star-Crossed Lovers”. Khi tôi có ở quán, người chơi dương cầm thường chơi bản ballad mà tôi rất thích này. Đó không phải là một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của Ellington, và không có kỷ niệm riêng tư nào của tôi đặc biệt gắn kết với nó nhưng, kể từ lần đầu tiên nghe, lúc nào nó cũng làm tôi bị mê hoặc. Khi tôi còn là sinh viên, hay ngay cả sau đó khi đã làm nghề biên tập sách giáo khoa, tối đến, tôi lại đặt đĩa nhạc Such Sweet Thunder của Duke Ellington vào máy và nghe đi nghe lại bản nhạc và bài solo lừng danh của Johnny Hodges, một sự kết hợp tinh tế và khéo léo kỹ thuật. Khi nghe giai điệu đẹp và nhẹ nhàng của nó, tôi luôn nhớ đến giai đoạn đó của đời mình. Không thể nói rằng khi đó tôi hạnh phúc. Thế nhưng, ký ức về thời ấy lại làm tôi thấy ngập tràn tiếc nuối. Tôi trẻ hơn, đói khát hơn, cô độc hơn hiện nay. Nhưng tôi thật sự là mình. Thời đó tận sâu trong tim tôi cảm nhận được từng nốt nhạc mà tôi nghe, từng dòng chữ trong sách mà tôi đọc, như thể chúng đi vào thật sâu trong tôi. Những sợi dây thần kinh của tôi chĩa lên tua tủa như những đầu đinh, mắt tôi tràn ngập một thứ ánh sáng xuyên suốt qua những người trò chuyện với tôi. Và từ đó, mỗi lần nghe bản “Star-Crossed Lovers”, tôi lại nhớ đến cái ánh mắt mà tôi có vào thời đó, như thể đang nhìn hình phản chiếu của mình trong gương.”

Phía Nam biên giới có gì? Phía Tây mặt trời có gì? Trong một cuộc đối thoại ở gần cuối cuốn sách có giải thích về các phrases này, nhưng câu trả lời dành cho mỗi người đọc. Cũng giống như Rừng Na Uy, nhân vật chính trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời cũng phải đi đến tận cùng của cái tôi trong sâu thẳm của chính bản thân mình, bằng tình yêu, tình dục, những mối quan hệ, những thực tại xã hội, sự trống rỗng và sự đau khổ; để cuối cùng rũ bỏ được tất cả những dằn vặt, những gì thuộc về quá khứ, để đi tiếp vào tương lai.

Một câu chuyện khác, một nhân vật khác với tính cách khác, cuộc sống khác, và trong một khung cảnh cũng rất khác nhưng Murakami tiếp tục đào sâu vào mảnh đất của nội tâm con người. Bằng cách đó, người đọc cảm nhận được, dễ dàng hơn, những giá trị mà triết học vẫn luôn cố truyền tải. Và lần này, tôi cảm nhận ngôn ngữ của Murakami (mặc dù chỉ là bản dịch) có phần mềm mại hơn, lãng mạn hơn.

Khi anh nhìn em, đôi khi anh có cảm giác đang ngắm nhìn một ngôi sao rất xa. Một ngôi sao rất sáng, nhưng ánh sáng thực ra đến từ cách đây hàng nghìn năm ánh sáng. Có thể là anh đang ngắm nhìn một thiên thể đã không còn tồn tại vào lúc này nữa, nhưng trong mắt anh nó thực hơn bất kỳ điều gì khác.

Không có những phá cách, những nhân vật gai góc và mạnh mẽ, nhưng Murakami vẫn khắc họa được một cuộc sống có chiều sâu, cuộc sống mà đa số chúng ta không có cơ hội để được nhìn thấy ở người khác (chúng ta chỉ được thấy cuộc-sống-xã-hội của những người khác thông qua những gì họ thể hiện và chia sẻ). Trong cuộc sống xã hội, tức là bề nổi, người ta thường ít biết thông cảm với nhau, vì không hiểu được những gì đằng sau nó.

Nhưng trong cuộc sống xã hội của Hajime, tôi không thể vì cái nội tâm của anh ta mà thông cảm được với những tổn thương mà anh ta gây ra cho những người khác (mặc dù trường hợp của Izumi cũng hơi cường điệu quá.) Dù sao thì, Murakami cũng đã rất khéo léo để Yukiko đóng một vai phụ hợp lý để giải quyết cái nỗi bực tức của tôi. Và bản thân Hajime cũng đã xử sự, trước tội lỗi của mình, không phải quá tồi tệ. Biết đâu, những gì Hajime phạm phải là một thực tế ở đâu đó giữa vô vàn điều trong cuộc sống này mà tôi chưa thực sự hiểu. Nhưng phải khẳng định một điều, đó là một thực tế mà tôi từ chối chấp nhận.

Một cuốn truyện đọc được dành cho những ai thích Murakami. Mặc dù vẫn thích Rừng Na Uy hơn, nhưng phải nói rằng, đọc xong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, tôi biết rằng mình sẽ còn tiếp tục tìm đọc Murakami (cũng giống như với Jack London và Mark Twain ngày trước.) Chỉ tiếc, tôi không nghe nhạc jazz nên có lẽ đã không cảm nhận được hết sự thi vị của tác phẩm.

“Pretend you’re happy when you’re blue

It isn’t very hard to do…”

(“Pretend” – Nat King Cole)

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Lại viết về “Rừng Na Uy”

Trong khi trên giá vẫn còn những quyển sách đã mua mà chưa đọc, hoặc đã đọc mà chưa xong, thì thi thoảng tôi vẫn thấy mình lật giở đọc lại một đoạn trong “Rừng Na Uy”, nhất là khi tôi cảm thấy lúng túng với chính mình và bối rối trước cuộc đời. Cũng có những quyển sách tôi đọc vài ba lần, nhưng trên thực tế, tôi cũng không có đủ thời gian để đọc-lại những gì mình thích. Không-có-thời-gian bao giờ cũng là một lý do tốt để biện hộ. Thực ra thì không phải là không có đủ thời gian, mà là thích-không-đủ!

Cũng giống như nhiều quyển sách khác, nhất là những quyển sách được nhiều người đọc (vì nhiều lý do khác nhau), thì cảm nhận về cùng ngần ấy câu chữ là vô cùng đa dạng. (Ở đây không bàn đến yếu tố ngôn ngữ – tức là bản mà bạn đọc là bản gốc hay bản dịch ra thứ tiếng nào, và trình độ ngôn ngữ của bạn đến đâu.) Vì thế, lần này tôi lại viết tiếp về Rừng Na Uy, với những cảm nhận đi sâu hơn vào cái thế giới mà Murakami đã dựng nên. Hay đúng hơn, là viết về những gì mà cuốn sách (và một số review) đã gợi lên, và buộc tôi phải suy nghĩ.

Rừng Na Uy viết nhiều về cái chết. “Ba người chết, ba người vẫn sống, nhưng tôi không biết cụ thể ai sẽ sống còn ai sẽ chết.” (Murakami, trong một bài trả lời phỏng vấn). Cái chết được đặt cạnh sự sống, để người ta hiểu cái chết hơn; cũng như sự sống được đặt cạnh cái chết, để người ta hiểu sự sống hơn. Nhiều bạn đọc coi cái chết là một sự ảm đạm, bởi vì tự kết liễu đời mình thường được liên hệ đến “cô đơn”, “bế tắc” và “tuyệt vọng”. Nhưng sống và chết làm sao tách rời ra được! Những năm 1990s, tôi tuyên bố với chính mình “Không việc gì phải chết cả, dù cho có rơi vào hoàn cảnh bi đát đến đâu!” Cũng rùng mình khi nhớ đến những mảnh đời bị cuộc sống dồn vào chân tường mà tôi đã đọc được trên rất nhiều trang báo. Năm 22 tuổi, tôi lại xác định: “Chết lúc nào cũng được!” Vì khi thế giới quan được mở ra, tôi tự thấu hiểu được ý nghĩa của những ngày đang sống. Tôi đang sống chứ không chỉ đang tồn tại, vậy là ổn.

Ngày trước nghe U2 hát “I’m not afraid to die. I’m not afraid to live…”, tôi đã thấy hay. Nay đọc Rừng Na Uy, tôi thấy phải.

Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống, mà là một phần của cuộc sống.

Nói ra như vậy nghe thật sáo mòn, nhưng đã có thời tôi cảm thấy cái hình hài ấy không phải bằng lời mà như một cục khí vón lại ở trong tôi. Cái chết là có thực – trong một cục chặn giấy, trong bốn trái bóng đỏ và trắng trên mặt bàn bi-a – và chúng ta tiếp tục sống và hít thở nó vào phổi như những làn bụi mịn.

Trước đó, tôi đã hiểu cái chết như một cái gì hoàn toàn tách biệt và độc lập với sự sống. Bàn tay của sự chết nhất định sẽ túm lấy chúng ta, tôi cảm thấy thế, nhưng cho tới ngày nó tìm đến ta, nó vẫn để ta được yên thân. Điều đó dường như là một chân lý đơn giản và hợp logic đối với tôi. Sự sống ở đây, sự chết thì ở kia. Tôi đang còn ở đây, chưa phải ở đó.

Tuy nhiên, đêm hôm Kizuki chết, tôi đã mất khả năng nhìn nhận sự chết (và sự sống) một cách giản dị như vậy. Chết không phải là đối nghịch của sống. Nó đã đang ở đây rồi, ngay bên trong tôi, nó đã luôn luôn ở đây, và không có gì có thể cho phép tôi quên được điều đó. Khi nó lấy đi Kizuki mới mười bảy tuổi đầu trong cái đêm tháng Năm ấy, sự chết đã túm được cả tôi.

Tôi sống qua mùa xuân sau đó, ở tuổi mười tám, với cục khí vón trong ngực mình, nhưng không lúc nào ngưng tranh đấu chống lại sự hồi sinh của thái độ coi trọng mọi sự ở đời. Coi trọng sự đời không phải là cách tiếp cận chân lý, tôi cảm thấy như vậy, cho dù vẫn mơ hồ. Nhưng sự chết là một thực tế, một thực tế nghiêm cẩn, dù ta có nhìn nhận nó kiểu gì đi nữa. Mắc kẹt trong mối mâu thuẫn nghẹt thở ấy, tôi luẩn quẩn trong một vòng tròn vô tận. Bây giờ nhìn lại, những ngày ấy thật lạ lùng. Ở đoạn giữa của cuộc đời, mọi thứ đều xoay quanh sự chết.

Trên bìa sau của cuốn sách có viết thế này, mà tôi chẳng thích tí nào cả:

“Trong nỗi ưu tư và cô đơn như một định mệnh đã cài đặt nơi những người mới lớn, trong sự tuyệt vọng của những tâm hồn trong sáng sẵn sàng hy sinh thân mình để khỏi thỏa hiệp với cuộc sống thế gian.”

Đọc thấy toát lên một sự yếu đuối ẩn dưới một danh từ mĩ miều có tên là sự-cô-đơn. Mà đó thì không phải là những gì tôi cảm thấy khi đọc truyện!

Tôi thích những chia sẻ sau của bác Trịnh Lữ hơn, vì nó thể hiện một sự rung động và đồng cảm chân thực thay vì một sự chắp nối đơn thuần của những từ ngữ bóng bẩy!!! (What if the above writing was also by Trinh Lu ?!?! – My goodness!!!)

Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng Na Uy tôi thấm thía được một chân lý giản đơn, rằng “sự chết không phải là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự sống”. Sống, tức là nuôi dưỡng. Chết. Sự chết không phải là chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được chính sự sống nuôi dưỡng. Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong trắng và dũng cảm trong Rừng Na Uy mới tự kết liễu cuộc đời mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng. (Lời người dịch)

Người ta bảo, những người chết đi vào quá khứ, những người sống đi vào tương lai. Tôi thì thấy rằng, những người chết tiếp tục sống trong một thứ mơ hồ được gọi là ký ức, ký ức của những người còn sống. Thời gian mà họ từng sống đã góp phần hình thành nên hiện tại của những người đang sống. Bằng cách đó, họ ở lại thế giới này.

Toru Watanabe không phải, và thực tế cũng đã không lựa chọn giữa quá khứ và tương lai, hoặc cô gái này hay cô gái kia. Quá khứ tạo nên hiện tại và tương lai. Khi quá khứ đã làm tròn bổn phận của nó, quá khứ sẽ dừng lại. Khi con người đã sống đủ, con người sẽ chết đi. (Điều đó càng dễ dàng hơn trong các cuốn tiểu thuyết!)

Tôi gật đầu. “Và tôi sẽ viết thư cho chị.”

“Tôi rất thích những bức thư của cậu. Naoko đã đốt hết cả. Những bức thư hay đến thế!”

“Thư chỉ là giấy thôi mà chị,” tôi nói. “Cứ đốt chúng đi, và những gì còn lại trong lòng mình thì vẫn còn mãi; mà có giữ chúng thì những gì sẽ phai nhạt rồi cũng sẽ cứ nhạt phai.”

“Cậu biết không, Watanabe, sự thật là tôi thấy sợ phải đi Asahikawa một mình như thế này. Nên cậu nhớ viết cho tôi nhé. Hễ được đọc thư cậu, tôi sẽ thấy như cậu đang ở ngay cạnh mình.”

“Nếu chị muốn thế, tôi sẽ viết cho chị suốt. Nhưng chị đừng lo. Tôi biết chứ, đi đâu thì chị cũng ổn thôi mà.”

“Còn một việc nữa. Tôi cứ cảm thấy có cái gì vẫn còn mắc kẹt ở trong mình. Có phải đó chỉ là tưởng tượng không?”

“Là ký ức còn lại thôi mà,” tôi nói và mỉm cười. Reiko cũng mỉm cười theo.

“Đừng quên tôi,” chị nói.

“Tôi sẽ không quên chị,” tôi nói. “Không bao giờ.”

“Chúng ta có thể sẽ không bao giờ gặp lại, nhưng dù có đi đâu về đâu, tôi cũng sẽ không bao giờ quên cậu và Naoko.”

“Đừng quên!” – đấy là lời nhắn nhủ mà các nhân vật nói với nhau. Vì họ chỉ biết bấu víu vào những tình cảm trong sáng, chân thành mà họ có với nhau. Những cái đó là thật nhất và đáng trân trọng nhất trong cuộc sống này. Đọng lại trong các ký ức, quan hệ giữa con người với con người không còn phụ thuộc vào thời gian: chúng tồn tại trong cả quá khứ, hiện tại, và tương lai.

Vậy mà ký ức của tôi đã ngày càng mờ nhạt đi, và tôi đã quên nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi thường có những cơn sợ đến thắt lòng. Nếu tôi đã quên mất điều gì quan trọng nhất thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi có một bến lú tăm tối nơi tất cả những ký ức thực sự quan trọng bị chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?

Tôi cũng đã biết vì sao nàng xin tôi đừng quên nàng. Bản thân Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết rằng ký ức của tôi về nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng xin tôi đừng bao giờ quên nàng, hãy nhớ rằng nàng đã từng tồn tại.

Đọc Rừng Na Uy cũng là để nhớ rằng, mình đang tồn tại, “vì bạn đang sống, vì tình yêu là có thực”.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết