Category Archives: Phi hư cấu khác

Từ Beirut đến Jerusalem

Tác giả: Thomas Friedman. Alpha Books và NXB Thế giới phát hành năm 2014. Đặng Ly dịch.

Tôi thấy đây là cuốn sách đáng đọc nhất của Friedman trong số bốn cuốn sách của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Nó thật ra lại là cuốn sách đầu tay của ông. Tôi nghĩ là trong các cuốn sau này ông có xu hướng khái quát hóa nhiều quá dẫn tới đưa ra nhiều luận điểm không chính xác. Cuốn sách đầu tay này của ông được viết trong phạm vi tập trung hơn và các sự kiện được khai thác sâu sắc hơn.

Nó cũng là một cuốn sách rất đáng đọc trong hoàn cảnh số đầu sách tiếng Việt về Trung Đông ở Việt Nam là rất ít ỏi (tôi không kể ra được quá 10 cuốn). Ví dụ trước đây tôi cũng đọc báo chí và các bài nghiên cứu về Trung Đông nhưng chỉ bắt đầu cảm thấy mình rốt cục cũng nắm bắt được một điều gì đó về khu vực này kể từ sau khi đọc xong cuốn sách này. Chỉ mỗi tội là tới giờ (2017) đã là gần 30 năm trôi qua kể từ ngày cuốn sách được xuất bản lần đầu, nghĩa là những gì cuốn sách nhắc tới chỉ còn mang tính lịch sử và đã có quá nhiều chuyện xảy ra ở Trung Đông kể từ ngày đó tới giờ.

Cuốn sách cơ bản gồm hai phần: về Li-băng và về Israel. Mỗi phần đều có thể làm một cuốn sách độc lập. Xâu chuỗi hai phần là trải nghiệm làm báo của Friedman.

Phần viết về Li-băng rất hay vì thông qua một số sự kiện nổi bật tại Li-băng, Friedman giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về những vấn đề của khu vực. Li-băng cơ bản chỉ là cái sân khấu. Dĩ nhiên họ có những vấn đề riêng của họ, nhưng những người khác đã bước chân lên cái sân khấu đó cũng mang theo những câu chuyện riêng của họ. Người Mỹ. Người Israel. Người Palestine. Friedman dùng khá nhiều giấy mực để phơi bày những chiêu trò của Arafat và các bên khác dưới cái được gọi là cuộc cách mạng giải phóng Palestine vốn đã (hoặc vẫn) được tô màu hồng ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam. Phần này cũng có những so sánh thú vị giữa Israel và Palestine – hai cộng đồng cùng tìm kiếm một nơi trú ẩn và một nhà nước thống nhất nhưng theo những cách khác nhau và, theo Friedman, bởi vậy có được hai kết quả khác nhau – ít ra cũng đáng để suy nghĩ.

Israel đã được nhắc tới từ phần Li-băng nhưng hiện ra rõ nét hơn nhiều ở phần sau trong những đặc tả về mối liên hệ phức tạp giữa họ và người Palestine trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó Friedman cũng dành nhiều phần nói về mối liên hệ giữa người Do Thái sống ở Israel và người Do Thái ở những nơi khác trên thế giới mà đặc biệt là ở Mỹ. Đó cũng là câu chuyện cá nhân vì bản thân tác giả cũng là một người Mỹ gốc Do Thái, thành ra phần này viết cũng nhiều cảm xúc hơn phần Li-băng. Tôi thì lại thích phần Li-băng hơn.

Những phân tích của tác giả về con đường hòa bình cho khu vực ở phần cuối cuốn sách có lẽ đến nay đã được thực tế chứng minh là sai (hoặc là vẫn chưa đúng) bởi đến giờ các phe phái trong khu vực vẫn cứ giằng co qua lại, chưa kể là vài năm gần đây còn có thêm sự hoành hành của IS, vượt quá mọi dự cảm từ cách đây vài chục năm. Tôi không bình luận nhiều về phần này vì không đủ hiểu biết để bàn luận.

Vậy tóm lại tôi thấy đây là một cuốn sách đáng đọc để hiểu được Trung Đông những năm cuối thập niên 1980. Có lẽ nhiều chuyện của thời đó vẫn còn tiếp diễn cho tới bây giờ, hay chí ít cũng vẫn liên quan tới các sự kiện thời sự ngày nay, nên cuốn sách cũng có thể giúp chúng ta bơi được tốt hơn giữa đủ mọi làn sóng thông tin hiện tại về khu vực phức tạp này.

Sách rất dày, cỡ 850 trang, nên đọc cũng vất vả, nhất là với những ai còn rất mơ hồ về Trung Đông. 200 trang đầu tôi đã đọc tới 2 lượt trước khi có thể tiêu hóa được các thông tin trong đó mà đọc tiếp. Với những người không ưa kể chuyện dông dài mà thích ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề thì có thể sẽ hơi bực mình khi đọc vì kể chuyện dông dài là văn phong của Friedman mà. Còn với các bạn thích hóng chuyện và thích những cuốn sách dễ đọc, ít khô khan thì không vấn đề gì cả.

Ghi chú cuối cùng: sách khá nhiều lỗi dịch nhỏ, có lẽ do biên tập ẩu.

Leave a comment

Filed under Du ký, Phi hư cấu khác

Vào trong hoang dã

I now walk into the wild.

Ngay sau khi đọc câu này, tôi lập tức bị nó ám ảnh. Nó như không chỉ là lời nhắn của Chris McCandless cho Wayne: Giờ em đi vào miền hoang dã đây (theo bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Vân, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn, 2015). Nó như một lời tuyên bố với cả thế giới: Giờ tôi bước vào trong hoang dã.

Nghe như một câu thơ.

Cuốn sách này mang tới cho tôi hai ngạc nhiên. Ngạc nhiên thứ nhất là tại sao Jon Krakauer lại quan tâm tới Chris McCandless nhiều đến thế, tới mức phải đi tìm hiểu xem trước khi chết McCandless là ai, sống một cuộc sống như thế nào, rồi viết một cuốn sách về cuộc đời và cái chết của anh. Xét cho cùng, một thanh niên “đi phượt” rồi chết cũng chỉ như một cái tin có thể xuất hiện trên báo vào bất cứ ngày nào, rồi sẽ lại nhanh chóng bị lấp đi bởi những tin tức khác, như là nổ bom chết hàng chục, hàng trăm người chẳng hạn.

Ngạc nhiên thứ hai là không ngờ không chỉ có Krakauer mà còn có vô cùng nhiều người ngưỡng mộ chuyến đi vào miền hoang dã đó của McCandless. Tôi không ngạc nhiên chuyện bản thân mình ngưỡng mộ chuyến đi đó, nhưng tôi cũng không ngạc nhiên khi biết rằng nhiều người cho đó là xuẩn ngốc. Như đã nói, tôi lại vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng trên thế giới không chỉ còn mà còn rất nhiều người thích cái ý tưởng về một chuyến đi như thế, dù không phải ai cũng dám thực hiện.

Hay là chuyến đi của Chris McCandless là hiện thân của một giấc mơ của rất nhiều người?

Và không chỉ là một giấc mơ. Vẫn luôn có những người đã, đang, và sẽ thực hiện những chuyến đi nguy hiểm như thế. Krakauer chính là một trong số đó.

I put a foot through a snow bridge spanning a slot so deep I couldn’t see the bottom of it. A little later I broke through another bridge to my waist; the poles kept me out of the hundred-foot crevasse, but after I extricated myself, I bent double with dry heaves, thinking about what it would be like to be lying in a pile at the bottom of the crevasse, waiting for death to come, with nobody aware of how or where I’d met my end.

[Tôi đặt một chân qua một chiếc cầu tuyết bắc ngang một khe nứt sâu tới mức tôi không nhìn thấy đáy. Một lát sau tôi vượt qua một chiếc cầu khác ở bên hông; những chiếc cột đã giữ tôi khỏi rơi xuống khe vực sâu cả trăm foot ấy, nhưng sau khi thoát khỏi đó, tôi gập người thở dốc, nghĩ rằng không biết sẽ ra sao nếu mình nằm thành một đống dưới đáy vực, chờ cái chết tới, mà chẳng ai hay tôi đã kết thúc cuộc đời mình ở đâu hay như thế nào.]

Bản thân tôi đã từng trải qua một ý nghĩ gần như thế. Tôi đã từng một mình đi qua những con đường mà một bên là vực thẳm, tuy là không quá nguy hiểm (đường rộng) và thỉnh thoảng vẫn có người qua lại, nhưng đủ vắng vẻ để một ý nghĩ tương tự đã đến với tôi một cách tự nhiên: có lẽ mình chết ở đây cũng không ai hay. Có lúc tôi cũng thoáng nghĩ, nếu chẳng may chết dưới vực kia, không biết liệu sau bao lâu người ta sẽ tìm thấy tôi.

Đang ngồi đây viết thế này nghĩa là tôi chưa mất mạng vì một chuyến đi liều lĩnh nào. Thật ra, các chuyến đi của tôi cũng không có gì gọi là nguy hiểm lắm. Tôi chưa đủ liều và có lẽ cũng chưa đủ buồn chán thế giới văn minh đến mức phải nhất định bước vào trong hoang dã và đoạn tuyệt với xã hội một thời gian.

Có lẽ chỉ đủ để làm một độc giả tận tình của cuốn sách này của Krakauer mà thôi.

I was twenty-three, a year younger than Chris McCandless when he walked into the Alaska bush. My reasoning, if one can call it that, was inflamed by the scattershot passions of youth and a literary diet overly rich in the works of Nietzsche, Kerouac, and John Menlove Edwards, the latter a deeply troubled writer and psychiatrist who, before putting an end to his life with a cyanide capsule in 1958, had been one of the preeminent British rock climbers of the day. Edwards regarded climbing as a ‘psycho-neurotic tendency’; he climbed not for sport but to find refuge from the inner torment that framed his existence.

[Khi đó tôi hai mươi ba tuổi, ít hơn Chris McCandless một tuổi khi anh bước vào vùng rừng rậm Alaska. Lý lẽ của tôi, nếu có thể gọi như vậy, tới từ những đam mê vu vơ của tuổi trẻ và một thực đơn văn chương quá giàu những tác phẩm của Nietzsche, Kerouac, and John Menlove Edwards, người cuối cùng là một nhà văn và nhà tâm thần học rất nhiều phiền muộn, người, trước khi tự kết thúc cuộc đời mình bằng một viên cyanide vào năm 1958, đã là một trong những nhà leo núi người Anh vĩ đại nhất thời đó. Edwards xem leo núi như một ‘khuynh hướng tâm thần’; ông leo núi không phải như chơi một môn thể thao mà để tìm nơi trú ẩn cho sự giày vò nội tâm bên dưới sự tồn tại của mình.]

(Hai đoạn dịch trong ngoặc vuông ở trên là tôi dịch lại từ bản tiếng Anh, vì không có bản tiếng Việt.)

Chris McCandless đã không còn sống để có thể tự kể lại câu chuyện của mình, nhưng cuộc đời anh đã hiện ra một cách sống động dưới ngòi bút của Krakauer. Tôi thích cách tác giả phục dựng lại câu chuyện; vừa sử dụng lời kể của mình; vừa trích dẫn nhật ký, thư từ, bưu thiếp, hay những đoạn được đánh dấu trong những cuốn sách của Chris; ghi lại các mô tả hồi tưởng của gia đình và bạn bè của anh, cũng như của những người mà anh này gặp trong suốt thời gian rong ruổi trên đường cho tới lúc anh vào được trong miền hoang dã của Alaska; đồng thời cũng cung cấp thêm những thông tin thực tế (như thời gian, thời tiết, địa hình, vị trí địa lý, thực vật…) giúp người đọc hình dung được câu chuyện tốt hơn. Đó là chưa kể tác giả còn kể thêm những câu chuyện liên quan, của chính mình và của những người khác, như để đặt cạnh nhau những cuộc đời khác nhau về không gian và thời gian, để chúng soi chiếu lẫn nhau.

Chân dung Chris McCandless hiện lên trong cuốn sách tôi thấy cũng thú vị. Hơi lập dị tí nhưng dễ thương (Bảo Bình mà). Nếu anh này còn sống, có thể độ cực đoan sẽ giảm đi (bởi nếu không thì khó sống lắm).

“His face had a strange elasticity: It would be slack and expressionless one minute, only to twist suddenly into a gaping, oversize grin…”

“’He was wearing long shorts and this really stupid hat,’ says Jan Burres, a forty-one-year-old rubber tramp who was traveling around the West selling knick-knacks at flea markets and swap meets with her boy friend, Bob. ‘He had a book about plants with him, and he was using it to pick berries, collecting them in a gallon milk jug with the top cut off…’”

“We were always trying to pull him back from the edge.”

“…lab reports had to be written in a particular format to make grading them a manageable proposition. Chris thought it was a stupid rule and decided to ignore it. He did his lab reports, but not in the correct format so the teacher gave him an F.”

“Chris didn’t like being told what to do. I think he would have been unhappy with any parents; he had troubles with the whole idea of parents.”

“Chris invented this workout he called Road Warriors: He would lead us on long, killer runs through places like farmers’ fields and construction sites, places we weren’t supposed to be, and intentionally try to get us lost. We’d run as far and as fast as we could, down strange roads, through the woods, whatever. The whole idea was to lose our bearings, to push ourselves into unknown territory. Then we’d run at a slightly slower pace until we found a road we recognized and race home again at full speed. In a certain sense that’s how Chris lived his entire life.”

“Two years after he sweated over the grill in Bullhead, his colleagues at the golden arches don’t recall much about Chris McCandless. ‘One thing I do remember is that he had a thing about socks,’ says the assistant manager, a fleshy, garrulous man named George Dreeszen. ‘He always wore shoes without socks – just plain couldn’t stand to wear socks. But McDonald’s has a rule that employees have to wear appropriate footwear at all times. That means shoes and socks. Chris would comply with the rule, but as soon as his shift was over, bang! – the first thing he’d do is peel those socks off. I mean the very first thing. Kind of like a statement, to let us know we didn’t own him, I guess. But he was a nice kid and a good worker. Real dependable.’”

“He could do the job – he cooked in the back – but he always worked at the same slow pace, even during the lunch rush, no matter how much you’d get him to hurry up. Customers would be stacked ten-deep at the counter, and he wouldn’t understand why I was on his case. He just didn’t make the connection. It was like he was off in his own universe.”

“’Even when he was little,’ says Carine, who was born three years after Chris, ‘he was very to himself. He wasn’t antisocial – he always had friends, and everybody liked him – but he could go off and entertain himself for hours. He didn’t seem to need toys or friends. He could be alone without being lonely.’”

“Everett was a loner, but he liked people too damn much to stay down there and live in secret the rest of his life. A lot of us are like that – I’m like that, Ed Abbey was like that, and it sounds like this McCandless kid was like that: We like companionship, see, but we can’t stand to be around people for very long. So we get ourselves lost, come back for a while, then get the hell out again.”

Tuy nhiên, có một chi tiết tôi cho là hơi lạc nhịp với bức tranh chung, và là một phỏng đoán sai lầm. Ấy là đoạn tác giả trích lời Carine McCandless cho rằng Chris đã rút khỏi đội kèn (French horn) vì không muốn bị xếp ở vị trí kém hơn em gái mình. Tôi cho rằng sự hơn kém so với người khác không phải là điều mà một người như Chris mảy may bận tâm đến. Với em gái mình thì càng không. Ngoài chi tiết này ra tôi không thấy có chi tiết nào khác có ý nói rằng Chris đã từng tỏ ra khó chịu chuyện thua kém gì ai. Ngược lại, hồi mới học lớp ba anh chàng còn nằng nặc đòi xin ra khỏi một chương trình dành riêng cho các học sinh có năng lực vượt trội (an accelerated program for gifted students). Chỉ có thể nói như giáo viên của anh trước sự việc ấy, “Chris marches to a different drummer”. Chris có cả một thế giới riêng để lưu tâm đến, cạnh tranh khó mà là tính cách của anh.

Những tranh cãi xung quanh cái chết của McCandless – đáng tiếc hay “đã dốt còn tưởng mình nguy hiểm” – chắc sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu vì mỗi bên đi theo những giá trị khác nhau. Những người cảm thấy tức giận trước việc tung hô chuyến đi và cái chết lãng xẹt của McCandless đặt cao giá trị của sự sống sót – survival; còn những người ủng hộ sự phiêu lưu của anh này đặt một giá trị khác cao hơn cả sống sót, ấy là passion – nói một cách dân dã là phải có sự đắm đuối trong lòng một tí. Một bên thì sống thực tế hơn, còn bên kia thì mơ mộng hơn. Dĩ nhiên lý tưởng là nên cân bằng cả hai, không quá lệch về bên nào.

Krakauer có ý bảo vệ Chris khi phân tích rằng cái chết của anh này phần nhiều là do xui xẻo, chứ không phải do quá coi thường tính mạng của mình. Tôi cơ bản cũng đồng ý vậy. Mặc dù Chris có ý thức được rằng chuyến đi có thể nguy hiểm tới tính mạng – if this adventure proves fatal – tôi cũng nghĩ như tác giả cuốn sách rằng ở cái tuổi so green như vậy, khái niệm về cái chết với một thanh niên bình thường trên thực tế còn khá trừu tượng và xa vời.

“I knew that people sometimes died climbing mountains. But at the age of twenty-three, personal mortality – the idea of my own death – was still largely outside my conceptual grasp.”

“At that stage of my youth, death remains as abstract a concept as non-Euclidean geometry or marriage.”

Câu chuyện của Chris kết thúc buồn. Phần cuối của cuốn sách có thể làm người ta rơi nước mắt. Tôi đã đọc cuốn sách này hai lần, và có lẽ thỉnh thoảng sẽ đọc lại.

Leave a comment

Filed under Phi hư cấu khác

Where I’m reading from

Where I’m reading from: The changing world of books by Tim Parks – New York Review Books, 2015; first published in 2014.

I enjoyed the first two parts of the book – “The world around the book” and “The book in the world” – more than the latter two – “The writer’s world” and “Writing across worlds”. Perhaps because I am an ordinary reader more than a writer and translator it was easier for me to feel connected with what Tim Parks has to say about reading than with what he talks about when he touches on the more sophisticated craft of writing and especially that of translation.

Overall I find the book very thought-provoking. It can push an ordinary reader/writer/translator to look beyond his/her ordinary experiences by posing a lot of good questions. Going through the book readers can become more aware of what may lie behind our seemingly natural ways of reading, writing, translation, and thinking about books, including some biases created by a globalized world of book making and mainstream culture(s) of reading. What the author talks about in this book is not only worth noticing but also thinking further than what he’s written; all topics are good for discussion and further analysis.

However, the book lacks a bit of blend as a coherent discussion. This might be because it is a put-together of a number of independent articles Tim Parks has written here and there: the endings of many essays are really more an end to themselves than a link to the next, which sometimes makes the book difficult to follow. On the other hand, this is a book you can start reading, or reread, from anywhere you like.

Leave a comment

Filed under In English, Phi hư cấu khác

Ngầm (Murakami)

Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng

Trần Đĩnh dịch từ bản tiếng Anh. Nhã Nam và NXB Văn hóa Sài Gòn phát hành năm 2009.

© 1997 Haruki Murakami

Cứ lần lữa mãi việc viết review cho cuốn này vì chẳng đọc được thêm cuốn nào trong số ít nhất hàng chục cuốn sách viết riêng về thảm kịch này, chưa kể những cuốn dành cho nó một phần hoặc một chương. Nhưng thôi kệ cứ review lần một, sau này có muốn review lần nữa thì tính sau. Phải review cuốn này vì còn muốn review 1Q84 (dù không thích cuốn đấy), mà review 1Q84 là sẽ muốn nhắc đến Ngầm một chút.

Giống như nhiều thảm kịch khác, vụ khủng bố bằng chất độc sarin trên một số tuyến tàu điện ngầm tại Tokyo năm 1995 được các báo lao vào đưa tin, phân tích, với các câu chuyện về nạn nhân và thủ phạm được đưa lên những trang nhất để mọi người có được một bức tranh càng nhiều chi tiết càng tốt về điều kinh hoàng vừa diễn ra. Ồn ào rồi cũng quên đi. Trừ các nhà nghiên cứu xã hội thì xắn tay vào nghiên cứu, viết sách, rồi những quyển sách đó sau này người Nhật có đọc không, thế giới có đọc không, thì tôi không rõ. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác chỉ được biết đến thảm kịch này nhờ cuốn Ngầm của Murakami. Tôi cũng không biết ở Việt Nam có còn dịch cuốn nào khác viết về thảm kịch này không (lại càng không dám nghĩ đến chuyện có người Việt đã viết sách về sự kiện này bằng tiếng Việt).

Ngầm là một cuốn sách đặc biệt, vừa có tính báo chí lại vừa không phải báo chí, vì Murakami dành không gian rộng hơn cho các câu chuyện cá nhân, và để cho các cá nhân mà ông phỏng vấn tự kể, ông chỉ là người ghi chép lại trên cơ sở cùng trò chuyện và đặt ra các câu hỏi gợi mở.

Ngầm cũng vừa như một nghiên cứu xã hội học lại vừa không phải. Về phương pháp tiếp cận, thực hiện phỏng vấn, tháo băng, ghi chép của Murakami cũng như việc ông mô tả tỉ mỉ trong cuốn sách mình đã thực hiện các công việc như thế nào thì hoàn toàn giống một nghiên cứu xã hội học định tính. Chỉ cái cách xử lý dữ liệu và lựa chọn định dạng đầu ra – tức là nội dung cuốn sách này – thì không phải là một nghiên cứu. Murakami là nhà văn, ông ít khi muốn áp đặt suy nghĩ, đánh giá của mình lên câu chuyện của nhân vật – dù có thật hay tưởng tượng – trong cuốn này thì ông cũng có bàn luận đôi chút, nhưng phần lớn cuốn sách là một tập hợp các câu chuyện cá nhân nhìn từ cả hai phía – nạn nhân và thủ phạm.

Đúng như mong muốn của Murakami, các câu chuyện của các nạn nhân hiện lên rất sống động và đọc xong có lẽ người đọc đều tự cảm nhận được một phần nào đó về cái mà ông gọi là “ruột gan của nước Nhật” lúc bấy giờ. (Nói cho chính xác hơn thì chỉ là tâm hồn của những thị dân Tokyo, chứ tôi không tin nước Nhật lại chỉ là một Tokyo phóng lớn.) Nhìn chung là rất nhiều câu chuyện hay về việc người Nhật đã giúp nhau như thế nào giữa lòng thảm kịch ấy, từ những nhân viên nhà ga, đến chính những người bị trúng độc đã xoay xở cứu giúp lẫn nhau, đến những bác sĩ ở một bệnh viện đã chủ động in một bản hướng dẫn xử lý nạn nhân trúng độc sarin và gửi đi cho khắp các bệnh viện lớn vì họ biết rằng không nhiều người có kinh nghiệm với việc này. (Phản ứng chậm chạp của ngành y tế lúc đó dĩ nhiên đã nhận chỉ trích.)

Trong các câu chuyện về các nạn nhân, tôi thấy xúc động nhất là câu chuyện của một cô gái mà đến khi Murakami đến gặp cô, hơn một năm sau thảm kịch, mới vừa thoát khỏi trạng thái thực vật, bắt đầu tập nói trở lại và phục hồi trí nhớ. Người anh trai cô đã gần nửa năm trời ngày nào cũng tới thăm cô sau giờ làm việc và trở về nhà chỉ ngay trước nửa đêm – ngày nào cũng vậy. Khi Murakami đến gặp cô ông cũng thấy rất bối rối không biết nên phải nói gì.

Tối hôm đến bệnh viện thăm, tôi đã muốn động viên cô bằng cách nào đó – nhưng bằng cách nào? Tôi nghĩ cái đó tùy thuộc vào tôi nhưng hoàn toàn không phải vậy; thậm chí không cần phải nghĩ đến việc động viên cô nữa. Cuối cùng chính cô lại là người khích lệ tôi

Trong quá trình viết quyển sách này, tôi đã đầu tư nhiều suy nghĩ nghiêm túc vào Câu hỏi Lớn: sống có nghĩa là gì? Nếu tôi ở vào địa vị Shizuko, liệu tôi có sức mạnh ý chí để sống tròn đầy như cô không? Liệu tôi có dũng cảm hay ngoan cường và quyết tâm như cô không? Tôi có thể nắm bàn tay một ai với hơi ấm và sức mạnh như thế không? Tình yêu của những người khác liệu có cứu được tôi không? Tôi không biết. Thật thà mà nói, tôi không chắc chắn lắm.

Về mặt kia của câu chuyện này là hàng ngàn câu hỏi tại sao xung quanh câu hỏi tại sao lớn nhất: tại sao thảm kịch này lại xảy ra? Trước hết, những câu chuyện của “bọn chúng”, tức là những thành viên của giáo phái Aum – chủ mưu của vụ khủng bố này, lại được kể lại qua ghi chép của Murakami về cuộc phỏng vấn của ông với họ. Từ những dữ liệu thô này, mỗi người đọc cũng có thể có những tự ngẫm riêng cho mình về sự hình thành và phát triển của một giáo phái cực đoan trong lòng một xã hội dường như đã có đủ mọi vật chất xa hoa mà lại có những khoảng trống mênh mông trong lòng nhiều con người vốn cũng rất bình thường như chính những nạn nhân của thảm kịch. Những lời cuối cùng của cuốn sách Murakami đã viết như sau:

…Nhưng chúng ta cần nhận thức rằng phần lớn những người gia nhập các giáo phái đều không phải là người dị thường, họ không có điểm gì thiệt thòi, họ không lệch lạc. Họ là những người sống cuộc đời thường thường bậc trung (và nhìn từ ngoài có khi còn hơn cả bậc trung nữa), những người đang sống gần quanh tôi. Và cả quanh bạn.

Có thể họ đã nghĩ về mọi chuyện hơi quá nghiêm túc một chút. Có lẽ trong nội tâm họ có nỗi đau nào đó họ cứ mãi mang theo. Họ không giỏi bày tỏ cảm xúc của mình cho người khác và có phần nào đó bất an. Họ không thể tìm ra cách thích hợp để tự diễn đạt bản thân, và cứ đắn đo qua lại giữa cảm giác kiêu hãnh và cảm giác mình thiếu năng lực. Tôi rất có thể là như thế. Và cả bạn nữa.

Còn nhiều trang viết khác trong cuốn sách này như đoạn trích ở trên – so với các cuốn tiểu thuyết của ông thì ở đây Murakami chia sẻ nhiều hơn về việc ông nghĩ gì về cuộc đời này. Trong các cuốn tiểu thuyết của mình, như các nhà văn khác, ông chỉ viết vài câu “triết lý” rất ngắn chen giữa câu chuyện của các nhân vật, rồi lại nhanh chóng đẩy người đọc trở lại thế giới tưởng tượng của mình.

Tôi rất muốn trích-chép thêm vài đoạn nữa để kết thúc bài review này, nhưng để mà chép cho thành một cái gì đó make sense một chút thì lại rất dài, nên thôi các bạn đọc sách (hoặc đọc lại) đi vậy.

Như đã nói từ đầu, tôi viết bài review này một phần là để “dọn đường” cho bài review tiếp về 1Q84, vì khi đọc quyển ấy tôi không thể không nghĩ tới Ngầm và giáo phái Aum. Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi nghĩ độc giả của Murakami nên đọc Ngầm trước khi đọc 1Q84. Tôi nghĩ là đọc theo trình tự ngược lại cũng rất thú vị, và hy vọng sẽ có bạn nào đọc theo trình tự ấy rồi viết review móc nối hai quyển cho tôi chống mắt lên đọc. Khi ấy tôi nhất định sẽ comment ;).

8 Comments

Filed under Phi hư cấu khác