Monthly Archives: February 2016

[Ghi chú] Các kiểu tuyển tập truyện ngắn các tác giả được giải Nobel văn học

Năm 1997, NXB Văn học ra cuốn Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không biết có phải là tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của nhiều tác giả được giải Nobel văn học ở Việt Nam hay không. Năm kế đó, tức 1998, NXB này ra tiếp quyển tuyển tập như thế nữa, gọi là tập II, giới thiệu các tác giả khác và/hoặc các tác phẩm khác.

“Để xây dựng tập sách này chúng tôi phải gom góp những truyện ngắn của các tác giả được giải Nobel đã được công bố trên nhiều báo, tạp chí, đã được in trong các sách phát hành trong nhiều năm. Điều kiện đó không cho phép chúng tôi gửi lời xin phép trước tới tất cả các dịch giả có tác phẩm in trong tập sách này. Chúng tôi thành thật cáo lỗi!”

Trích “Lời người tuyển chọn” trong ấn bản năm 1997.

Nhẽ ra nên có một lời đề nghị các dịch giả liên hệ với nhà xuất bản để nhận nhuận bút – tôi đã từng đọc những cuốn sách được in mà “không có điều kiện xin phép các dịch giả” với một lời nhắn như vậy. Từ đó tới nay, là gần chục năm, đã có hơn chục cuốn tuyển tập kiểu như vậy ra đời, nhiều truyện được in đi in lại trong nhiều cuốn khác nhau, chẳng biết các nhà xuất bản đã có điều kiện xin phép các dịch giả chưa.

Dưới đây tôi kê ra những cuốn mà tôi biết, kèm một vài ghi chú. Hơn nửa trong số đó là của NXB Văn học, còn lại thì là vài quyển của NXB Hội nhà văn và một bộ ba tập của NXB Công an nhân dân. Những cuốn mỏng nhất cũng hơn 300 trang, cuốn dày nhất trên 700 trang, hầu hết đều khổ 14,5 x 20,5 cm, cuốn thì bìa cứng cuốn thì bìa mềm.

Nhà xuất bản Văn học

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 1997.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập II, 1998.

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, 2004.

~ Cuốn này giới thiệu 37 truyện của 37 tác giả, nhưng có 2 “truyện” thực ra không phải truyện ngắn mà là trích đoạn của tiểu thuyết (“Tôi mù” trích từ Bệnh mù [Ensaio sobre a cegueira] của José Saramago và “Thế kỷ của tôi” thực ra là “Năm 1991” trong tiểu thuyết Thế kỷ của tôi [Mein Jahrhundert] của Günter Grass).

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel (thêm một số truyện mới), 2006. (Bìa cứng, 622 trang.)

~ Cuốn này cơ bản là tái bản của cuốn năm 2004 kể trên với thêm 5 truyện của 5 tác giả đã giới thiệu trong cuốn cũ (nghĩa là 37 tác giả, 42 truyện). Văn tiếng Việt của các truyện dịch trong cuốn này đọc khá xuôi. Chỉ buồn cười là nội có vài trang mục lục mà đã thấy vài lỗi: viết sai tên tác giả (mục lục sai thế nào thì trong sách sai y thế), không thống nhất giữa việc giữ nguyên tên tác giả (và nhân vật) hay viết theo phiên âm tiếng Việt, ghi thiếu tên dịch giả, thiếu dấu (phẩy hoặc gạch ngang gì đó) giữa tên tác giả và giải thưởng của ổng/bả, và truyện đầu tiên ghi nhầm năm tác giả được giải, 1903 thành 1930. Tóm lại với tôi thế là làm sách ẩu.

Đông Joăng thanh minh: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa cứng, 496 trang.)

~ “Đông Joăng thanh minh” chỉ là một truyện ngắn trong tuyển tập này, được đưa lên làm tít chắc là để câu khách. Cái bìa trông rất rẻ tiền. Và được làm cực ẩu. Mặc dù trên bìa ghi rất to hai chữ “Nobel prize” của The Nobel prize collected best short stories, kèm cả tiếng Việt, Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, nhưng bên trong có cả các tác giả không có giải Nobel (dù cũng được các giải khác). Dòng cuối cùng trên trang bìa – O’Henry, Pen, Malamud… – chắc là để ám chỉ “các giải khác” ấy. (Nhân tiện thì PEN/Malamud là một giải thưởng, nằm trong hệ thống giải PEN, chứ không có giải “Pen” hay giải “Malamud”.) Mục lục nhìn vào đã thấy tên vài nhà văn bị viết sai be bét, truyện không theo thời gian đã đành, truyện của cùng một tác giả cũng chẳng được quần tụ một chỗ. Tóm lại là cuốn này có cho cũng không thèm lấy.

Gái hai chồng: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, O’Henry, Sách quốc gia Mỹ…, 2008. (Bìa cứng, 476 trang.)

~ Tương tự quyển trên, “Gái hai chồng” cũng là một truyện ngắn được đưa lên làm tít câu khách, với cái hình minh họa khêu gợi chả liên quan qué gì đến nội dung truyện này cả. Thật kỳ lạ, NXB năm 2008 đó làm sao mà lại đi xuất bản những hai cuốn từa tựa nhau, số trang cũng same same nhau, cùng là bìa cứng, và cùng mang hai cái bìa vớ vẩn như nhau vậy.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Nhà xuất bản Văn học, 2012. (Bìa cứng, 358 trang.)

Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập 1 & 2, 2004. (Bìa cứng, 574 & 724 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa mềm, 460 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không rõ năm. (Bìa cứng, 556 trang.)

Nhà xuất bản Công an nhân dân

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 3 tập, 2007. (Bìa mềm, mỗi cuốn hơn 300 trang.)

~ Các cuốn còn lại chưa được nhìn sách giấy nên không bình luận gì ngoài việc các bìa hầu hết đều xấu cả. Nếu mục lục các cuốn đúng như trên một số trang web đưa thì tôi thấy có khá nhiều truyện đã được in đi in lại trong nhiều cuốn, như là kiểu xào xáo vậy.

Để kết lại bài này tôi nêu ra vài điểm mình mong muốn ở một cuốn sách dạng tuyển tập:

  1. Cần có một lời giới thiệu rõ ràng từ phía những người làm sách: tại sao chọn các tác giả này? tại sao chọn các tác phẩm này? Nhất là trong bối cảnh không còn là tuyển tập đầu tiên mang tính giới thiệu nữa, thì tuyển tập này đóng góp gì thêm vào “kho tàng” tuyển tập đã có, hay chỉ đơn giản là tiện thì tái bản lại? Tốt nhất cần nói rõ một hoặc một nhóm người lựa chọn các truyện đưa vào tuyển tập này là ai. Ít nhất cũng phải có cái tên cho người ta google xem có đáng tin cậy không, còn lịch sự thì phải giới thiệu vắn tắt luôn về những người ấy.
  2. Cần ghi rõ mỗi truyện được dịch từ ngôn ngữ nào sang, bản quyền của ai, bản quyền tiếng Việt của ai. Nếu được thì viết cả tên truyện nguyên gốc hoặc từ ngôn ngữ được dịch sang, để những độc giả quan tâm có thể tra cứu thêm, nếu muốn.
  3. Nếu truyện đã được dịch và đăng ở đâu đó trước khi được đăng vào tuyển tập này thì cần ghi rõ các nguồn đó.
  4. Viết tên tác giả cho đúng, ít ra cũng phải tôn trọng cái tên người ta một tí. Những tên nào viết theo tiếng của họ khó đọc với độc giả Việt thì thêm phiên âm cách đọc.
  5. Giới thiệu sơ lược về từng tác giả, nếu là tuyển tập của nhiều tác giả.

Một ví dụ về một cuốn tuyển tập được làm cẩn thận như thế là Great stories by Nobel prize winners do Leo Hamalian và Edmond Volpe biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1959, tái bản lần gần nhất năm 2012. (Có thể click vào “look inside” ở đường link đính kèm để nhìn qua các phần Acknowledgements, Preface, và vài dòng giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm ở đầu mỗi truyện.)

Nói chung là tôi thấy tiếc cho các bản dịch truyện tốt mà bị đem in tuyển tập lôm côm. Khi đọc bản in của NXB Văn học năm 2006 tôi cảm thấy các dịch giả đã dịch cẩn thận. Nhẽ ra các cuốn sách đã phải được làm cẩn thận hơn.

Đã đính chính lại thông tin về giải PEN/Malamud so với bản viết đầu.

2 Comments

Filed under Ghi chú

Đỏ

Với chỉ khoảng tầm 70 trang sách khổ 13 x 20.5 cm, Đỏ là một truyện mà đọc xong lần đầu tôi phải giật mình nhìn lại xem tác giả là ai, bởi vì truyện ấy viết lạ. Lạ giữa những cuốn sách cứ từa tựa nhau thế nào ấy của nhiều tác giả Việt trên thị trường sách nhiều năm nay, nhất là các tác giả trẻ. Hoặc như chính một câu viết của Nguyễn Dương Quỳnh trong truyện ấy: “Như nét cọ kỳ dị giữa một bức tranh tầm thường buồn tẻ, buộc người xem phải lùi xa ra ngắm lại để rồi phát hiện những điều khác lạ.

Đỏ giống như một vở kịch câm. Bởi nằm ở trung tâm truyện là những giao tiếp gần như không lời giữa nhân vật chính người Việt và hai bố con người Hoa ở sát phòng trọ. Bất đồng ngôn ngữ, dè dặt trong giao tiếp vì những lý do khác nhau, và cũng không có lý do gì để trở nên thân thiết, họ xô vào cuộc đời nhau cũng chỉ như hai người lạ quệt vào nhau trên phố đông người. Thật ra cũng có một cái gì nhiều hơn như thế, nhưng không gọi được tên.

Chẳng phải gặp gỡ gì, chẳng phải số mệnh an bài gì. Chỉ là tình cờ vướng víu ở đâu đó, như hoa cỏ may bám vào gấu quần thôi.

Như bước đi trên một con đường mùa xuân ấy.

Bước đi trên một con đường mùa xuân, thấy một cành cây xanh mướt sà xuống trước mặt. Chỉ muốn nhìn thật lâu ngắm thật kỹ, để đừng quên một sớm mai này, mình đã thấy một cành cây trên con đường mùa xuân.

Hạn chế giao tiếp bằng lời, thế mạnh của truyện là mô tả. Khung cảnh. Thời tiết. Nhiệt độ. Màu sắc. Mùi vị. Âm thanh. Quan sát và suy đoán của nhân vật tôi về những lời nói cô nghe được mà không hiểu gì, về những cử chỉ, hành động của những người cô nhìn thấy hay tiếp xúc. Thế nên tôi mới nói Đỏ giống như một vở kịch câm. Những âm thanh nhộn nhạo ở phố Tàu như chỉ làm nền cho những sự câm lặng.

Trên cái nền yên lặng bề mặt ấy, nhân vật anh bạn học cũ xuất hiện như một dòng nước đột ngột rẽ qua, như một làn gió đột nhiên thốc tới. Là một người hướng ngoại xuất hiện bên cạnh câu chuyện xoay quanh những người hướng nội rụt rè, ít nói, nhân vật này như tạo ra một luồng khí sinh động cho truyện. Anh chủ động bắt chuyện, chủ động nói chuyện, và chủ động kể chuyện. Nghĩ gì là nói đó, không ngần ngại.

Mối quan hệ quen biết mà không thân thiết giữa nhân vật tôi với người bạn học cũ như tạo thành một đường song song với mối dây lỏng lẻo tình cờ hình thành nên giữa cô và cặp cha con người Hoa. Hai đường song song ấy như soi vào nhau, phản chiếu lẫn nhau, và nhờ thế, nhân vật tôi đứng giữa hai dòng chảy cuộc đời có dịp được suy ngẫm về những liên hệ rất khó gọi tên giữa người với người. “Những âm thanh mà tai không nghe thấy”.

Đó là hình ảnh cuối cùng của người trọ cùng tôi. Khi ông quay đầu bước đi, tôi vẫn đứng lại bàng hoàng. Những mối dây quá ư lỏng lẻo nối tôi với người đàn ông này đã đứt tung từ khi ông ta bước sang cây cầu hôm ấy.

Và tự dưng lại có một linh cảm mơ hồ. Có thể, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa, dù chúng tôi ở trong cùng một thành phố, và chỉ cách nhau dăm trạm xe điện. Có thể, con đường của chúng tôi sẽ chẳng bao giờ cắt qua nhau nữa, và đâu đó trên đời, lại có một vì sao rơi xuống mà tôi chẳng hề hay.

Kết

Một người bạn hỏi tôi tại sao lại viết Đỏ. Chủ yếu là do sự rụt rè chăng? Ngôn từ như bị xé nát, những gì mình nói ra không phải những gì mình nghĩ, cứ biết là có gì ta phải nói cho nhau, thế mà không thể nói được. Lúc cần nói ngắn thì lại dài quá. Lúc cần phải giải thích vì không làm sao cho xuôi. Như có gì chắn giữa ta, một bức tường vô hình… Cứ như đang nói với nhau một thứ ngôn ngữ nào khác…  chỉ nghe thấy tiếng tha thiết nhưng bất lực không thể gần nhau.

Vì sao lại là màu đỏ?

Trang 17 là nơi màu đỏ xuất hiện lần đầu tiên:

Bước xuyên qua những cửa hàng của người Hoa, lúc nào cũng nồng nồng một mùi gì rất khó tả, và đỏ rực đến nhức mắt.

Màu đỏ ấy trước hết là tượng trưng cho khu phố người Hoa, là bối cảnh nơi câu chuyện chính diễn ra. Sau này tác giả cũng đôi lần nhắc lại. Sắc “đỏ rực đến nhức mắt” cũng khác đi một chút.

Trang 49:

Đến lúc về, tôi bàng hoàng nhận ra những chiếc đèn lồng đỏ trên con phố quen thuộc. Người ta rộn ràng quá. Ai nấy đều bận rộn trang hoàng vì lẽ gì tôi không nghĩ ra nổi. Đến khi một người đàn ông vác thang qua mặt tôi la lớn một câu tiếng Hoa may mà tôi biết, tôi mới nhận ra Tết âm lịch đã gần kề.

Trang 66:

Tôi rời khỏi con hẻm. Rời khỏi những bảng hiệu màu đỏ đã bị nước mưa quất cho bầm tím đi vì lạnh, tê tái trong mưa.

Trang 75:

Phố buổi sớm khô lạnh như bức tranh thủy mặc. Những vệt băng rôn đỏ ở đâu rũ xuống, chói lòa, cô độc.

Đặt trong tổng thể truyện, màu đỏ ấy như một cái chấm đỏ trên một nền xám, như một “nét cọ kỳ dị giữa một bức tranh tầm thường buồn tẻ”, như một câu chuyện bật lên giữa dòng đời không khi nào ngừng chảy. Không chỉ là màu của khu phố Tàu, đỏ còn là màu của chiếc ô giữa một nền mưa khi nhân vật tôi dừng chân bên tiệm bánh mì. Là con chuồn chuồn tết bằng chỉ đỏ trên tay đứa bé.

Đỏ là sắc màu chấm phá trên một bức tranh buồn trầm lặng.

Cần để ý rằng nhân vật tôi là một họa sĩ còn tác giả thì học chuyên ngành Product Design. Đỏ không chỉ giống một vở kịch câm, Đỏ còn giống như một bức tranh. Và như nhân vật tôi có tâm sự trong truyện: “Những bức tranh chân dung tôi ưa thích thường có màu nền rất tối. Gương mặt người sáng bừng trong bóng đêm, như ảo ảnh, như ta chỉ gặp nhau trong một khúc quanh ngắn ngủi, rồi tất cả đều biến mất.Đỏ chính là giống như một bức tranh kiểu như thế.

Ở một tầng cảm giác sâu hơn, đỏ còn là những cảm xúc thiết tha mà khó gọi tên được trước cuộc đời, mà đoạn viết sau như một khoảnh khắc người viết đã nắm bắt được chúng, cảm nhận được chúng theo cách riêng của mình – cách của một người viết văn. Đó là đoạn viết bừng cháy duy nhất trong truyện. Hư hư thực thực.

Tôi mở mắt, nước mắt ứa ra vì quầng đỏ của một mặt trời đang lặn. Tiếng hát nào vang vọng âm âm giữa không thời gian. Một bản nhạc êm dịu và day dứt một nỗi buồn tiếc nuối.

Tôi mở mắt ra và thấy tiếng ầm ầm ù ù đã nghe trong bóng đêm hóa thành tiếng con tàu đang lao đi vùn vụt giữa một hoàng hôn đỏ rực. Và trong khoang tàu chỉ có một mình tôi, đối mặt với không gì khác ngoài bầu trời chết ngoài khung kính.

Tôi đứng dậy và chao đảo giữa khoang tàu càng lúc càng lao nhanh. Tôi gọi tên người khản cổ nhưng không ai đáp lại. Tôi lảo đảo lần bước khắp các khoang tàu giống hệt nhau nhưng chẳng có ai, chẳng có ai, ngoại trừ tôi và ánh sáng đỏ chảy giữa không gian. Khoang tàu bỗng trở nên nóng hừng hực như bị mặt trời thiêu đốt…

Tôi thấy mình ngã xuống giữa khoang tàu lao đi vùn vụt… Màu đen ở đâu bỗng tràn tới, như tiếp sau ngọn lửa đỏ là bóng đêm của tàn tro.

Thỉnh thoảng lại có một người bạn than phiền với tôi rằng chẳng thấy có quyển sách nào hay ở ngoài hiệu sách, nhất là sách của tác giả Việt. Những lúc như thế, tôi thường bảo, tôi không đọc nhiều nên không rõ, nhưng chắc là phải có chứ. Một vài bạn không chịu: bạn kể thử ra xem có quyển nào, tác giả nào mà bạn bảo là đọc được xem nào. Những lúc như thế, tôi thường hỏi, bạn đã đọc Đỏ của Nguyễn Dương Quỳnh chưa. Có lẽ là sau Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu của năm 2005 thì phải tới năm 2012 tôi mới lại phải giật mình trước một người viết văn Việt.

Dĩ nhiên hãy còn quá sớm để nói Nguyễn Dương Quỳnh sẽ là ai trong làng văn học Việt Nam. Trong Đỏ vẫn còn lộ ra một vài đoạn viết xử lý chưa được khéo của một người viết chưa nhiều kinh nghiệm. Đó là những đoạn viết cảm xúc còn lộn xộn, không thống nhất và không tạo thành một dòng chảy logic từ câu đầu tới câu cuối của đoạn, thể hiện một tâm trạng còn phức tạp và ngổn ngang suy nghĩ của tác giả khi viết lại những dòng ấy, cố gắng ghi lại nhưng chưa tạo được thành hình hài cho những gì mình đang có trong đầu. Những đoạn ấy người đọc có thể cảm thấy rời rạc, khó hiểu.

Dẫu sao sau khi đọc lại Đỏ lần thứ hai, hơn ba năm sau lần đọc thứ nhất, tôi vẫn thấy đây là một truyện đáng đọc, nhất là với những ai quan tâm tới văn người Việt viết. Hy vọng bài review này đã nói rõ được những lý do vì sao tôi nghĩ rằng đây là một truyện đáng đọc.

Cuốn Đỏ do Nhã Nam và NXB Lao động xuất bản ngoài Đỏ ra còn một truyện vừa nữa, dài hơn, là Nước xốt cà chua, nhưng không hay bằng. Vả lại đó hình như cũng là truyện đầu tay của Nguyễn Dương Quỳnh, coi như đọc chơi cho biết thôi.

Ngày xưa tôi mua Đỏ về đọc là do đọc được một bài trong ấy có viết như này:

Quyển Đỏ sẽ không thể trở thành một cuốn sách bán chạy, nhưng chắc chắn nó sẽ có một số lượng độc giả riêng, một số lượng cũng không hẳn là nhỏ – một nhà văn tuổi đôi mươi viết văn thực sự hay kiểu gì cũng có cho riêng mình một “khối độc giả”.

Leave a comment

Filed under Truyện vừa