Monthly Archives: July 2015

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P3)

Yêu

Khác với hai câu chuyện về ăn và cầu nguyện, câu chuyện tình yêu của Liz thực ra nằm xuyên suốt trong toàn bộ cuốn sách. Câu chuyện ấy không chỉ là câu chuyện tìm thấy một tình yêu mới ở cuối cuộc hành trình mà, có lẽ còn quan trọng hơn, là câu chuyện đi qua những đau khổ của một cuộc hôn nhân tan vỡ và của cả một mối tình điên cuồng chóng vánh sau đó. Ví dụ, phần đầu của cuốn sách Liz đã viết khá nhiều về cuộc hôn nhân đổ vỡ và vụ ly dị kinh hoàng mà chị phải trải qua, mà tôi đã viết ở phần Trầm cảm trước khi ăn ở post trước. Từ những kinh nghiệm đó, Liz đã tự nhìn nhận lại bản thân mình như sau:

Hơn nữa, tôi có vấn đề về ranh giới với đàn ông. Hay có lẽ nói vậy không hợp lý. Để có vấn đề về ranh giới, đầu tiên người ta phải ranh giới, đúng không? Nhưng tôi tan biến vào người tôi yêu. Tôi là một màng thấm. Nếu tôi yêu anh, anh có thể có tất cả. …tất cả mọi thứ. Nếu tôi yêu anh, tôi sẽ mang giùm anh tất cả đớn đau của anh, tôi sẽ gánh tất cả nợ nần giùm anh (trong mọi nghĩa của từ này), tôi sẽ che chở anh khỏi bất an của chính anh, tôi sẽ phóng chiếu lên anh tất cả những phẩm chất tốt đẹp anh chưa từng thực sự vun trồng trong anh và tôi sẽ mua quà Giáng Sinh cho cả gia đình anh. Tôi sẽ cho anh cả nắng và mưa, và nếu không được, tôi sẽ xin khất lại lần sau. Tôi sẽ cho anh tất cả những thứ này và còn nhiều nữa, cho đến khi tôi trở nên kiệt sức và suy yếu đến nỗi cách duy nhất để nạp lại năng lượng là mê đắm một người khác.

Tôi không nói những thực tế về bản thân này với niềm tự hào, nhưng luôn là vậy đấy.

Sang đến phần hai của cuốn sách, Liz hiển nhiên lại phải viết về những mối quan hệ đổ vỡ của cuộc đời chị vì xét cho cùng đó là nguyên nhân chính đã khiến cuộc sống của chị trở nên tồi tệ, là vấn đề chính mà công việc thiền tập và cầu nguyện của chị đang hướng tới để giải quyết. Dĩ nhiên, ẩn dưới những vấn đề bề nổi ấy là những vấn đề sâu hơn về bản thể, về sự kết nối và mất kết nối với nội tâm của chính mình.

Nhưng thiền tập và cầu nguyện không phải là điều duy nhất giúp Liz hàn gắn lại được tâm hồn tan vỡ của mình. Một người bạn chị gặp ở Ashram tu thiền của chị ở Ấn Độ đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp chị dần dần tháo gỡ và cởi bỏ những gì còn đang rối loạn và không rõ ràng ở trong lòng chị. Người bạn ấy chính là Richard đến từ Texas. Đó có lẽ là người quan trọng nhất trong số những người mà Liz gặp. Anh mang đến cho Liz những cách nhìn mới về những chuyện đã qua của chị cũng như về chính bản thân chị. Thật ra thì những gì mà anh nhận xét cũng không hẳn là đúng, nhưng thôi ít nhất chúng cũng làm cho Liz phải bứt ra khỏi những suy nghĩ lối mòn đã dẫn chị tới bế tắc.

“…Nên nhả nó ra đi.”

“Nhưng tôi yêu anh ta.”

“Vậy yêu anh ta đi.”

“Nhưng tôi nhớ anh ta.”

“Vậy nhớ anh ta đi. Gửi đến anh ta ít tình yêu và ánh sáng mỗi khi cô nghĩ về anh ta, và rồi quên nó đi. Cô chỉ ngại buông những mẩu David cuối cùng ra vì rồi cô sẽ thật sự cô đơn, và Liz Gilbert sợ muốn chết chuyện sẽ xảy ra nếu cô thực sự cô đơn.”

Rồi tôi hỏi Richard, “Vậy bao lâu thì tất cả những buồn đau này mới qua đi?”

“Cô muốn một ngày cụ thể à?”

“Đúng vậy.”

“Thứ gì đó để cô khoanh tròn trong lịch sao?”

“Đúng.”

“Để tôi nói với cô điều này, Hàng Tạp Hóa – cô có một số vấn đề nghiêm trọng về kiểm soát.”

Nhiều khi tôi cảm thấy Liz như cố ép mình phải thoát ra khỏi những khổ đau mà chị phải chịu đựng. Một mặt nào đó, điều này là hiển nhiên vì chẳng ai lại thích sống trong đau khổ cả. Nhưng mặt khác, tôi vẫn luôn nghĩ rằng thời gian có những giá trị nhất định của nó mà không gì thay thế được. Dục tốc thì bất đạt. Richard đến từ Texas cũng nghĩ như tôi.

“Và tệ nhất là, tôi không thể thôi ám ảnh về David. Tôi tưởng mọi chuyện đã xong xuôi rồi, nhưng giờ tất cả lại trỗi dậy.”

Anh nói, “Cho nó thêm sáu tháng nữa, cô sẽ cảm thấy khá hơn.”

“Nhưng tôi đã cho nó mười hai tháng rồi, Richard.”

“Vậy thì thêm sáu tháng nữa. Cứ quẳng cho nó thêm sáu tháng nữa cho đến khi nó cút ra chỗ khác. Mấy chuyện như vậy cần có thời gian.”

Dù sao thì cuối cuộc hành trình Liz đã có được tình yêu lý tưởng ở Bali (đến thời điểm này thì họ đã kết hôn và vẫn sống với nhau). Tôi cũng chẳng biết là câu chuyện trên thực tế có lý tưởng như là Liz đã viết ra hay không, chỉ biết là với những câu chuyện lý tưởng như vậy thì tôi chẳng có gì để mà bình luận cả.

Một cái kết đẹp cho Liz nhưng lại làm cho không ít độc giả – và cả các nhà phê bình – phải đặt ra một câu hỏi là, nếu như Liz không may mắn mà có được một cái kết đẹp như vậy thì liệu những quá trình tìm lại bản thân mình trước đó có thực sự có ý nghĩa không? Dĩ nhiên là nó có những ý nghĩa nhất định, nhưng khi ấy tôi nghĩ cô ấy sẽ kết lại câu chuyện một năm phiêu lưu của mình không thể hấp dẫn như là câu chuyện thực tế mà cô đã trải qua, và khi ấy, chưa chắc đã ai thèm đoái hoài đến cuốn sách của cô :D. (Thật ra thì đọc về chuyện khủng hoảng tình cảm của Liz cũng hữu ích phần nào cho các độc giả, tôi cho là vậy)

Thôi, dù sao Liz cũng có được cái kết đẹp. Còn với những độc giả (nữ) đang hoang mang của Liz, tôi xin giới thiệu một bộ phim để các bạn được trải nghiệm một hành trình tương tự với một cái kết hơi khác: Under the Tuscan Sun.

Leave a comment

Filed under Du ký

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P1)

Ăn, Cầu nguyện, Yêu. Thiên Nga dịch từ bản tiếng Anh © 2006, Elizabeth Gilbert. Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty Nhã Nam, 2009.

Tôi thích đọc các cuốn hồi ký vì chúng dẫn tôi vào thế giới nội tâm “bí mật” của những người khác, nhưng tôi thường tránh xa các cuốn du ký đơn thuần vì tôi nghĩ trải nghiệm của mỗi người với cùng một chốn là rất khác nhau. Trải nghiệm của những người khác về một vùng đất mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới thì tôi lại càng không quan tâm. Thực ra các cuốn du ký đơn thuần cũng là một dạng hồi ký, vì xét cho cùng chúng cũng không phải chỉ nói về các vùng đất mà nói về các trải nghiệm khác, nhưng tôi vẫn hơi định kiến với dạng sách này. Một dạng định kiến cá nhân chứ không phải tôi có ý muốn nói rằng sách du ký là không đáng đọc.

Ăn, Cầu nguyện, Yêu là một cái tựa hay vì nó thu hút sự chú ý của người ta vào linh hồn của những câu chuyện chứ không phải là vào tính chất du hành của chuyến hành trình (vì đã gạt tên địa danh ra khỏi cái tựa, không phải như kiểu Anh chồng Stockholm, người tình Paris, và cậu bạn thân Bangkok, ngoài ra cũng không có những từ như con đường, hành trình, đi… – all of these words really turn me off). Có lẽ vì vậy mà tôi đã mua và đã đọc quyển này (là tôi đoán vậy chứ cũng không nhớ ấn tượng khi nhìn thấy nó lần đầu ở hiệu sách ra sao). Đọc nó lần đầu, tôi thích, nhưng không nghĩ đến chuyện sẽ đọc lại. Thế nhưng giữa những ngày hay nghĩ ngợi về chính bản thân mình, tôi đã đọc nó lần thứ hai.

Trầm cảm trước khi Ăn

Khi lần đầu tiên đọc quyển sách này, “trầm cảm” với tôi còn là một khái niệm xa lạ, có lẽ chỉ tương đương với “quá buồn”. Tôi đã quên hoàn toàn về chứng trầm cảm của Liz. Tôi chỉ nhớ đại khái là chị có một cuộc hôn nhân khiến chị thấy mệt mỏi và cũng mãi mới thoát được khỏi nó. Nhưng ngày ấy tôi không cảm nhận được nhiều lắm về việc tại sao người ta lại có thể trở nên mệt mỏi với một cuộc hôn nhân như thế, lại càng không hiểu tại sao ly dị lại có thể là một việc khó khăn. Đúng là có những cuốn sách khi ba mươi tuổi đọc sẽ thấy hiểu hơn khi hai mươi tuổi.

“Tôi cũng sẽ không thảo luận ở đây tất cả những lý do tại sao tôi vẫn đã rất muốn là vợ anh, hay tại sao tôi yêu anh, tại sao lại cưới anh và tại sao không thể hình dung nổi một cuộc sống thiếu anh. Tôi sẽ không thổ lộ bất kỳ điều gì hết. Hãy cứ biết là, vào đêm đó, anh ấy vẫn là ngọn hải đăng và cũng là con chim hải âu lớn của tôi. Điều duy nhất khó nghĩ hơn ra đi là ở lại; điều duy nhất bất khả hơn ở lại là ra đi. Tôi không muốn phá hoại bất kỳ điều gì hay bất kỳ ai. Tôi chỉ muốn lẳng lặng lẻn ra cửa sau, không làm ầm ĩ hay gây ra một hậu quả nào, và rồi chạy một mạch tới khi đến được Greenland.”

Tôi có nhớ chuyện chị đã khóc trong nhà tắm những năm về trước đó nhưng lại không mảy may nhớ gì về một phần nguyên nhân đã làm chị khóc – chuyện chị khi đã đến cái mốc ba mươi tuổi “thần thánh” và phát hiện ra là mình hoàn toàn không muốn có con. Không chỉ là không muốn mà là “khiếp đảm cực độ”, nguyên văn lời của chị đã được dịch lại.

“Chừng nào mình chưa thể cảm thấy sướng rơn [khi nghĩ] về chuyện có con như mình đã cảm thấy [khi nghĩ] về chuyến đi đến New Zealand tìm loài mực to [đùng] thì mình chưa thể có con được.”

(Những chỗ trong ngoặc vuông là tôi tự thêm vào hoặc sửa lại so với bản dịch gốc cho rõ nghĩa và chính xác hơn theo ý tôi. Các trích dẫn sau này cũng vậy.)

Nhưng khi Liz cơ bản kết thúc câu chuyện trầm cảm của mình trên những trang sách – trong khoảng 100 trang đầu – tôi cảm thấy tốc độ của câu chuyện là quá nhanh. Tôi bắt đầu cảm thấy những dòng chảy trên những trang viết như một dòng nước thiếu chiều sâu, mặc dù chính tôi khi bắt đầu đọc lại đã rất say sưa đi theo những gì chị viết. Bản thân Liz là một người say sưa sống – “tôi đã hăng hái tham gia vào mỗi phút giây tạo nên cuộc sống này” – một điều có thể truyền cảm hứng tới cho người khác. Nhưng mặt trái của nó, theo tôi, là những người như vậy khi đau khổ cũng sẽ rất “say sưa” – “Hãy hình dung anh ấy ngạc nhiên ra sao khi khám phá ra rằng người phụ nữ hạnh phúc nhất, tự tin nhất anh từng gặp đã thật sự – khi ta để cô ấy một mình – là một lỗ hổng âm u của sầu muộn thăm thẳm.

Trên thực tế, sau 100 trang đầu tôi đã gấp sách lại và nghĩ rằng có lẽ mình không cần phải đọc lại tiếp nữa. Nhưng rồi những ngày sau đó, tôi lại cảm thấy mình muốn đọc lại phần Cầu nguyện. Bởi vì thực ra câu chuyện trầm cảm của Liz mới chỉ tạm lắng xuống ở đoạn tôi đã dừng lại chứ toàn bộ cuộc hành trình này mới thực sự là cả một hành trình vượt qua trầm cảm của Liz. Có lẽ cảm giác không thích của tôi là do cách chị ấy viết – hay mô tả quá nhiều thứ lên – và một số độc giả khác có thể cũng không thích điều này. Nhưng trước khi nói về Cầu nguyện, tôi nói một chút về chuyện Ăn của Liz.

Ăn

Khi Liz tóm gọn lại câu chuyện về trải nghiệm của chị ở Ý bằng một từ “ăn” thì có vẻ như chị ấy muốn chọn câu chuyện về ẩm thực Ý để đại diện cho quá trình tự hàn gắn lại một cái tôi vừa trải qua nhiều tổn thương – nói theo tiếng Anh sẽ là putting herself together. Nhưng thật ra Liz đã “ăn” hai thứ: đồ ăn Ý và tiếng Ý – thứ ngôn ngữ mà theo chị là “đẹp hơn cả hoa hồng” – và quả thực chị đã chèn tiếng Ý vào khắp nơi khắp chốn.

Tôi nhận ra rằng tất cả những gì mình thật sự muốn là ăn những món ăn đẹp mắt và nói càng nhiều tiếng Ý đẹp đẽ càng tốt.

…Cuối cùng, khi đã hấp thụ đủ đầy vẻ xinh tươi của bữa ăn rồi, tôi đến ngồi trong một khoảng nắng trên sàn gỗ sạch sẽ của mình và bốc ăn hết sạch trong lúc đọc bài trên [một tờ nhật báo] tiếng Ý. Hạnh phúc đang ở trong từng phân tử của tôi.

Nhưng hai thứ ấy cũng chỉ là một phần trong cái đời sống văn hóa buông thả mà Liz đã hòa mình vào đó.

Tuy nhiên, nói chung, người Mỹ không có khả năng thả lỏng mình trong những thú vui thuần túy. Người Mỹ chúng tôi là một dân tộc mưu cầu giải trí, nhưng không hẳn là một dân tộc tìm kiếm thú vui. Người Mỹ chi bạc tỷ để mua vui bằng tất cả từ sách báo khiêu dâm đến công viên giải trí đến chiến tranh, nhưng điều đó không đúng hoàn toàn là thưởng thức sự yên tĩnh. Người Mỹ ngày càng làm nhiều giờ cật lực hơn, dài hơn và căng thẳng hơn bất kỳ ai trên thế giới ngày nay. Nhưng như Luca Spaghetti chỉ ra, dường như chúng tôi thích vậy. Người Mỹ thật sự không biết làm sao để không làm gì cả. …được nghỉ phép nhưng không thể thư giãn.

Một lần tôi hỏi Luca Spaghetti người Ý đi nghỉ có gặp vấn đề đó không. Anh cười dữ đến nỗi gần như đâm xe vào một đài phun nước.

“Ồ không!” anh nói. “Chúng tôi là những bậc thầy của bel far niente.”

Đây là một thành ngữ ngọt ngào. Bel far niente [nghĩa] là “cái đẹp của [việc] không làm gì cả”.

Dĩ nhiên, cái gì cũng có giá của nó. Với một nền văn hóa điên rồ như Ý thì đất nước cũng khá hỗn loạn. Ở cuối phần này Liz viết về điều đó. Và tôi cũng chỉ muốn bổ sung thêm là một số ít người Ý mà tôi biết chẳng có ai là không dramatic cả :D.

Nhìn chung về hành trình cá nhân thì tôi nghĩ tôi thích phần viết về trải nghiệm của Liz ở nước Ý nhất vì nó có đủ mọi thứ, từ trầm cảm cho đến hoang mang cho đến khám phá và cuối cùng là hàn gắn. (Có một ít chi tiết trong phần này liên quan nhiều hơn đến chữ Yêu mà Liz lấy làm tựa cho phần thứ ba, nên tôi sẽ đề cập ở phần đó sau.)

Cuộc sống của tôi đã tan thành từng mảnh và tôi không thể nhận ra chính mình nữa… Nhưng tôi đã cảm nhận một tia hạnh phúc lấp lánh khi bắt đầu học tiếng Ý, và khi cảm thấy niềm hạnh phúc tiềm tàng mong manh sau những giai đoạn âm u như thế, ta phải bám chặt lấy mắt cá chân của nó và không buông ra cho đến khi nó kéo ta ngẩng mặt lên khỏi cát bụi…

1 Comment

Filed under Du ký

1Q84

Tôi đọc ba cuốn 1Q84 (bản tiếng Việt) cũng khá cách quãng, tuy nhiên khi gần đây lật lại cả ba cuốn để chuẩn bị viết bài review này, tôi vẫn muốn bảo lưu cảm nhận của mình khi đọc xong bộ này, ấy là thất vọng. Nhưng tôi lại cảm thấy có nhiều điều đáng nói xung quanh sự thất vọng này.

Nhìn chung, tôi cho rằng đây là một thất bại của Murakami. Trước hết, hai nhân vật chính rất mờ nhạt. Không biết họ có phải là nguồn cảm hứng để sau này ông nghĩ ra cái nhãn “không màu” cho nhân vật chính của một cuốn sách khác của mình hay không nữa. Hai nhân vật chính ngoài chút tài năng ra tôi không thấy họ có gì đặc biệt đáng chú ý cả. Vậy hãy đọc chính Murakami viết gì về tài năng trong chính cuốn sách “không màu” của ông mà tôi cảm thấy như là khi đó ông đang review chính hai nhân vật trong 1Q84 của mình vậy:

“À, tài năng ấy à, nó đôi khi rất dễ chịu. …Nhưng cậu Haida này, tài năng chỉ phát huy vai trò khi được nâng đỡ bởi sự tập trung mạnh mẽ, dẻo dai của thể xác và ý thức mà thôi. Chỉ cần một con vít nằm đâu đó trong óc rơi ra, hoặc một mạch nối nào đó trong cơ thể đứt cái phựt, thì sức tập trung hoặc bất cứ thứ gì cũng sẽ tiêu biến như làn sương sớm. …Thể xác con người yếu đuối như vậy đấy. Nó là một hệ thống có cấu tạo phức tạp và tinh vi khủng khiếp, nên hỏng hóc là chuyện thường. Và trong phần lớn các trường hợp, một khi đã hỏng hóc thì khó lòng mà khôi phục được. Sâu răng hay mỏi vai có lẽ vẫn còn chữa được, chứ có nhiều thứ khác không chữa nổi đâu. Được xây dựng trên một nền móng bất trắc và thiếu tin cậy như thế thì thử hỏi tài năng có ý nghĩa đến mức độ nào?”

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương

Hình như đây là lần đầu Murakami đẩy nhân vật nữ chính lên một tầm mới, trở thành một nhân vật chính thực sự chứ không chỉ còn là một “phương tiện” để cho nhân vật nam chính thực hiện các chuyến hành trình tìm kiếm chính mình (nguyên văn ông dùng “medium” ở bài phỏng vấn siêu dài này). Nhưng cô nhân vật nữ chính này chẳng qua chỉ là một bản sao phiên bản nữ của nhân vật nam chính – tính cách khá tương đồng – chỉ thêm một ít gia vị để người đọc biết rằng đó là phụ nữ thôi. Tôi thì thấy nhạt nên không để ý lắm, nhưng một nhà phê bình đã phê phán việc Murakami đã xây dựng một nhân vật nữ chính quá ám ảnh về bộ ngực của mình như là để thể hiện sự nữ tính của nhân vật. Bài viết khá dài, moi móc ra từng đoạn Murakami đã mô tả sự ám ảnh ấy như thế nào, xem thêm ở đây.

Còn về tình yêu của hai nhân vật này, không rõ có ai thấy cảm động không mà tôi chả có cảm xúc tẹo nào hết trơn!? Hai cô cậu cô đơn cầm tay nhau năm mười tuổi để rồi chỉ vì vậy mà sau này sống chết cũng phải tìm nhau cho bằng được – tôi không cảm thấy thuyết phục lắm.

Về nhân vật nam chính, một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời cậu này là mối quan hệ với người cha, nhưng tôi cảm thấy Murakami như copy lại câu chuyện cha con của Paul Auster nên không có gì đáng nói cả, mà thực ra cũng không hay bằng câu chuyện của Auster. Ai chưa biết câu chuyện cha con của Auster có thể đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace của bác này (cuốn sau cũng là tiếng Việt).

Nhân vật phản diện Ushikawa thực ra cũng chỉ là một bản sao méo mó của hai nhân vật chính – y cũng có tài năng riêng, và cũng có ý chí sắt đá và lối sống kỷ luật, như rất nhiều nhân vật chính khác trong những cuốn sách khác của Murakami. Rất có thể đây là dụng ý của Murakami, nhưng tôi cho là việc mô tả một nhân vật phản diện có bề ngoài xấu xí đến dị thường và khó ưa là một lối xây dựng nhân vật rất chán. Khi đọc những phần về nhân vật này, tôi có cảm giác như Murakami dựa khá nhiều vào những hiểu biết của ông về những thành viên giáo phái Aum – được mô tả hay và kỹ hơn nhiều trong cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Ví dụ trong cuốn ấy, ông có viết những đoạn mà tìm đỏ mắt trong 1Q84 cũng không thấy có gì hay được bằng, chứ đừng nói là hay hơn những gì ông đã viết ra cách đây nhiều năm:

Nó [Aum] cho chúng ta thấy một hình ảnh của chính chúng ta bị bóp méo theo cách thức mà không ai trong chúng ta có thể lường tới trước. …trên thực tế, những lần chạm trán có thể đánh thức mạnh mẽ nỗi ác cảm hay ghê sợ thường lại là hình ảnh phóng chiếu của chính các lỗi lầm và nhược điểm của chúng ta. …trong sự tồn tại của họ, chắc chắn phải có gì đó cũng có trong chúng ta… Hay đúng hơn, “bọn chúng” là tấm gương phản chiếu của “chúng ta”!

Tương tự như Ushikawa, giáo phái trong 1Q84 hẳn cũng là một sự hư cấu của Aum. Aum trên thực tế được thành lập vào năm 1984. Tôi không thực sự hiểu câu chuyện về cái năm 1Q84 này và sự trốn thoát của hai nhân vật chính khỏi không gian này để trở về “không gian thực” (1984?). Có lẽ Murakami muốn ước rằng giáo phái ấy đã chỉ tồn tại trong một không gian ảo là 1Q84, để cho giáo chủ bị giết và hệ thống còn lại không có cách nào để tự tái tạo lại được? Dù sao thì câu chuyện quá dài và quá thiếu hấp dẫn nên chắc tôi không thể đọc lại để mà theo đuổi câu hỏi này được.

Nhìn chung, tôi thấy đây là một tác phẩm tham vọng của Murakami nhưng ông đã chưa phát triển được cho chín các ý tưởng của mình. Mà với một người kỷ luật như ông thì chắc là khi đến hẹn với các nhà xuất bản thì kiểu gì ông cũng phải kết thúc câu chuyện mà xuất bản nó ra – cái này tôi đoán mò thôi.

Dù sao thì cá nhân tôi là một người đọc Murakami cũng kha khá lại cảm thấy thú vị trước 1Q84 ở chỗ Murakami đã bò ra khỏi vùng an toàn (comfort zone) của ông để thử nghiệm, nên dù ông có thất bại tôi vẫn thích hơn là nhìn thấy ông cứ quanh quẩn với những câu chuyện và những nhân vật quen thuộc. Không biết liệu sau này ông có dám tiếp tục thử nghiệm nữa không, vì cuốn “không màu” ra sau bộ 1Q84 đã lại thấy ông rút về vùng an toàn rồi.

Một lần, tôi nói với một bạn độc giả của Murakami chưa đọc cuốn này là nếu muốn bạn ấy có thể bỏ qua vì cuốn này dài mà chán, nhưng giờ tôi lại nghĩ lại. Tôi nghĩ là đây là một phép thử rất hay với những độc giả thường xuyên của Murakami – những người đã quen với thành công của ông giờ sẽ nhìn nhận thất bại này của ông như thế nào? Họ sẽ muốn ông tiếp tục thử nghiệm và chấp nhận thất bại hay muốn ông quay về vùng an toàn? Hay là họ cũng chẳng quan tâm nữa vì như một số độc giả nói, họ đang falling out of love với ông rồi?

Tôi cũng tạm chia tay Murakami từ đây, không phải vì bộ 1Q84 này mà vì tôi đã hẹn hò ông này quá lâu rồi và giờ thì muốn dành thời gian đi hẹn hò những người khác. Tương lai có quay lại với Murakami hay không thì tôi phó mặc cho duyên số. 🙂

10 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Ngầm (Murakami)

Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng

Trần Đĩnh dịch từ bản tiếng Anh. Nhã Nam và NXB Văn hóa Sài Gòn phát hành năm 2009.

© 1997 Haruki Murakami

Cứ lần lữa mãi việc viết review cho cuốn này vì chẳng đọc được thêm cuốn nào trong số ít nhất hàng chục cuốn sách viết riêng về thảm kịch này, chưa kể những cuốn dành cho nó một phần hoặc một chương. Nhưng thôi kệ cứ review lần một, sau này có muốn review lần nữa thì tính sau. Phải review cuốn này vì còn muốn review 1Q84 (dù không thích cuốn đấy), mà review 1Q84 là sẽ muốn nhắc đến Ngầm một chút.

Giống như nhiều thảm kịch khác, vụ khủng bố bằng chất độc sarin trên một số tuyến tàu điện ngầm tại Tokyo năm 1995 được các báo lao vào đưa tin, phân tích, với các câu chuyện về nạn nhân và thủ phạm được đưa lên những trang nhất để mọi người có được một bức tranh càng nhiều chi tiết càng tốt về điều kinh hoàng vừa diễn ra. Ồn ào rồi cũng quên đi. Trừ các nhà nghiên cứu xã hội thì xắn tay vào nghiên cứu, viết sách, rồi những quyển sách đó sau này người Nhật có đọc không, thế giới có đọc không, thì tôi không rõ. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác chỉ được biết đến thảm kịch này nhờ cuốn Ngầm của Murakami. Tôi cũng không biết ở Việt Nam có còn dịch cuốn nào khác viết về thảm kịch này không (lại càng không dám nghĩ đến chuyện có người Việt đã viết sách về sự kiện này bằng tiếng Việt).

Ngầm là một cuốn sách đặc biệt, vừa có tính báo chí lại vừa không phải báo chí, vì Murakami dành không gian rộng hơn cho các câu chuyện cá nhân, và để cho các cá nhân mà ông phỏng vấn tự kể, ông chỉ là người ghi chép lại trên cơ sở cùng trò chuyện và đặt ra các câu hỏi gợi mở.

Ngầm cũng vừa như một nghiên cứu xã hội học lại vừa không phải. Về phương pháp tiếp cận, thực hiện phỏng vấn, tháo băng, ghi chép của Murakami cũng như việc ông mô tả tỉ mỉ trong cuốn sách mình đã thực hiện các công việc như thế nào thì hoàn toàn giống một nghiên cứu xã hội học định tính. Chỉ cái cách xử lý dữ liệu và lựa chọn định dạng đầu ra – tức là nội dung cuốn sách này – thì không phải là một nghiên cứu. Murakami là nhà văn, ông ít khi muốn áp đặt suy nghĩ, đánh giá của mình lên câu chuyện của nhân vật – dù có thật hay tưởng tượng – trong cuốn này thì ông cũng có bàn luận đôi chút, nhưng phần lớn cuốn sách là một tập hợp các câu chuyện cá nhân nhìn từ cả hai phía – nạn nhân và thủ phạm.

Đúng như mong muốn của Murakami, các câu chuyện của các nạn nhân hiện lên rất sống động và đọc xong có lẽ người đọc đều tự cảm nhận được một phần nào đó về cái mà ông gọi là “ruột gan của nước Nhật” lúc bấy giờ. (Nói cho chính xác hơn thì chỉ là tâm hồn của những thị dân Tokyo, chứ tôi không tin nước Nhật lại chỉ là một Tokyo phóng lớn.) Nhìn chung là rất nhiều câu chuyện hay về việc người Nhật đã giúp nhau như thế nào giữa lòng thảm kịch ấy, từ những nhân viên nhà ga, đến chính những người bị trúng độc đã xoay xở cứu giúp lẫn nhau, đến những bác sĩ ở một bệnh viện đã chủ động in một bản hướng dẫn xử lý nạn nhân trúng độc sarin và gửi đi cho khắp các bệnh viện lớn vì họ biết rằng không nhiều người có kinh nghiệm với việc này. (Phản ứng chậm chạp của ngành y tế lúc đó dĩ nhiên đã nhận chỉ trích.)

Trong các câu chuyện về các nạn nhân, tôi thấy xúc động nhất là câu chuyện của một cô gái mà đến khi Murakami đến gặp cô, hơn một năm sau thảm kịch, mới vừa thoát khỏi trạng thái thực vật, bắt đầu tập nói trở lại và phục hồi trí nhớ. Người anh trai cô đã gần nửa năm trời ngày nào cũng tới thăm cô sau giờ làm việc và trở về nhà chỉ ngay trước nửa đêm – ngày nào cũng vậy. Khi Murakami đến gặp cô ông cũng thấy rất bối rối không biết nên phải nói gì.

Tối hôm đến bệnh viện thăm, tôi đã muốn động viên cô bằng cách nào đó – nhưng bằng cách nào? Tôi nghĩ cái đó tùy thuộc vào tôi nhưng hoàn toàn không phải vậy; thậm chí không cần phải nghĩ đến việc động viên cô nữa. Cuối cùng chính cô lại là người khích lệ tôi

Trong quá trình viết quyển sách này, tôi đã đầu tư nhiều suy nghĩ nghiêm túc vào Câu hỏi Lớn: sống có nghĩa là gì? Nếu tôi ở vào địa vị Shizuko, liệu tôi có sức mạnh ý chí để sống tròn đầy như cô không? Liệu tôi có dũng cảm hay ngoan cường và quyết tâm như cô không? Tôi có thể nắm bàn tay một ai với hơi ấm và sức mạnh như thế không? Tình yêu của những người khác liệu có cứu được tôi không? Tôi không biết. Thật thà mà nói, tôi không chắc chắn lắm.

Về mặt kia của câu chuyện này là hàng ngàn câu hỏi tại sao xung quanh câu hỏi tại sao lớn nhất: tại sao thảm kịch này lại xảy ra? Trước hết, những câu chuyện của “bọn chúng”, tức là những thành viên của giáo phái Aum – chủ mưu của vụ khủng bố này, lại được kể lại qua ghi chép của Murakami về cuộc phỏng vấn của ông với họ. Từ những dữ liệu thô này, mỗi người đọc cũng có thể có những tự ngẫm riêng cho mình về sự hình thành và phát triển của một giáo phái cực đoan trong lòng một xã hội dường như đã có đủ mọi vật chất xa hoa mà lại có những khoảng trống mênh mông trong lòng nhiều con người vốn cũng rất bình thường như chính những nạn nhân của thảm kịch. Những lời cuối cùng của cuốn sách Murakami đã viết như sau:

…Nhưng chúng ta cần nhận thức rằng phần lớn những người gia nhập các giáo phái đều không phải là người dị thường, họ không có điểm gì thiệt thòi, họ không lệch lạc. Họ là những người sống cuộc đời thường thường bậc trung (và nhìn từ ngoài có khi còn hơn cả bậc trung nữa), những người đang sống gần quanh tôi. Và cả quanh bạn.

Có thể họ đã nghĩ về mọi chuyện hơi quá nghiêm túc một chút. Có lẽ trong nội tâm họ có nỗi đau nào đó họ cứ mãi mang theo. Họ không giỏi bày tỏ cảm xúc của mình cho người khác và có phần nào đó bất an. Họ không thể tìm ra cách thích hợp để tự diễn đạt bản thân, và cứ đắn đo qua lại giữa cảm giác kiêu hãnh và cảm giác mình thiếu năng lực. Tôi rất có thể là như thế. Và cả bạn nữa.

Còn nhiều trang viết khác trong cuốn sách này như đoạn trích ở trên – so với các cuốn tiểu thuyết của ông thì ở đây Murakami chia sẻ nhiều hơn về việc ông nghĩ gì về cuộc đời này. Trong các cuốn tiểu thuyết của mình, như các nhà văn khác, ông chỉ viết vài câu “triết lý” rất ngắn chen giữa câu chuyện của các nhân vật, rồi lại nhanh chóng đẩy người đọc trở lại thế giới tưởng tượng của mình.

Tôi rất muốn trích-chép thêm vài đoạn nữa để kết thúc bài review này, nhưng để mà chép cho thành một cái gì đó make sense một chút thì lại rất dài, nên thôi các bạn đọc sách (hoặc đọc lại) đi vậy.

Như đã nói từ đầu, tôi viết bài review này một phần là để “dọn đường” cho bài review tiếp về 1Q84, vì khi đọc quyển ấy tôi không thể không nghĩ tới Ngầm và giáo phái Aum. Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi nghĩ độc giả của Murakami nên đọc Ngầm trước khi đọc 1Q84. Tôi nghĩ là đọc theo trình tự ngược lại cũng rất thú vị, và hy vọng sẽ có bạn nào đọc theo trình tự ấy rồi viết review móc nối hai quyển cho tôi chống mắt lên đọc. Khi ấy tôi nhất định sẽ comment ;).

8 Comments

Filed under Phi hư cấu khác