Category Archives: Du ký

Từ Beirut đến Jerusalem

Tác giả: Thomas Friedman. Alpha Books và NXB Thế giới phát hành năm 2014. Đặng Ly dịch.

Tôi thấy đây là cuốn sách đáng đọc nhất của Friedman trong số bốn cuốn sách của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Nó thật ra lại là cuốn sách đầu tay của ông. Tôi nghĩ là trong các cuốn sau này ông có xu hướng khái quát hóa nhiều quá dẫn tới đưa ra nhiều luận điểm không chính xác. Cuốn sách đầu tay này của ông được viết trong phạm vi tập trung hơn và các sự kiện được khai thác sâu sắc hơn.

Nó cũng là một cuốn sách rất đáng đọc trong hoàn cảnh số đầu sách tiếng Việt về Trung Đông ở Việt Nam là rất ít ỏi (tôi không kể ra được quá 10 cuốn). Ví dụ trước đây tôi cũng đọc báo chí và các bài nghiên cứu về Trung Đông nhưng chỉ bắt đầu cảm thấy mình rốt cục cũng nắm bắt được một điều gì đó về khu vực này kể từ sau khi đọc xong cuốn sách này. Chỉ mỗi tội là tới giờ (2017) đã là gần 30 năm trôi qua kể từ ngày cuốn sách được xuất bản lần đầu, nghĩa là những gì cuốn sách nhắc tới chỉ còn mang tính lịch sử và đã có quá nhiều chuyện xảy ra ở Trung Đông kể từ ngày đó tới giờ.

Cuốn sách cơ bản gồm hai phần: về Li-băng và về Israel. Mỗi phần đều có thể làm một cuốn sách độc lập. Xâu chuỗi hai phần là trải nghiệm làm báo của Friedman.

Phần viết về Li-băng rất hay vì thông qua một số sự kiện nổi bật tại Li-băng, Friedman giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về những vấn đề của khu vực. Li-băng cơ bản chỉ là cái sân khấu. Dĩ nhiên họ có những vấn đề riêng của họ, nhưng những người khác đã bước chân lên cái sân khấu đó cũng mang theo những câu chuyện riêng của họ. Người Mỹ. Người Israel. Người Palestine. Friedman dùng khá nhiều giấy mực để phơi bày những chiêu trò của Arafat và các bên khác dưới cái được gọi là cuộc cách mạng giải phóng Palestine vốn đã (hoặc vẫn) được tô màu hồng ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam. Phần này cũng có những so sánh thú vị giữa Israel và Palestine – hai cộng đồng cùng tìm kiếm một nơi trú ẩn và một nhà nước thống nhất nhưng theo những cách khác nhau và, theo Friedman, bởi vậy có được hai kết quả khác nhau – ít ra cũng đáng để suy nghĩ.

Israel đã được nhắc tới từ phần Li-băng nhưng hiện ra rõ nét hơn nhiều ở phần sau trong những đặc tả về mối liên hệ phức tạp giữa họ và người Palestine trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó Friedman cũng dành nhiều phần nói về mối liên hệ giữa người Do Thái sống ở Israel và người Do Thái ở những nơi khác trên thế giới mà đặc biệt là ở Mỹ. Đó cũng là câu chuyện cá nhân vì bản thân tác giả cũng là một người Mỹ gốc Do Thái, thành ra phần này viết cũng nhiều cảm xúc hơn phần Li-băng. Tôi thì lại thích phần Li-băng hơn.

Những phân tích của tác giả về con đường hòa bình cho khu vực ở phần cuối cuốn sách có lẽ đến nay đã được thực tế chứng minh là sai (hoặc là vẫn chưa đúng) bởi đến giờ các phe phái trong khu vực vẫn cứ giằng co qua lại, chưa kể là vài năm gần đây còn có thêm sự hoành hành của IS, vượt quá mọi dự cảm từ cách đây vài chục năm. Tôi không bình luận nhiều về phần này vì không đủ hiểu biết để bàn luận.

Vậy tóm lại tôi thấy đây là một cuốn sách đáng đọc để hiểu được Trung Đông những năm cuối thập niên 1980. Có lẽ nhiều chuyện của thời đó vẫn còn tiếp diễn cho tới bây giờ, hay chí ít cũng vẫn liên quan tới các sự kiện thời sự ngày nay, nên cuốn sách cũng có thể giúp chúng ta bơi được tốt hơn giữa đủ mọi làn sóng thông tin hiện tại về khu vực phức tạp này.

Sách rất dày, cỡ 850 trang, nên đọc cũng vất vả, nhất là với những ai còn rất mơ hồ về Trung Đông. 200 trang đầu tôi đã đọc tới 2 lượt trước khi có thể tiêu hóa được các thông tin trong đó mà đọc tiếp. Với những người không ưa kể chuyện dông dài mà thích ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề thì có thể sẽ hơi bực mình khi đọc vì kể chuyện dông dài là văn phong của Friedman mà. Còn với các bạn thích hóng chuyện và thích những cuốn sách dễ đọc, ít khô khan thì không vấn đề gì cả.

Ghi chú cuối cùng: sách khá nhiều lỗi dịch nhỏ, có lẽ do biên tập ẩu.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Du ký, Phi hư cấu khác

Con đường Hồi giáo

Cuốn sách thứ hai trong series “Lên đường với trái tim trần trụi” của tác giả Nguyễn Phương Mai, do Nhã Nam & NXB Hội nhà văn phát hành năm 2016.

“Con đường Hồi giáo theo chân các chiến binh Ả Rập xuất phát từ Mecca tỏa ra hai hướng Á Âu. Cánh cung sang phía Tây… là quãng đường tôi đã vượt qua trong năm 2012 sau Mùa xuân Ả Rập.”

(Chú thích trên tấm bản đồ ở đầu cuốn sách)

Một ý tưởng rất thú vị và lãng mạn đã được tác giả hiện thực hóa thành một chuyến phiêu lưu đáng ngưỡng mộ, dù tôi nghĩ là người đọc có lẽ chỉ có thể hình dung và cảm nhận được một phần nhỏ của chuyến đi ấy trong khuôn khổ 300 trang của cuốn sách.

Tuy nhiên, tác giả chỉ lần theo con đường Hồi giáo ấy một cách cơ học, tức là chỉ đi qua đúng các quốc gia mà các chiến binh Ả Rập ngày xưa đã đi tới. Cuốn sách không nhắc chút gì tới lịch sử của các chuyến chinh phạt hay du cư ngày xưa, thành thử đôi khi tôi cảm thấy cái tựa của cuốn sách như một chiếc áo hơi rộng với nội dung bên trong. Bên trong chỉ là một lát cắt qua khu vực tại thời điểm năm 2012.

Như nhiều cuốn sách du ký khác, cuốn sách này là một sự pha trộn của những dữ kiện sách vở cùng những quan sát và cảm nhận mắt thấy tai nghe của tác giả trong chuyến đi. Tuy nhiên, tôi cho rằng dung lượng thông tin sách vở mà cuốn sách này cung cấp là khá đáng nể với một cuốn sách du ký thông thường. Rồi các thông tin sách vở vốn tương đối khô khan đó được pha trộn khéo léo với những trải nghiệm độc đáo trên đường đi dưới ngòi bút hài hước của một người có thâm niên làm báo cũng như gõ đầu sinh viên. Kết quả là cuốn sách trở nên dễ đọc, hấp dẫn, và giúp mở mang đầu óc.

“Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu [Islam và Islamism]. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.”

(Trích phần “Thưa cùng bạn đọc”)

Thật ra không biết người khác thế nào chứ tôi đọc xong chả mấy mà quên gần hết những thông tin sách vở mà tác giả đưa vào. 😀 Ấn tượng về những trải nghiệm lăn lê trên đường của tác giả thì sâu sắc hơn với tôi. Những chuyện kể mắt thấy tai nghe ấy rất sống động và khiến tôi cảm giác mình có thể mường tượng ra những con người thực ở đó đang sống một cuộc sống bình thường hàng ngày như thế nào. Có lẽ đó chính là lý do vì sao tác giả nhất định phải khăn gói quả mướp lê la cho kỳ được qua ngần ấy nước để xem hiện thực cuộc sống có giống như báo đài ti vi sách vở vẫn nói hay không.

Về tổng thể cuốn sách mang tới cho tôi một cảm nhận chung về sự đa dạng ở Trung Đông nhưng hầu như không có cảm nhận cụ thể về một quốc gia cụ thể nào trong số đó, mặc dù với mỗi một quốc gia tác giả đã chọn lọc và rút ra một vài nét chấm phá đặc sắc về quốc gia đó. Ví dụ đột nhiên bây giờ có ai hỏi tôi vậy cuốn sách ấy viết gì về Yemen, tôi chịu thua liền.

Một chút về lịch sử, một chút về chính trị, nhiều chút về văn hóa và xã hội, đây là một cuốn sách nhập môn về Trung Đông tốt. Và dĩ nhiên, nó cũng thích hợp với những kẻ luôn nghe thấy tiếng gọi của những con đường. 🙂

“Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.

Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.

Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.

Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi.”

Leave a comment

Filed under Du ký

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P2)

Cầu nguyện có lẽ là việc chúng ta ít muốn làm nhất trong ba việc ăn, cầu nguyện, và yêu :D. Bởi thế, tôi cứ ngại và lần lữa mãi việc đọc lại phần này. Lần đầu đọc cuốn này cách đây nhiều năm, ấn tượng duy nhất của tôi về phần “cầu nguyện” này là những mô tả về trải nghiệm của tác giả là một người vốn ưa sống ồn ào khi phải làm cái việc tập yên lặng và thiền – đại khái là cũng là lạ và thú vị. Lần này đọc lại, tôi đã hiểu nhiều hơn về một vài “khổ đau tinh thần căn bản của nhân loại” 😀 nên có lẽ cũng hiểu hơn về tiến trình Liz Gilbert học cách tự hàn gắn những vết thương lòng thông qua việc học cách cầu nguyện.

Cầu nguyện mà cũng phải học cách? Phải đó, nếu như bạn muốn làm việc này một cách có ý nghĩa, chứ không phải nói một lời bâng quơ xin một đấng tối cao nào đó ban phước lành cho bạn – đây là điều tôi hiểu ra sau khi đọc lại phần hai của cuốn sách này hôm nay. Hy vọng khi đọc cuốn sách này, các bạn đã không bỏ qua đoạn viết sau:

Cầu nguyện là một mối liên hệ; một nửa công việc đó là của tôi. Nếu tôi muốn sự biến đổi, mà thậm chí không buồn nêu rõ chính xác tôi muốn điều gì, thì làm sao nó có thể xảy ra? Một nửa ích lợi của cầu nguyện nằm trong chính việc hỏi, trong việc nêu ra rõ ràng và có cân nhắc một mục đích. Không có điều đó, tất cả những cầu xin và mong muốn của ta đều là không xương, mềm, trơ; chúng cuộn dưới chân ta thành đám sương mù lạnh và không bao giờ tan. Vậy nên sáng nay tôi dành thời gian tìm kiếm ở chính mình cụ thể cái tôi thật sự mong cầu. Tôi quỳ ở đó, trong đền, úp mặt xuống nền đá cẩm thạch lạnh cho đến khi nào tôi hình thành được một lời cầu nguyện đích thực. Nếu tôi không cảm thấy mình thành tâm, tôi sẽ ở đó trên sàn, cho đến khi tôi cảm thấy mình thành tâm. Điều đúng cho ngày hôm qua không phải luôn đúng cho hôm nay. Những lời cầu nguyện có thể trở nên cũ rích và đều đều đến nhàm chán, thậm chí sáo rỗng nếu ta để sự chuyên chú của mình tù đọng. Khi cố gắng giữ mình tỉnh giác, tôi đang đảm nhận trách nhiệm canh giữ cưu mang linh hồn của chính mình.

Câu chuyện cầu nguyện, hay chính xác hơn là câu chuyện học cách tự hàn gắn thông qua việc học cách cầu nguyện, của Liz đã được kể rất khéo. Đó không phải là một câu chuyện bạn quẳng mình đến một nơi tu thiền trong vài tháng, bạn ngoan ngoãn cầu nguyện như một tín đồ ngoan đạo, rồi những nỗi buồn của bạn cứ theo những lời cầu nguyện mà vợi dần đi cho tới khi bạn thấy lòng mình nhẹ nhõm, bạn thu dọn va-li rồi trở về với thế giới thực của cuộc đời bạn. Không phải thế. Hành trình tự hàn gắn cuộc đời mình bao giờ cũng là một cuộc vật lộn, một cuộc đấu tranh với chính mình, rồi thì may ra cuối cùng bạn hiểu ra được một điều gì đó từ cõi lòng tan nát của mình.

Hành trình của Liz cũng vậy, cũng là những khoảng thời gian khủng hoảng, liên tục đối diện và đối thoại – với những người chị gặp ở Ashram và với chính mình – về những vết thương từ quá khứ mãi không khép miệng, để rồi chị dần dần hiểu ra một vài điều, trước khi có thể thực sự yên lặng mà úp mặt xuống sàn đá lạnh để cầu nguyện như chị có nhắc đến trong đoạn trích trên. Nếu có biết một chút về bản chất của việc tự hàn gắn chính mình theo tâm lý học hiện đại, bạn sẽ thấy những gì Liz đã trải qua như chị kể lại trong cuốn sách này chính xác là những gì các nhà tâm lý học sẽ khuyên bạn nên làm. Có điều, thực hiện một quá trình như vậy quả là mệt nhọc, cô đơn, và quá nhiều điều có thể khiến ta nản chí mỗi ngày. Thế nên, biết đâu đọc về một trải nghiệm của một người khác – mà ở đây là Liz – lại có thể mang lại cho bạn một chút động viên?

Điều tôi đã muốn từ lâu là có một cuộc trò chuyện thật sự với chồng cũ của mình, nhưng rõ ràng chuyện này không bao giờ xảy ra. Điều tôi vẫn mong muốn là một giải pháp, một hội nghị thượng đỉnh hòa bình, từ đó chúng tôi có thể bước ra với một sự thấu hiểu hòa hợp về những gì đã xảy ra trong hôn nhân của chúng tôi, và tha thứ cho nhau về sự tồi tệ trong vụ ly dị của chúng tôi. Nhưng nhiều tháng tư vấn và hòa giải chỉ làm chúng tôi thêm chia rẽ, và biến chúng tôi thành hai người tuyệt đối không thể giải thoát cho người kia. …Vậy nên tôi hỏi Thượng Đế tối đó trên mái Ashram là – dựa trên thực tế là có lẽ tôi sẽ không bao giờ nói chuyện với chồng cũ của mình nữa – có thể có một tầng bậc nào đó ở đấy chúng tôi có thể tương thông? Tầng bậc nào đó ở đấy chúng tôi có thể tha thứ?

…Vẫn tham thiền, tôi nhìn hai linh hồn xanh lạnh này đi vòng quanh nhau, hợp nhất, lại tách ra và xem xét độ hoàn hảo cũng như tương đồng của nhau. Họ biết tất cả. Họ đã biết tất cả mọi điều từ rất lâu từ trước và họ sẽ luôn biết mọi thứ. Họ không cần phải tha thứ cho nhau; họ sinh ra đã tha thứ cho nhau.

…Cho phép tôi nói rõ – không phải là tôi sẽ không bao giờ nghĩ về chồng cũ của mình nữa, hay không bao giờ có cảm xúc nào gắn liền với ký ức về anh ấy. Chỉ là cái nghi thức trên mái nhà này cuối cùng đã cho tôi một nơi để tôi có thể đón tiếp những ý nghĩ và cảm xúc mỗi khi chúng trỗi dậy sau này – chúng sẽ luôn trỗi dậy. Nhưng mỗi khi chúng xuất hiện trở lại, tôi có thể chỉ cần gửi trả chúng về đây, về mái nhà ký ức này, trả lại cho hai linh hồn xanh lạnh đó chăm nom, những người đã và luôn luôn hiểu mọi điều.

Điều mà hầu như ai cũng nghĩ đến khi đọc cuốn sách này của Liz là: làm sao mình lại có thể có những một năm đi du lịch vòng quanh thế giới, đến nơi mà mình muốn, mỗi nơi sống vài tháng, để mà tận hưởng đồ ăn ngon, học cách cầu nguyện, rồi lại còn – giả dụ như – học được cách yêu thêm lần nữa mà không phải lo lắng gì đến chuyện tiền bạc, con cái, công việc, và trăm ngàn thứ khác như cái chị này? Hiển nhiên là ai cũng có những điều kiện và hạn chế khác nhau, nên có lẽ nếu cứ chết tắc ở câu hỏi đó thì việc đọc cuốn sách này sẽ giảm hiệu quả đi đáng kể. Có lẽ thay vì việc cảm thấy bất lực vì không thể là Liz thì mỗi độc giả có thể tự hỏi mình xem mình có thể học được gì từ câu chuyện của Liz. Hãy nhớ rằng chị ấy chỉ có thể sống cuộc đời của chị ấy và kể lại nó chứ không phải chủ ý viết cuốn sách này để đưa ra lời khuyên gì cho ai cả. Hy vọng là đọc xong cuốn sách này một số người đọc ít nhất cũng bắt đầu quan tâm nghiêm túc hơn đến việc học cách đối diện chân thành với nội tâm của chính mình.

Ta có một quyết định to lớn trọng đại nào đó về điều ta cần phải làm, hay ta phải là ai, và rồi các tình huống nảy sinh sẽ ngay lập tức hé lộ cho ta thấy là ta hiểu biết quá ít về mình ra sao. Tôi không biết Swamiji đã nói điều đó bao nhiêu lần trong đời mình, và tôi không biết [Guru] mình đã lặp lại không biết bao nhiêu lần nữa điều đó từ khi ông chết, nhưng dường như tôi vẫn chưa hấp thụ được hoàn toàn chân lý trong phát biểu kiên trì nhất của họ:

“Thượng Đế ngự trị trong ta, cũng như ta.”

Nhân tiện, tôi không thích cách dịch “Guru” thành “Sư phụ” trong cuốn sách bản tiếng Việt này (© 2009 Nhã Nam), vì theo như giải thích ở trang 208-209 thì “[t]rong tiếng Phạn, từ [Guru] bao gồm hai âm tiết. Âm tiết đầu nghĩa là ‘sự tối tăm’, âm tiết thứ hai là ‘ánh sáng’. Ra khỏi bóng tối và bước vào ánh sáng”. Đối với tôi từ “sư phụ” gốc Tàu này mang tính phân biệt giới tính và không thể hiện được ý nghĩa của từ “guru” như giải thích ở trên, trong khi từ này cũng đã tương đối phổ biến và được giữ nguyên trong nhiều ngôn ngữ khác, tốt nhất ta cũng nên để nguyên thế mà xài.

8 Comments

Filed under Du ký

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P3)

Yêu

Khác với hai câu chuyện về ăn và cầu nguyện, câu chuyện tình yêu của Liz thực ra nằm xuyên suốt trong toàn bộ cuốn sách. Câu chuyện ấy không chỉ là câu chuyện tìm thấy một tình yêu mới ở cuối cuộc hành trình mà, có lẽ còn quan trọng hơn, là câu chuyện đi qua những đau khổ của một cuộc hôn nhân tan vỡ và của cả một mối tình điên cuồng chóng vánh sau đó. Ví dụ, phần đầu của cuốn sách Liz đã viết khá nhiều về cuộc hôn nhân đổ vỡ và vụ ly dị kinh hoàng mà chị phải trải qua, mà tôi đã viết ở phần Trầm cảm trước khi ăn ở post trước. Từ những kinh nghiệm đó, Liz đã tự nhìn nhận lại bản thân mình như sau:

Hơn nữa, tôi có vấn đề về ranh giới với đàn ông. Hay có lẽ nói vậy không hợp lý. Để có vấn đề về ranh giới, đầu tiên người ta phải ranh giới, đúng không? Nhưng tôi tan biến vào người tôi yêu. Tôi là một màng thấm. Nếu tôi yêu anh, anh có thể có tất cả. …tất cả mọi thứ. Nếu tôi yêu anh, tôi sẽ mang giùm anh tất cả đớn đau của anh, tôi sẽ gánh tất cả nợ nần giùm anh (trong mọi nghĩa của từ này), tôi sẽ che chở anh khỏi bất an của chính anh, tôi sẽ phóng chiếu lên anh tất cả những phẩm chất tốt đẹp anh chưa từng thực sự vun trồng trong anh và tôi sẽ mua quà Giáng Sinh cho cả gia đình anh. Tôi sẽ cho anh cả nắng và mưa, và nếu không được, tôi sẽ xin khất lại lần sau. Tôi sẽ cho anh tất cả những thứ này và còn nhiều nữa, cho đến khi tôi trở nên kiệt sức và suy yếu đến nỗi cách duy nhất để nạp lại năng lượng là mê đắm một người khác.

Tôi không nói những thực tế về bản thân này với niềm tự hào, nhưng luôn là vậy đấy.

Sang đến phần hai của cuốn sách, Liz hiển nhiên lại phải viết về những mối quan hệ đổ vỡ của cuộc đời chị vì xét cho cùng đó là nguyên nhân chính đã khiến cuộc sống của chị trở nên tồi tệ, là vấn đề chính mà công việc thiền tập và cầu nguyện của chị đang hướng tới để giải quyết. Dĩ nhiên, ẩn dưới những vấn đề bề nổi ấy là những vấn đề sâu hơn về bản thể, về sự kết nối và mất kết nối với nội tâm của chính mình.

Nhưng thiền tập và cầu nguyện không phải là điều duy nhất giúp Liz hàn gắn lại được tâm hồn tan vỡ của mình. Một người bạn chị gặp ở Ashram tu thiền của chị ở Ấn Độ đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp chị dần dần tháo gỡ và cởi bỏ những gì còn đang rối loạn và không rõ ràng ở trong lòng chị. Người bạn ấy chính là Richard đến từ Texas. Đó có lẽ là người quan trọng nhất trong số những người mà Liz gặp. Anh mang đến cho Liz những cách nhìn mới về những chuyện đã qua của chị cũng như về chính bản thân chị. Thật ra thì những gì mà anh nhận xét cũng không hẳn là đúng, nhưng thôi ít nhất chúng cũng làm cho Liz phải bứt ra khỏi những suy nghĩ lối mòn đã dẫn chị tới bế tắc.

“…Nên nhả nó ra đi.”

“Nhưng tôi yêu anh ta.”

“Vậy yêu anh ta đi.”

“Nhưng tôi nhớ anh ta.”

“Vậy nhớ anh ta đi. Gửi đến anh ta ít tình yêu và ánh sáng mỗi khi cô nghĩ về anh ta, và rồi quên nó đi. Cô chỉ ngại buông những mẩu David cuối cùng ra vì rồi cô sẽ thật sự cô đơn, và Liz Gilbert sợ muốn chết chuyện sẽ xảy ra nếu cô thực sự cô đơn.”

Rồi tôi hỏi Richard, “Vậy bao lâu thì tất cả những buồn đau này mới qua đi?”

“Cô muốn một ngày cụ thể à?”

“Đúng vậy.”

“Thứ gì đó để cô khoanh tròn trong lịch sao?”

“Đúng.”

“Để tôi nói với cô điều này, Hàng Tạp Hóa – cô có một số vấn đề nghiêm trọng về kiểm soát.”

Nhiều khi tôi cảm thấy Liz như cố ép mình phải thoát ra khỏi những khổ đau mà chị phải chịu đựng. Một mặt nào đó, điều này là hiển nhiên vì chẳng ai lại thích sống trong đau khổ cả. Nhưng mặt khác, tôi vẫn luôn nghĩ rằng thời gian có những giá trị nhất định của nó mà không gì thay thế được. Dục tốc thì bất đạt. Richard đến từ Texas cũng nghĩ như tôi.

“Và tệ nhất là, tôi không thể thôi ám ảnh về David. Tôi tưởng mọi chuyện đã xong xuôi rồi, nhưng giờ tất cả lại trỗi dậy.”

Anh nói, “Cho nó thêm sáu tháng nữa, cô sẽ cảm thấy khá hơn.”

“Nhưng tôi đã cho nó mười hai tháng rồi, Richard.”

“Vậy thì thêm sáu tháng nữa. Cứ quẳng cho nó thêm sáu tháng nữa cho đến khi nó cút ra chỗ khác. Mấy chuyện như vậy cần có thời gian.”

Dù sao thì cuối cuộc hành trình Liz đã có được tình yêu lý tưởng ở Bali (đến thời điểm này thì họ đã kết hôn và vẫn sống với nhau). Tôi cũng chẳng biết là câu chuyện trên thực tế có lý tưởng như là Liz đã viết ra hay không, chỉ biết là với những câu chuyện lý tưởng như vậy thì tôi chẳng có gì để mà bình luận cả.

Một cái kết đẹp cho Liz nhưng lại làm cho không ít độc giả – và cả các nhà phê bình – phải đặt ra một câu hỏi là, nếu như Liz không may mắn mà có được một cái kết đẹp như vậy thì liệu những quá trình tìm lại bản thân mình trước đó có thực sự có ý nghĩa không? Dĩ nhiên là nó có những ý nghĩa nhất định, nhưng khi ấy tôi nghĩ cô ấy sẽ kết lại câu chuyện một năm phiêu lưu của mình không thể hấp dẫn như là câu chuyện thực tế mà cô đã trải qua, và khi ấy, chưa chắc đã ai thèm đoái hoài đến cuốn sách của cô :D. (Thật ra thì đọc về chuyện khủng hoảng tình cảm của Liz cũng hữu ích phần nào cho các độc giả, tôi cho là vậy)

Thôi, dù sao Liz cũng có được cái kết đẹp. Còn với những độc giả (nữ) đang hoang mang của Liz, tôi xin giới thiệu một bộ phim để các bạn được trải nghiệm một hành trình tương tự với một cái kết hơi khác: Under the Tuscan Sun.

Leave a comment

Filed under Du ký

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P1)

Ăn, Cầu nguyện, Yêu. Thiên Nga dịch từ bản tiếng Anh © 2006, Elizabeth Gilbert. Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty Nhã Nam, 2009.

Tôi thích đọc các cuốn hồi ký vì chúng dẫn tôi vào thế giới nội tâm “bí mật” của những người khác, nhưng tôi thường tránh xa các cuốn du ký đơn thuần vì tôi nghĩ trải nghiệm của mỗi người với cùng một chốn là rất khác nhau. Trải nghiệm của những người khác về một vùng đất mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới thì tôi lại càng không quan tâm. Thực ra các cuốn du ký đơn thuần cũng là một dạng hồi ký, vì xét cho cùng chúng cũng không phải chỉ nói về các vùng đất mà nói về các trải nghiệm khác, nhưng tôi vẫn hơi định kiến với dạng sách này. Một dạng định kiến cá nhân chứ không phải tôi có ý muốn nói rằng sách du ký là không đáng đọc.

Ăn, Cầu nguyện, Yêu là một cái tựa hay vì nó thu hút sự chú ý của người ta vào linh hồn của những câu chuyện chứ không phải là vào tính chất du hành của chuyến hành trình (vì đã gạt tên địa danh ra khỏi cái tựa, không phải như kiểu Anh chồng Stockholm, người tình Paris, và cậu bạn thân Bangkok, ngoài ra cũng không có những từ như con đường, hành trình, đi… – all of these words really turn me off). Có lẽ vì vậy mà tôi đã mua và đã đọc quyển này (là tôi đoán vậy chứ cũng không nhớ ấn tượng khi nhìn thấy nó lần đầu ở hiệu sách ra sao). Đọc nó lần đầu, tôi thích, nhưng không nghĩ đến chuyện sẽ đọc lại. Thế nhưng giữa những ngày hay nghĩ ngợi về chính bản thân mình, tôi đã đọc nó lần thứ hai.

Trầm cảm trước khi Ăn

Khi lần đầu tiên đọc quyển sách này, “trầm cảm” với tôi còn là một khái niệm xa lạ, có lẽ chỉ tương đương với “quá buồn”. Tôi đã quên hoàn toàn về chứng trầm cảm của Liz. Tôi chỉ nhớ đại khái là chị có một cuộc hôn nhân khiến chị thấy mệt mỏi và cũng mãi mới thoát được khỏi nó. Nhưng ngày ấy tôi không cảm nhận được nhiều lắm về việc tại sao người ta lại có thể trở nên mệt mỏi với một cuộc hôn nhân như thế, lại càng không hiểu tại sao ly dị lại có thể là một việc khó khăn. Đúng là có những cuốn sách khi ba mươi tuổi đọc sẽ thấy hiểu hơn khi hai mươi tuổi.

“Tôi cũng sẽ không thảo luận ở đây tất cả những lý do tại sao tôi vẫn đã rất muốn là vợ anh, hay tại sao tôi yêu anh, tại sao lại cưới anh và tại sao không thể hình dung nổi một cuộc sống thiếu anh. Tôi sẽ không thổ lộ bất kỳ điều gì hết. Hãy cứ biết là, vào đêm đó, anh ấy vẫn là ngọn hải đăng và cũng là con chim hải âu lớn của tôi. Điều duy nhất khó nghĩ hơn ra đi là ở lại; điều duy nhất bất khả hơn ở lại là ra đi. Tôi không muốn phá hoại bất kỳ điều gì hay bất kỳ ai. Tôi chỉ muốn lẳng lặng lẻn ra cửa sau, không làm ầm ĩ hay gây ra một hậu quả nào, và rồi chạy một mạch tới khi đến được Greenland.”

Tôi có nhớ chuyện chị đã khóc trong nhà tắm những năm về trước đó nhưng lại không mảy may nhớ gì về một phần nguyên nhân đã làm chị khóc – chuyện chị khi đã đến cái mốc ba mươi tuổi “thần thánh” và phát hiện ra là mình hoàn toàn không muốn có con. Không chỉ là không muốn mà là “khiếp đảm cực độ”, nguyên văn lời của chị đã được dịch lại.

“Chừng nào mình chưa thể cảm thấy sướng rơn [khi nghĩ] về chuyện có con như mình đã cảm thấy [khi nghĩ] về chuyến đi đến New Zealand tìm loài mực to [đùng] thì mình chưa thể có con được.”

(Những chỗ trong ngoặc vuông là tôi tự thêm vào hoặc sửa lại so với bản dịch gốc cho rõ nghĩa và chính xác hơn theo ý tôi. Các trích dẫn sau này cũng vậy.)

Nhưng khi Liz cơ bản kết thúc câu chuyện trầm cảm của mình trên những trang sách – trong khoảng 100 trang đầu – tôi cảm thấy tốc độ của câu chuyện là quá nhanh. Tôi bắt đầu cảm thấy những dòng chảy trên những trang viết như một dòng nước thiếu chiều sâu, mặc dù chính tôi khi bắt đầu đọc lại đã rất say sưa đi theo những gì chị viết. Bản thân Liz là một người say sưa sống – “tôi đã hăng hái tham gia vào mỗi phút giây tạo nên cuộc sống này” – một điều có thể truyền cảm hứng tới cho người khác. Nhưng mặt trái của nó, theo tôi, là những người như vậy khi đau khổ cũng sẽ rất “say sưa” – “Hãy hình dung anh ấy ngạc nhiên ra sao khi khám phá ra rằng người phụ nữ hạnh phúc nhất, tự tin nhất anh từng gặp đã thật sự – khi ta để cô ấy một mình – là một lỗ hổng âm u của sầu muộn thăm thẳm.

Trên thực tế, sau 100 trang đầu tôi đã gấp sách lại và nghĩ rằng có lẽ mình không cần phải đọc lại tiếp nữa. Nhưng rồi những ngày sau đó, tôi lại cảm thấy mình muốn đọc lại phần Cầu nguyện. Bởi vì thực ra câu chuyện trầm cảm của Liz mới chỉ tạm lắng xuống ở đoạn tôi đã dừng lại chứ toàn bộ cuộc hành trình này mới thực sự là cả một hành trình vượt qua trầm cảm của Liz. Có lẽ cảm giác không thích của tôi là do cách chị ấy viết – hay mô tả quá nhiều thứ lên – và một số độc giả khác có thể cũng không thích điều này. Nhưng trước khi nói về Cầu nguyện, tôi nói một chút về chuyện Ăn của Liz.

Ăn

Khi Liz tóm gọn lại câu chuyện về trải nghiệm của chị ở Ý bằng một từ “ăn” thì có vẻ như chị ấy muốn chọn câu chuyện về ẩm thực Ý để đại diện cho quá trình tự hàn gắn lại một cái tôi vừa trải qua nhiều tổn thương – nói theo tiếng Anh sẽ là putting herself together. Nhưng thật ra Liz đã “ăn” hai thứ: đồ ăn Ý và tiếng Ý – thứ ngôn ngữ mà theo chị là “đẹp hơn cả hoa hồng” – và quả thực chị đã chèn tiếng Ý vào khắp nơi khắp chốn.

Tôi nhận ra rằng tất cả những gì mình thật sự muốn là ăn những món ăn đẹp mắt và nói càng nhiều tiếng Ý đẹp đẽ càng tốt.

…Cuối cùng, khi đã hấp thụ đủ đầy vẻ xinh tươi của bữa ăn rồi, tôi đến ngồi trong một khoảng nắng trên sàn gỗ sạch sẽ của mình và bốc ăn hết sạch trong lúc đọc bài trên [một tờ nhật báo] tiếng Ý. Hạnh phúc đang ở trong từng phân tử của tôi.

Nhưng hai thứ ấy cũng chỉ là một phần trong cái đời sống văn hóa buông thả mà Liz đã hòa mình vào đó.

Tuy nhiên, nói chung, người Mỹ không có khả năng thả lỏng mình trong những thú vui thuần túy. Người Mỹ chúng tôi là một dân tộc mưu cầu giải trí, nhưng không hẳn là một dân tộc tìm kiếm thú vui. Người Mỹ chi bạc tỷ để mua vui bằng tất cả từ sách báo khiêu dâm đến công viên giải trí đến chiến tranh, nhưng điều đó không đúng hoàn toàn là thưởng thức sự yên tĩnh. Người Mỹ ngày càng làm nhiều giờ cật lực hơn, dài hơn và căng thẳng hơn bất kỳ ai trên thế giới ngày nay. Nhưng như Luca Spaghetti chỉ ra, dường như chúng tôi thích vậy. Người Mỹ thật sự không biết làm sao để không làm gì cả. …được nghỉ phép nhưng không thể thư giãn.

Một lần tôi hỏi Luca Spaghetti người Ý đi nghỉ có gặp vấn đề đó không. Anh cười dữ đến nỗi gần như đâm xe vào một đài phun nước.

“Ồ không!” anh nói. “Chúng tôi là những bậc thầy của bel far niente.”

Đây là một thành ngữ ngọt ngào. Bel far niente [nghĩa] là “cái đẹp của [việc] không làm gì cả”.

Dĩ nhiên, cái gì cũng có giá của nó. Với một nền văn hóa điên rồ như Ý thì đất nước cũng khá hỗn loạn. Ở cuối phần này Liz viết về điều đó. Và tôi cũng chỉ muốn bổ sung thêm là một số ít người Ý mà tôi biết chẳng có ai là không dramatic cả :D.

Nhìn chung về hành trình cá nhân thì tôi nghĩ tôi thích phần viết về trải nghiệm của Liz ở nước Ý nhất vì nó có đủ mọi thứ, từ trầm cảm cho đến hoang mang cho đến khám phá và cuối cùng là hàn gắn. (Có một ít chi tiết trong phần này liên quan nhiều hơn đến chữ Yêu mà Liz lấy làm tựa cho phần thứ ba, nên tôi sẽ đề cập ở phần đó sau.)

Cuộc sống của tôi đã tan thành từng mảnh và tôi không thể nhận ra chính mình nữa… Nhưng tôi đã cảm nhận một tia hạnh phúc lấp lánh khi bắt đầu học tiếng Ý, và khi cảm thấy niềm hạnh phúc tiềm tàng mong manh sau những giai đoạn âm u như thế, ta phải bám chặt lấy mắt cá chân của nó và không buông ra cho đến khi nó kéo ta ngẩng mặt lên khỏi cát bụi…

1 Comment

Filed under Du ký