Monthly Archives: July 2016

Vào trong hoang dã

I now walk into the wild.

Ngay sau khi đọc câu này, tôi lập tức bị nó ám ảnh. Nó như không chỉ là lời nhắn của Chris McCandless cho Wayne: Giờ em đi vào miền hoang dã đây (theo bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Vân, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn, 2015). Nó như một lời tuyên bố với cả thế giới: Giờ tôi bước vào trong hoang dã.

Nghe như một câu thơ.

Cuốn sách này mang tới cho tôi hai ngạc nhiên. Ngạc nhiên thứ nhất là tại sao Jon Krakauer lại quan tâm tới Chris McCandless nhiều đến thế, tới mức phải đi tìm hiểu xem trước khi chết McCandless là ai, sống một cuộc sống như thế nào, rồi viết một cuốn sách về cuộc đời và cái chết của anh. Xét cho cùng, một thanh niên “đi phượt” rồi chết cũng chỉ như một cái tin có thể xuất hiện trên báo vào bất cứ ngày nào, rồi sẽ lại nhanh chóng bị lấp đi bởi những tin tức khác, như là nổ bom chết hàng chục, hàng trăm người chẳng hạn.

Ngạc nhiên thứ hai là không ngờ không chỉ có Krakauer mà còn có vô cùng nhiều người ngưỡng mộ chuyến đi vào miền hoang dã đó của McCandless. Tôi không ngạc nhiên chuyện bản thân mình ngưỡng mộ chuyến đi đó, nhưng tôi cũng không ngạc nhiên khi biết rằng nhiều người cho đó là xuẩn ngốc. Như đã nói, tôi lại vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng trên thế giới không chỉ còn mà còn rất nhiều người thích cái ý tưởng về một chuyến đi như thế, dù không phải ai cũng dám thực hiện.

Hay là chuyến đi của Chris McCandless là hiện thân của một giấc mơ của rất nhiều người?

Và không chỉ là một giấc mơ. Vẫn luôn có những người đã, đang, và sẽ thực hiện những chuyến đi nguy hiểm như thế. Krakauer chính là một trong số đó.

I put a foot through a snow bridge spanning a slot so deep I couldn’t see the bottom of it. A little later I broke through another bridge to my waist; the poles kept me out of the hundred-foot crevasse, but after I extricated myself, I bent double with dry heaves, thinking about what it would be like to be lying in a pile at the bottom of the crevasse, waiting for death to come, with nobody aware of how or where I’d met my end.

[Tôi đặt một chân qua một chiếc cầu tuyết bắc ngang một khe nứt sâu tới mức tôi không nhìn thấy đáy. Một lát sau tôi vượt qua một chiếc cầu khác ở bên hông; những chiếc cột đã giữ tôi khỏi rơi xuống khe vực sâu cả trăm foot ấy, nhưng sau khi thoát khỏi đó, tôi gập người thở dốc, nghĩ rằng không biết sẽ ra sao nếu mình nằm thành một đống dưới đáy vực, chờ cái chết tới, mà chẳng ai hay tôi đã kết thúc cuộc đời mình ở đâu hay như thế nào.]

Bản thân tôi đã từng trải qua một ý nghĩ gần như thế. Tôi đã từng một mình đi qua những con đường mà một bên là vực thẳm, tuy là không quá nguy hiểm (đường rộng) và thỉnh thoảng vẫn có người qua lại, nhưng đủ vắng vẻ để một ý nghĩ tương tự đã đến với tôi một cách tự nhiên: có lẽ mình chết ở đây cũng không ai hay. Có lúc tôi cũng thoáng nghĩ, nếu chẳng may chết dưới vực kia, không biết liệu sau bao lâu người ta sẽ tìm thấy tôi.

Đang ngồi đây viết thế này nghĩa là tôi chưa mất mạng vì một chuyến đi liều lĩnh nào. Thật ra, các chuyến đi của tôi cũng không có gì gọi là nguy hiểm lắm. Tôi chưa đủ liều và có lẽ cũng chưa đủ buồn chán thế giới văn minh đến mức phải nhất định bước vào trong hoang dã và đoạn tuyệt với xã hội một thời gian.

Có lẽ chỉ đủ để làm một độc giả tận tình của cuốn sách này của Krakauer mà thôi.

I was twenty-three, a year younger than Chris McCandless when he walked into the Alaska bush. My reasoning, if one can call it that, was inflamed by the scattershot passions of youth and a literary diet overly rich in the works of Nietzsche, Kerouac, and John Menlove Edwards, the latter a deeply troubled writer and psychiatrist who, before putting an end to his life with a cyanide capsule in 1958, had been one of the preeminent British rock climbers of the day. Edwards regarded climbing as a ‘psycho-neurotic tendency’; he climbed not for sport but to find refuge from the inner torment that framed his existence.

[Khi đó tôi hai mươi ba tuổi, ít hơn Chris McCandless một tuổi khi anh bước vào vùng rừng rậm Alaska. Lý lẽ của tôi, nếu có thể gọi như vậy, tới từ những đam mê vu vơ của tuổi trẻ và một thực đơn văn chương quá giàu những tác phẩm của Nietzsche, Kerouac, and John Menlove Edwards, người cuối cùng là một nhà văn và nhà tâm thần học rất nhiều phiền muộn, người, trước khi tự kết thúc cuộc đời mình bằng một viên cyanide vào năm 1958, đã là một trong những nhà leo núi người Anh vĩ đại nhất thời đó. Edwards xem leo núi như một ‘khuynh hướng tâm thần’; ông leo núi không phải như chơi một môn thể thao mà để tìm nơi trú ẩn cho sự giày vò nội tâm bên dưới sự tồn tại của mình.]

(Hai đoạn dịch trong ngoặc vuông ở trên là tôi dịch lại từ bản tiếng Anh, vì không có bản tiếng Việt.)

Chris McCandless đã không còn sống để có thể tự kể lại câu chuyện của mình, nhưng cuộc đời anh đã hiện ra một cách sống động dưới ngòi bút của Krakauer. Tôi thích cách tác giả phục dựng lại câu chuyện; vừa sử dụng lời kể của mình; vừa trích dẫn nhật ký, thư từ, bưu thiếp, hay những đoạn được đánh dấu trong những cuốn sách của Chris; ghi lại các mô tả hồi tưởng của gia đình và bạn bè của anh, cũng như của những người mà anh này gặp trong suốt thời gian rong ruổi trên đường cho tới lúc anh vào được trong miền hoang dã của Alaska; đồng thời cũng cung cấp thêm những thông tin thực tế (như thời gian, thời tiết, địa hình, vị trí địa lý, thực vật…) giúp người đọc hình dung được câu chuyện tốt hơn. Đó là chưa kể tác giả còn kể thêm những câu chuyện liên quan, của chính mình và của những người khác, như để đặt cạnh nhau những cuộc đời khác nhau về không gian và thời gian, để chúng soi chiếu lẫn nhau.

Chân dung Chris McCandless hiện lên trong cuốn sách tôi thấy cũng thú vị. Hơi lập dị tí nhưng dễ thương (Bảo Bình mà). Nếu anh này còn sống, có thể độ cực đoan sẽ giảm đi (bởi nếu không thì khó sống lắm).

“His face had a strange elasticity: It would be slack and expressionless one minute, only to twist suddenly into a gaping, oversize grin…”

“’He was wearing long shorts and this really stupid hat,’ says Jan Burres, a forty-one-year-old rubber tramp who was traveling around the West selling knick-knacks at flea markets and swap meets with her boy friend, Bob. ‘He had a book about plants with him, and he was using it to pick berries, collecting them in a gallon milk jug with the top cut off…’”

“We were always trying to pull him back from the edge.”

“…lab reports had to be written in a particular format to make grading them a manageable proposition. Chris thought it was a stupid rule and decided to ignore it. He did his lab reports, but not in the correct format so the teacher gave him an F.”

“Chris didn’t like being told what to do. I think he would have been unhappy with any parents; he had troubles with the whole idea of parents.”

“Chris invented this workout he called Road Warriors: He would lead us on long, killer runs through places like farmers’ fields and construction sites, places we weren’t supposed to be, and intentionally try to get us lost. We’d run as far and as fast as we could, down strange roads, through the woods, whatever. The whole idea was to lose our bearings, to push ourselves into unknown territory. Then we’d run at a slightly slower pace until we found a road we recognized and race home again at full speed. In a certain sense that’s how Chris lived his entire life.”

“Two years after he sweated over the grill in Bullhead, his colleagues at the golden arches don’t recall much about Chris McCandless. ‘One thing I do remember is that he had a thing about socks,’ says the assistant manager, a fleshy, garrulous man named George Dreeszen. ‘He always wore shoes without socks – just plain couldn’t stand to wear socks. But McDonald’s has a rule that employees have to wear appropriate footwear at all times. That means shoes and socks. Chris would comply with the rule, but as soon as his shift was over, bang! – the first thing he’d do is peel those socks off. I mean the very first thing. Kind of like a statement, to let us know we didn’t own him, I guess. But he was a nice kid and a good worker. Real dependable.’”

“He could do the job – he cooked in the back – but he always worked at the same slow pace, even during the lunch rush, no matter how much you’d get him to hurry up. Customers would be stacked ten-deep at the counter, and he wouldn’t understand why I was on his case. He just didn’t make the connection. It was like he was off in his own universe.”

“’Even when he was little,’ says Carine, who was born three years after Chris, ‘he was very to himself. He wasn’t antisocial – he always had friends, and everybody liked him – but he could go off and entertain himself for hours. He didn’t seem to need toys or friends. He could be alone without being lonely.’”

“Everett was a loner, but he liked people too damn much to stay down there and live in secret the rest of his life. A lot of us are like that – I’m like that, Ed Abbey was like that, and it sounds like this McCandless kid was like that: We like companionship, see, but we can’t stand to be around people for very long. So we get ourselves lost, come back for a while, then get the hell out again.”

Tuy nhiên, có một chi tiết tôi cho là hơi lạc nhịp với bức tranh chung, và là một phỏng đoán sai lầm. Ấy là đoạn tác giả trích lời Carine McCandless cho rằng Chris đã rút khỏi đội kèn (French horn) vì không muốn bị xếp ở vị trí kém hơn em gái mình. Tôi cho rằng sự hơn kém so với người khác không phải là điều mà một người như Chris mảy may bận tâm đến. Với em gái mình thì càng không. Ngoài chi tiết này ra tôi không thấy có chi tiết nào khác có ý nói rằng Chris đã từng tỏ ra khó chịu chuyện thua kém gì ai. Ngược lại, hồi mới học lớp ba anh chàng còn nằng nặc đòi xin ra khỏi một chương trình dành riêng cho các học sinh có năng lực vượt trội (an accelerated program for gifted students). Chỉ có thể nói như giáo viên của anh trước sự việc ấy, “Chris marches to a different drummer”. Chris có cả một thế giới riêng để lưu tâm đến, cạnh tranh khó mà là tính cách của anh.

Những tranh cãi xung quanh cái chết của McCandless – đáng tiếc hay “đã dốt còn tưởng mình nguy hiểm” – chắc sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu vì mỗi bên đi theo những giá trị khác nhau. Những người cảm thấy tức giận trước việc tung hô chuyến đi và cái chết lãng xẹt của McCandless đặt cao giá trị của sự sống sót – survival; còn những người ủng hộ sự phiêu lưu của anh này đặt một giá trị khác cao hơn cả sống sót, ấy là passion – nói một cách dân dã là phải có sự đắm đuối trong lòng một tí. Một bên thì sống thực tế hơn, còn bên kia thì mơ mộng hơn. Dĩ nhiên lý tưởng là nên cân bằng cả hai, không quá lệch về bên nào.

Krakauer có ý bảo vệ Chris khi phân tích rằng cái chết của anh này phần nhiều là do xui xẻo, chứ không phải do quá coi thường tính mạng của mình. Tôi cơ bản cũng đồng ý vậy. Mặc dù Chris có ý thức được rằng chuyến đi có thể nguy hiểm tới tính mạng – if this adventure proves fatal – tôi cũng nghĩ như tác giả cuốn sách rằng ở cái tuổi so green như vậy, khái niệm về cái chết với một thanh niên bình thường trên thực tế còn khá trừu tượng và xa vời.

“I knew that people sometimes died climbing mountains. But at the age of twenty-three, personal mortality – the idea of my own death – was still largely outside my conceptual grasp.”

“At that stage of my youth, death remains as abstract a concept as non-Euclidean geometry or marriage.”

Câu chuyện của Chris kết thúc buồn. Phần cuối của cuốn sách có thể làm người ta rơi nước mắt. Tôi đã đọc cuốn sách này hai lần, và có lẽ thỉnh thoảng sẽ đọc lại.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Phi hư cấu khác