Category Archives: Tiểu thuyết

T mất tích

Nội dung đơn giản, lối viết cuốn hút, không quá dài, và hương vị hơi là lạ, T mất tích là một cuốn sách thích hợp cho một kỳ nghỉ lười biếng nằm nhà đọc truyện. Để mất hút khỏi đời sống nhộn nhịp mà dõi theo câu chuyện của một người đàn ông mà vợ anh ta tự dưng biến mất cùng toàn bộ tư trang, chẳng nhắn nhủ lại điều gì. Chỉ là cuộc sống hàng ngày, những nhân vật lặp lại, vài ký ức về quá khứ, một ông bố qua đời, nói chung bình thường như cuộc đời của bất kỳ ai. Vậy mà đọc đến cuối có cảm giác như thời gian vừa ngưng lại cho mình nhìn lại vào cuộc đời của chính mình.

Cảm giác nếu T không mất tích, anh này cứ thế mà sống cuộc sống của anh ta thôi, chẳng có gì để kể cho chúng ta nghe cả, có khi chẳng bao giờ anh ta phải nghĩ gì về cuộc đời mình, về những nhân vật lặp lại, về những ký ức quá khứ, hay về ông bố mới qua đời. T mất tích chỉ như một cái cớ để kể chuyện. T qua lời kể của anh chồng chỉ như một cái bóng câm lặng, nhút nhát.

Đôi lúc cảm thấy hơi kỳ cục vì vợ biến mất (bỏ đi) mà ông chồng không xoắn quẩy lên tí nào, nhưng đọc theo mạch truyện dần cũng thấy quen, như bị sự tẻ nhạt của cuộc sống kia thuyết phục rằng ừ thì cũng chẳng có gì mà phải xoắn quẩy lên cả.

Gọi là tẻ nhạt nhưng những chi tiết của cuộc sống kia hiện ra rất rõ ràng, như trong một bộ phim, đọc đến đâu cũng tưởng tượng ra được dễ dàng. Điều ấy đòi hỏi một sự quan sát rất tỉ mỉ, tinh tế của người cầm bút. Chỉ có chỗ mô tả một nhân vật nữ qua mắt của nhân vật chính là nam mà mô tả chuốt mascara cong vút làm mình thấy hơi buồn cười vì chắc 90% đàn ông không biết được mascara là gì hay gái nào chải mascara gái nào không. Hoặc mình nhầm hoặc chỗ đó “lòi đuôi” là truyện của tác giả nữ.

Giống như Murakami trong 1Q84 khi đứng vai nữ cứ phải để nữ chính ám ảnh về kích cỡ bộ ngực của mình cho nó mang nét nữ tính, cảm giác tác giả Thuận trong truyện này đứng vai nam kể chuyện dường như cũng cố tình ép anh nam chính luôn phải dán mắt vào mấy cô ngực bự như để thêm phần nam tính cho nhân vật. Dù sao mình cũng thấy thích thú khi các nhà văn nữ đứng vai nam kể chuyện và ngược lại.

Truyện có nút thắt nhưng không cần mở. T mất tích là mất hút luôn. Nút thắt chính là nút mở. Từ đây anh nhân vật chính bước vào một chương mới trong cuộc đời. Không cần phải quằn quại, nhưng cũng là một dịp để ngẫm lại cuộc đời mình, cuộc đời của những người xung quanh mình, để chấp nhận cuộc đời với những gì mình có. Và những gì mình không.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Cô gái trên tàu

Tác giả: Paula Hawkins. Bản tiếng Việt do Nhã Nam và NXB Hội nhà văn xuất bản cùng năm với bản gốc, 2015. Huyền Vũ dịch.

Cuốn này rất dễ đọc, câu chuyện cuốn hút, có thể cầm sách đọc 1-2 hơi là xong. Phần mở đầu không hấp dẫn lắm khi dẫn dắt vào lát cắt cuộc đời của một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi đang rất bất ổn và không ngừng mơ về những ngày xưa cũ với người chồng cũ, người mà giờ đây đã là chồng một người khác. Nhưng khá nhanh chóng các tình tiết mới xuất hiện, kéo cô này lệch ra khỏi quỹ đạo cuộc sống đang bế tắc, lôi cô vào câu chuyện của những người khác mà hóa ra cuối cùng lại liên quan tới chính cô. Cái kết mang hơi hướng của một bộ phim drama của Mỹ, nên có phần thường, nhưng kể cũng hợp lý để kết lại câu chuyện.

Có lẽ điểm mạnh nhất của truyện là sức hấp dẫn đến từ việc câu chuyện được mở ra từ từ theo lối trinh thám. Khi đọc người đọc cũng buộc phải làm giống như nhân vật chính, là cố gắng chắp nối các tình tiết mắt thấy tai nghe với những ký ức đã bị rơi rớt còn lại không đầu không cuối, không biết có thực hay do tưởng tượng ra, đồng thời cũng lại tiếp tục nghe ngóng các tình tiết mới, để giải bài toán trước mặt. Và đến khi câu chuyện đã được sáng tỏ, tôi vẫn thấy còn cái cảm giác cuộc sống đúng là có những chuyện khó lường, trông vậy mà không phải vậy.

Tuy nhiên, cách viết đổi ngôi tôi giữa ba nhân vật nữ  có phần hơi khiên cưỡng và không tự nhiên lắm. Vì Rachel, cô gái ngồi trên tàu, rõ ràng là nhân vật chính như cái tựa gợi ý, đã được dành nhiều đất hơn cả. Cuộc sống và nội tâm của cô này được khắc họa đậm nét và có chiều sâu hơn so với hai cô kia. Về tổng thể, đây là một hành trình của Rachel. Một hành trình tìm hiểu một sự việc mà cô có ít nhiều liên quan dần dần trở thành một hành trình tìm lại bản thân mình khi dần hé lộ ra những bí mật liên quan tới tình cảnh khốn khổ của cô hiện giờ. Dù là đổi ngôi để người đọc có cái nhìn về câu chuyện từ một hướng khác nhưng rõ ràng chỉ nhằm bổ sung tình tiết cho câu chuyện mà Rachel đang theo đuổi. Lối viết đổi ngôi sẽ thú vị hơn khi đọc nếu các nhân vật lần lượt đứng ngôi tôi được xây dựng “ngang cơ” nhau.

Tôi thích cách tác giả xây dựng một nhân vật nghiện rượu phải vật lộn với những cơn nghiện của mình, những hậu quả gây ra sau mỗi lần say xỉn không biết trời đất, những khoảng trống mơ hồ trong ký ức. Một nhân vật có thể gây chán ngán cho người đọc, như một số bạn nhận xét, nhưng tôi nghĩ trong nhân vật đó có sự yếu đuối, sự chán chường, sự bất lực, và sự buông xuôi rất con người.

Trên GoodReads có một nhận xét rất thú vị là các nhân vật nữ trong truyện này đều thảm hại, ai cũng phải định nghĩa mình bằng những mối quan hệ với một hoặc vài người đàn ông. Thật ra thì những nhân vật nam trong truyện cũng vậy thôi, họ cũng có những vấn đề của họ, và cũng đều gặp rắc rối trong những mối quan hệ với phụ nữ. Những mối quan hệ xoắn quẩy giữa mấy người đàn ông và mấy người phụ nữ trong truyện này nó tạo nên một cái nền drama cho câu chuyện. Nhưng đúng là một số nhân vật nữ phụ trong truyện (bà mẹ, cô bạn cùng nhà) cũng được dựng lên là đang trong một mối quan hệ nào đó là những chi tiết thừa thãi chẳng liên quan gì tới câu chuyện chính. Ngoài ra cũng chẳng có thông tin gì khác về những nhân vật phụ này, thành ra những ai hơi nhạy cảm về nữ quyền có thể cảm thấy khó chịu.

Đọc truyện này xong lập tức nghĩ tới Gone Girl nhưng truyện đó chưa đọc mà mới xem phim.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

The end of the story

The end of the story by Lydia Davis – Picador, 2004; first published in 1994.

What would you do if you want to tell a cliché story of a woman who starts a relationship with a guy, then things go wrong, he leaves her, and she takes some time to get over it? Lydia Davis has a brilliant idea of writing a novel about a writer writing a novel based on a past relationship between herself and a guy twelve years younger than her. From this idea, The end of the story contains two stories intertwining with each other: one about the relationship, which is reconstructed and reflected from the writer-narrator’s memories of what happened, and the other about how she manages to live to write a fiction from that relationship.

So it is not just about how a person goes through a relationship but also, and perhaps more importantly, about how she reflects on a past relationship. Memories do not include everything, and for what is included part of them can be inaccurate or unclear, and how she interprets them now when she looks back maybe different from how she viewed them in the past when she was going through them. Same with how she feels looking back and how she felt back then. Everything comes out really lively and fascinatingly in the book, and it is especially interesting that Lydia Davis does that without using any dialogs but relying mainly on exquisite narration and descriptions. Lots of poetic writings. Sharp as she has always been.

The novel writing of the protagonist based on this – which means her very own – story is also depicted well with interesting details of the craft of creative writing embedded in a pretty typical life of a writer. Also just narration and descriptions yet I enjoyed reading a lot, really page-turning to me.

“The end of the story” is therefore about ending two stories, or more exactly, ending two things: the haunting ghost of a past relationship and the story told in the protagonist’s novel. If it is not always clear when a relationship ends in reality, it is even much more difficult to say when one is totally over a past relationship. I feel that we usually have to decide for ourselves when we are really over something if we really want to be exact about that, just to have a better sense of being really over it. In other words, if we want an end for something that seems to go on and on even when it seems to have ended before, we have to choose/create a point of ending for ourselves. Interestingly, it is very similar to how a writer ends his/her written story: he/she has to decide when the story ends. I guess that is why Lydia Davis came up with the idea of writing this book. She did a great job.

However, for a few times in the middle of the book I did find what I was reading a bit overwhelming. It could be that I was a bit fed up with either the richness of her writing or with the craziness of her characters, or both. I guess it’s just because the book is rich of real life.

Overall I loved the book. I will definitely read it again.

Leave a comment

Filed under In English, Tiểu thuyết

Nỗi cô đơn của các số nguyên tố

Khi đã đọc kha khá sách, bạn sẽ hầu như không kỳ vọng gì nhiều ở một cuốn sách. Bởi bạn biết rằng mỗi một cuốn sách mở ra có thể là bất kỳ điều gì: làm bạn ngạc nhiên, làm bạn chán ngấy, làm bạn bật cười, hoặc làm bạn ghê sợ. Bất kể đó là cuốn sách chẳng ai đọc hay hàng triệu người đọc. Cuốn của một tác giả đình đám, một tác giả vô danh, hay một tác giả bạn thích. Một cái tựa thú vị hay một cái tựa tầm thường. Không có gì có thể làm chỉ dấu cho bạn biết bạn sẽ cảm thấy như thế nào sau khi đọc xong một cuốn sách. Bạn chỉ có thể tự mình đọc sách và tự mình cảm nhận.

Và đôi khi, trong lúc chẳng trông đợi gì mà chỉ làm một việc đơn giản mà bấy lâu bạn vẫn làm – đọc sách, tự dưng bạn thấy mình phải lòng một cuốn sách. Ngỡ ngàng như một tia nắng quệt ngang qua cuộc đời bạn.

Tôi đọc gần như một lèo hết Nỗi cô đơn của các số nguyên tố của Paolo Giordano, một điều tôi rất hiếm khi làm. Thường tôi đọc sách nhẩn nha, vừa đọc vừa nghĩ ngợi và tưởng tượng gì đó. Đôi khi còn vừa đọc vừa viết. Còn cuốn sách này, nó như cùng một nhịp đập với tôi, tôi cứ đi theo dòng chảy của nó như đi theo một dòng chảy tự nhiên nào đó của chính mình, không cần nghĩ ngợi gì thêm, không cần thêm thắt điều gì. Cả tiết tấu của lời văn cũng như những ý tưởng mà nó mang theo, những tình cảm mà nó gợi lên gần như trùng khít với một khoảng trống mênh mông vô hình nào đó ở bên trong tôi bấy lâu nay.

Tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào có nhiều nỗi cô độc đến như thế. Mười cuốn sách của Murakami, một tác giả mà tôi yêu thích, cũng không có cuốn nào cô độc như cuốn này. Khởi sinh của cô độc cũng không cô độc như cuốn này. Ở đây tất cả các nhân vật đều cô độc. Tất cả, chứ không chỉ có cặp số nguyên tố sinh đôi Mattia và Alice. Cô độc trong toàn bộ cuộc đời mà họ đã sống. Truyện gần như không có tình tiết nào mang tính bùng nổ, là nơi mà người ta, dù là trong khoảnh khắc, giải phóng được hết sự cô độc trong con người mình. Một vài chi tiết có một chút ấm nóng cũng chỉ như một que diêm lóe lên giữa một trời băng tuyết rồi vụt tắt trước khi người ta kịp nhận ra sự tồn tại của nó. Một màu cô độc băng giá bao phủ lên toàn bộ cuốn sách, từ những dòng đầu tiên cho tới những dòng cuối cùng.

Một cuốn sách như thế hiển nhiên làm nhiều người khó chịu. Không ai thích sự cô độc cả, kể cả khi nó chỉ là một câu chuyện tưởng tượng trên giấy. Nhưng với một số người khác, nó chỉ đơn giản như một tấm chân dung gần gũi nhất với cuộc đời bình thường mà trước tới nay họ sống và trải nghiệm.

Khác với nhiều cuốn sách khác viết về những con người cô độc, trong cuốn này Paolo Giordano không dựng lên những bức tranh quá chi tiết về nội tâm của nhân vật. Rất ít nước mắt. Không cần tới những cái chết. Tất cả các nhân vật của anh đều bằng cách này hay cách khác kiềm chế những lời nói và hành động của mình, dù biết rằng lựa chọn mà họ đưa ra vào lúc này đây sẽ để lại kết quả làm thay đổi toàn bộ cuộc đời họ kể từ đó trở về sau. Không ít lần các nhân vật trong truyện đã mường tượng chi tiết trong đầu họ sẽ nói những gì, sẽ làm những gì, và rồi sau đó họ lại bất động. Như thể nỗi cô độc từ bên trong đã phong tỏa con người họ, khiến họ tê liệt trước cuộc đời.

Sự thức giấc chỉ phá hủy một phần các cấu trúc ý nghĩ. Alice dậy khi không thể làm khác được nữa và sự lộn xộn của giấc ngủ mơ dần dần giảm đi, để lại trong đầu cô những vết rơi rớt, giống như những ký ức ngắt quãng trộn lẫn với những ký ức khác và không có vẻ gì là không thật cả. Cô lang thang trong căn hộ vắng lặng như bóng ma của chính mình đang chậm chạp bám theo sự minh mẫn của bản thân. Đôi khi cô nghĩ mình đang phát điên. Nhưng cô cũng chẳng lấy làm tiếc về điều đó. Ngược lại, nó khiến cô mỉm cười, bởi cuối cùng cô chính là người chọn lựa.

Tác giả cố gắng để truyện kết thúc một cách sáng sủa, bằng cách để Mattia cho tay vào túi và tìm thấy miếng giấy ghi số điện thoại của Nadia, còn Alice thì nghĩ rằng “[v]ới một chút khó khăn mệt nhọc, cô đã biết tự đứng dậy một mình.” Tuy thế, nếu lắp hai cái chi tiết ấy vào toàn bộ câu chuyện mà cuốn sách vẽ ra, tôi thấy nó cũng lại giống như hai que diêm được đốt lên giữa một trời tuyết trắng, như “[d]òng sông tạo tiếng xào xạc yếu ớt và mơ màng”.

Bên cạnh hình ảnh cặp số nguyên tố sinh đôi “cô độc và mất mát, tuy rất gần mà không đủ để thật sự đến được với nhau” được sử dụng làm biểu tượng đặt ở trung tâm của cuốn sách, một chất liệu đã góp phần quan trọng tạo nên hình hài và màu sắc cho tác phẩm chính là những mô tả ngắn gọn và khô khốc của tác giả về thế giới vật chất xung quanh các nhân vật của anh. Các kiến thức khoa học được đưa vào trong những dòng mô tả ấy khá tự nhiên và vừa phải, không bị phô phang và có phần sến sẩm như trong một cuốn sách cũng thuộc hàng bestseller của một anh tiến sĩ một ngành kỹ thuật đi viết văn khác là Cô đơn trên mạng. Có nhiều đoạn trong cuốn sách tôi đã nghĩ nhân vật sẽ nói thêm điều gì đó, làm thêm điều gì đó thì tác giả thay vào đó là một đoạn mô tả không tô vẽ. Tôi không cảm thấy thất vọng vì những chỗ đó mà ngược lại, nhờ đó tôi cảm nhận được rõ hơn sự đóng băng của nhân vật.

“Cậu thích học thật à?”

Mattia gật đầu.

“Tại sao?”

“Đó là điều duy nhất mình biết làm.” Cậu trả lời chậm rãi. Cậu muốn nói cậu thích học vì cậu có thể làm điều đó một mình, bởi vì tất cả những gì phải học đều đã chết rồi, lạnh lẽo và cứng ngắc máy móc. Cậu muốn nói với Alice rằng những trang sách ở trường đều có nhiệt độ giống nhau, chúng sẵn sàng cho bạn thời gian để chọn lựa, chẳng bao giờ gây đau đớn và bạn cũng chẳng thế khiến chúng thấy đau. Nhưng cậu chỉ im lặng.

Sự cô độc của các số nguyên tố có thể mang lại cảm xúc gì cho bạn, tôi không biết, nhưng chắc chắn nó là một cuốn sách đã mô tả được một cách chân thực một lát cắt của cuộc sống ngày nay như nó đang là.

Cuốn sách được dịch bởi Lê Thúy Hiền, bản quyền tiếng Việt © Nhã Nam 2009. Bản dịch căn bản là ổn và cẩn thận, chỉ một vài chỗ tôi sẽ ưng cách sử dụng đại từ khác đi một chút.

2 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Nhật ký của Bridget Jones

Bridget Jones’s Diary: a novel, xuất bản năm 1996, tác giả Helen Fielding.

Thật ra nếu không đọc Kẻ ích kỷ lãng mạn thì có lẽ tôi cũng không định đọc Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết đâu, bởi vì tôi rất lười đọc những truyện mà tôi đã xem phiên bản phim ảnh. Nhưng ngay khi bắt đầu đọc nhật ký của Oscar Dufresne là tôi đã rất tò mò không biết một phiên bản nữ của một cuốn nhật ký của một kẻ độc thân ngoài ba mươi tuổi thì viết những gì. Đọc hai trang đầu rồi lướt qua vài trang đã thấy hài hước, thế là đọc thôi.

Về cốt truyện, truyện này rõ ràng là lấy cảm hứng từ Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen, với nhân vật nam chính chính diện tên là Mark Darcy và câu chuyện chủ đạo là nàng Bridget Jones về cuối truyện thì thành đôi với Mr Darcy ngoan hiền lý tưởng này sau những ấn tượng không tốt lúc ban đầu. Nhưng dĩ nhiên là để trở thành một cuốn sách bán chạy, giành giải British Book of the Year năm 1998, và tạo đà cho bộ phim bom tấn cùng tên, thì Nhật ký của Bridget Jones có những nét đặc sắc riêng thú vị.

Trước hết, nhân vật chính, Bridget Jones, không phải là dạng nhân vật kiểu thông minh xinh đẹp hoàn hảo như Lizzy Bennet hay là kiểu cá tính hiện đại mà ngọt ngào đáng yêu như các vai diễn của Julia Roberts mà là một cô nàng bình thường không có gì nổi trội, hút thuốc uống rượu như ai, suốt ngày phải leo lên cân kiểm tra cân nặng, ăn uống kiêng khem các kiểu vì sểnh tí là tăng cân, chưa kể khá là vụng về, đụng đâu hỏng đó trong suốt truyện, và hơi “éo le” một tí là ngoài ba mươi rồi mà phải đau đầu vì chuyện DKNY (a.k.a. đếch kó người yêu – slang của gái Việt thời nay thì phải :D). Điểm mạnh của những nhân vật kiểu vô cùng bình thường như thế là người đọc dễ dàng nhìn thấy một phần mình ở trong đó: những bất an về bản thân, bất an về chuyện tình cảm, cảm giác bối rối trước những tình huống khó xử trong cuộc sống thường ngày, và nhiều khi nghĩ một đằng nhưng phải nói ra một nẻo khác.

Định dạng của cuốn sách – một cuốn nhật ký – cùng lối viết hài hước và tinh tế của tác giả như một lựa chọn rất phù hợp để kể câu chuyện về một năm đáng nhớ của cô nàng Bridget Jones gần như đụng đâu hỏng đó này, bởi nhìn chung đọc thấy xuôi xuôi, buồn cười, dễ chịu mà không bị nhàm chán. Với cá nhân tôi thì tâm tư của nàng này bấn loạn quá, dẫn tới đời sống cũng khá dramatic (tuồng chèo) nên thỉnh thoảng đọc thấy hơi mệt đầu, cộng thêm việc đã trót xem phim rồi thực lòng có lúc đã muốn bỏ không đọc nữa.

Bỏ qua chuyện đó thì tôi thấy truyện này khắc họa được rất rõ những băn khoăn nội tâm của Bridget trước việc sống như thế nào cho đúng với bản chất con người mình, được nói ra những điều mình thực nghĩ giữa những giao tiếp xã hội thường ngày không tránh khỏi những định kiến, xã giao, và giả dối. Rõ ràng là chúng ta ai cũng phải ít nhiều trải qua những tình huống kiểu như thế mà không phải lúc nào cũng có thể phản ứng theo như mình thật sự muốn.

Về đời sống tình cảm éo le của Bridget thì ở góc nhìn của một người đọc hóng chuyện tôi thấy câu chuyện của Bridget với anh chàng phản diện Daniel Cleaver thú vị hơn nhiều với Mr Darcy hoàn hảo. Cũng có thể có những người đọc sẽ cảm thấy Bridget dở hơi đến khó chịu khi cứ mù quáng tự cuốn mình vào trò mèo vờn chuột rất hại não và đau tim của Daniel nhưng là một người mê mệt Hugh Grant nhiều năm, tôi rất chi là thông cảm với Bridget :D. Và xét trên khía cạnh thực tế mà nói, chuyện lụy tình vì những người cơ bản là chả coi mình ra gì trong thiên hạ xưa nay cũng không phải là hiếm lol. Những ai đã từng và/hoặc vẫn đang khốn khổ vì lụy tình nên đọc thử truyện này cho biết :D.

Với mọi thứ éo le như thế thì cái kết của Bridget với Mr Darcy hoàn hảo tuy có hơi nhạt (không có đoạn lãng mạn nàng mặc thiếu quần áo chạy xuyên màn tuyết rơi đuổi theo chàng như trong phim nhá) nhưng cũng hợp lý cho một cái kết truyện, để khép lại một năm sóng gió, bù đắp lại những điều không may khốn khổ của Bridget. Đại khái là kiểu độc giả như tôi dù biết đời thì không như là sách nhưng đọc truyện kiểu kết thúc có hậu như thế thì vẫn thấy ấm lòng hơn là những cái kết hiện đại hơn một tí kiểu và thế là nhân vật chính lại tiếp tục trôi dạt trong cô đơn đến khi nào chẳng rõ :D.

Một tâm sự nhỏ bên lề, không quan trọng lắm, ấy là nếu tôi làm cuốn sách tiếng Việt của cuốn này, tôi sẽ dịch nguyên văn cái tựa từ tiếng Anh sang thành Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết thay vì cái tựa Nhật ký tiểu thư Jones của NXB Trẻ. Cái tựa sách ấy thực ra rất hay và có khi với nhiều người còn hấp dẫn hơn cả cái tựa gốc, vả lại hình như là dịch theo tựa phim cho dễ bán sách – chuyện đó hoàn toàn dễ hiểu – chỉ là tôi về cơ bản thuộc trường phái thích những bản dịch càng sát với bản gốc càng tốt vì dù hay dù dở thì đó cũng là đứa con tinh thần của tác giả, cứ để nguyên trạng là tốt nhất, không cần tô vẽ thêm. Chỗ này phải mở ngoặc là tuy có bảo thủ một chút như vậy, tôi hoàn toàn không phản đối chuyện các dịch giả sáng tạo và đặt dấu ấn cá nhân lên các tác phẩm dịch, ví dụ cái tựa Đắc nhân tâm do cụ Nguyễn Hiến Lê dịch quá hay so với tựa của bản gốc, không thể chê vào đâu được.

Hết, không còn gì để bình luận với tâm sự thêm nữa.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Kẻ ích kỷ lãng mạn

Bản dịch tiếng Việt bởi Phùng Hồng Minh, © Nhã Nam, 2013. Bản tiếng Pháp © Éditions Grasset & Fasquelle, 2005.

Liệu có cuốn tiểu thuyết nào lại giống một cuốn nhật ký hơn Kẻ ích kỷ lãng mạn của Frédéric Beigbeder không nhỉ? Tôi thì tôi chưa được biết. Hoặc là tôi đọc hồi ký hoặc là tôi đọc tiểu thuyết. Nhật ký duy nhất mà tôi đọc là nhật ký của chính mình :D.

Trang Wikipedia tiếng Anh về tác giả có viết: Frédéric Beigbeder’s work can be organised in three main categories. [Trong đó,] Autobiographical novels: This style of book is about the author’s life although he does not explicitly describe them as an autobiography.

Tạm dịch: Các tác phẩm của Frédéric Beigbeder có thể chia làm ba loại. [Trong đó,] Tiểu thuyết tự truyện: Dạng sách này nói về cuộc đời của tác giả mặc dù anh ta không công khai gọi chúng là tự truyện.

Vậy Kẻ ích kỷ lãng mạn là nhật ký hay tiểu thuyết?

“’Nhật ký’ là gì? Là một cuốn tiểu thuyết.”

– Jacques AUDIBERTY,

Ngày Chủ nhật đang đợi tôi, 1965.

(Trích dẫn của tác giả ở trang đầu của cuốn sách.)

Điều tôi thấy thú vị ở cuốn sách này là định dạng của nó – dường như nằm lập lờ giữa hai khái niệm ‘nhật ký’ và ‘tiểu thuyết hư cấu’ (fiction). Tôi nghĩ đây bản chất là một cuốn tiểu thuyết hư cấu được viết dưới dạng nhật ký (là nhật ký của Oscar Dufresne và là tiểu thuyết của Frédéric Beigbeder). Có điều, nó giống một cuốn nhật ký thông thường tới nỗi người ta dễ nghĩ tới nó như một cuốn nhật ký hơn là như một cuốn tiểu thuyết hư cấu. Để so sánh, khi nhắc tới một tác phẩm tương tự là Bridget Jones’s Diary: a novel (Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết, đã được dịch sang tiếng Việt với cái tên Nhật ký tiểu thư Jones – cho cả phim và sách, mà dường như là tựa sách bắt chước tựa phim) người ta dễ nghĩ tới nó như là một cuốn tiểu thuyết hư cấu nhiều hơn là một cuốn nhật ký. Có thể đây là lý do vì sao Bridget Jones – nhân vật hư cấu của Helen Fielding – lại nổi tiếng hơn tác giả trong khi Frédéric Beigbeder – ông nhà văn có thật tạo ra Oscar Dufresne – lại nổi tiếng hơn nhân vật hư cấu của mình.

Như với mọi cuốn tiểu thuyết khác, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết đoạn nào là thật, đoạn nào là bịa đặt.

“Thứ Năm.

Để nói thêm những gì mình nghĩ về các hiểu lầm và nguy hiểm của nhật ký, tôi muốn dẫn ra đây trích đoạn từ cuốn Sa đọa của Camus: “Các tác giả của những lời tự thú thường viết để không phải tự thú, để chẳng phải nói gì về những điều họ biết. Khi họ bảo mình đang thú nhận thì đó là lúc cần phải cảnh giác, họ sẽ hóa trang cho xác chết. Tin tôi đi, tôi thành thợ rồi mà.” Cảm giác kỳ lạ đúng thời điểm Guy Georges rốt cuộc cũng thú nhận các tội ác của hắn trước tòa Đại hình Paris. Chúng ta những muốn các nhà văn ai nấy đều phải là Guy Georges, bị đẩy vào tận phòng tuyến của họ cho tới khi khai ra mọi chuyện. “Đúng vậy, chính tôi làm việc đó, đúng vậy, đúng vậy, đúng vậy, chính tôi, xin lỗi, tôi sẽ không bao giờ nói dối nữa, tôi xin hứa.” Nhưng các nhà văn là những tên tội phạm chẳng bao giờ chịu thú nhận.”

(Tr. 123-124)

Sự phân thân nhập nhèm một cách công khai giữa tác giả và nhân vật, mà ở đây là Frédéric Beigbeder và Oscar Dufresne, không phải là một sự lạ trong văn chương. Phân thân đôi vẫn còn là nhẹ. Bạn có thể tìm đọc The New York Trilogy của Paul Auster (đã được dịch sang tiếng Việt với cái tựa mà cứ nhắc tới là tôi thấy kỳ – Trần trụi với văn chương) để biết bác này phân thành mấy thân như thế nào.

Tính chất tiểu thuyết của cuốn sách này còn có thể được nhận dạng bởi những sự sắp đặt tinh vi của tác giả chứ không phải trá hình một cách công khai như Helen Fielding trong Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết (tôi không có ý chê cuốn này nhé, nó cũng rất là hài, đọc thú vị hơn xem phim đấy). Không ít bạn nhận xét là Kẻ ích kỷ lãng mạn chả có nội dung gì cả. Để “đổ thêm dầu vào lửa”, ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn nhật ký, tác giả đã (để Oscar) tuyên bố:

“Thứ Hai.

Anh tưởng tôi có điều gì đó để nói ư? Anh tưởng tôi từng trải nghiệm điều gì đó trọng đại ư? Có lẽ là không đâu, có lẽ là không đâu. Tôi chỉ là một gã đàn ông. Tôi cũng có một câu chuyện như bao kẻ khác. Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ, tôi có cảm giác như mình là một ẩn dụ.”

Bạn có nhận ra đây là một lời giới thiệu không thể thẳng thắn hơn cho toàn bộ những gì bạn đọc tiếp sau đó không? “Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ” chỉ là một động tác giả.

Vậy có nên tin anh chàng tinh quái này rằng có lẽ anh ta không có điều gì để nói mà chỉ viết một cuốn nhật ký vu vơ kể những chuyện lăng nhăng tạp nham của một anh chàng rất giống chính bản thân anh ta không? Có lẽ là không đâu :D. Nếu bạn thật sự tin rằng Oscar/Frédéric chỉ muốn nói những chuyện và triết lý vụn vặt không đầu không cuối thì bạn đã đánh giá quá thấp những anh chàng Xử Nữ :D.

Nếu không tin tôi, bạn có thể mở trang đầu tiên của cuốn sách, nơi anh chàng bày đặt trích dẫn hai câu tưởng chừng như rất vu vơ vô hại như người ta post một cái status cá nhân trên mạng xã hội ngày nay. Câu trích dẫn đầu tiên chính là câu hỏi chủ đạo xuyên suốt hai năm nhật ký của Oscar – và toàn bộ cuốn sách là để trả lời câu hỏi đó. Ngay cái tựa sách cũng là một trả lời cho câu hỏi này. Câu trích dẫn thứ hai chính là lấp lửng về nghệ thuật viết cuốn sách này. Đối với tôi, trang trích dẫn này là một cách tuyên ngôn giấu mình hoàn hảo của Kẻ ích kỷ lãng mạn.

Cuốn nhật ký là một nỗ lực của Oscar Dufresne nhằm tự định nghĩa và tự định vị mình trong cuộc đời mà anh ta đang sống, bằng cách đặt lên bàn tất cả những giằng co nội tâm, những lo lắng, những ẩn ức, những suy nghĩ, những tình cảm cứ liên tục nảy sinh và chồng chất lên nhau trong những guồng quay không ngừng của một xã hội bên ngoài quá phức tạp, quá ồn ào, quá nhiều giả tạo, quá nhiều điều tréo ngoe, và quá nhiều sự lố bịch.

“…tôi muốn được ‘đau đầu căng thẳng’: bóc trần cái tồi tệ khập khiễng trong cuộc sống khốn kiếp của tôi và tái dựng toàn bộ thế giới xung quanh. Cần phải ‘đau đầu căng thẳng’ không ngừng nếu ta muốn tồn tại. Ngày nay hẳn Descartes sẽ nói: Tôi đau đầu căng thẳng [tức là tôi tồn tại].”

(Tr. 101)

“Từ nay ta chỉ còn được lựa chọn giữa thái độ vô liêm sỉ và chứng cuồng ám mà thôi. Một mặt là những kẻ nghĩ rằng kệ đời nó chứ, chừng nào còn sống thì còn phải lấy lại những gì đã đặt cược: các thương gia, các nhà tài chính, các hoạt náo viên truyền hình, các nhà quảng cáo, các nhà hoan lạc chủ nghĩa, các nhà hư vô chủ nghĩa. Mặt khác là những người sợ đến ngày tận thế và tìm cách bảo vệ tất cả những gì còn chưa bị phá hủy: các tiểu thuyết gia, các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa, các nhà sinh thái, các nhà thơ, những kẻ rầy rà và những người hay càu nhàu. Từ ngày bức tường Berlin sụp đổ, tình trạng lưỡng phân này đã thay thế cho sự phân chia cánh tả/cánh hữu. Chứng liệt thần nọ đánh đuổi chứng liệt thần kia. Ích kỷ chủ nghĩa hay lãng mạn chủ nghĩa thì cũng đều phải chọn phe cho mình.”

(Tr. 145)

(Trong ngoặc vuông [ ] là tôi sửa lại theo phiên bản tiếng Việt phổ biến hơn của câu nói của Descartes: Tôi suy nghĩ, tức là tôi tồn tại. Bản tiếng Anh của câu này là: I think, therefore I exist. Bản dịch trong sách là: Tôi đau đầu căng thẳng vì vậy mà tôi hiện hữu.)

Bằng những đoạn viết ngắn rời rạc chứ không liền mạch và dài hơi như trong nhật ký của Bridget Jones, nhật ký của Oscar Dufresne dần dần làm hiện hình cả thế giới nội tâm bên trong và thế giới bên ngoài, theo cái cách mà những quyển nhật ký cá nhân không tựa đề của các cá nhân vô danh vẫn làm trong suốt lịch sử viết nhật ký của nhân loại.

Chẳng phải là cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng là tập hợp của những chuyện vụn vặt, không đầu không cuối hay sao? Chẳng phải những câu chuyện phiếm giữa chúng ta với bạn bè cũng là đủ thứ trên trời dưới biển, có lúc nhố nhăng, có lúc hài hước, có lúc sến sẩm, có lúc lại rất triết lý hay sao? Chẳng phải mỗi chúng ta vừa phải lo những chuyện rất thực vừa phải nghĩ ngợi về những thứ rất mơ hồ hay sao?

Chẳng phải là phần nào đó của Oscar Dufresne cũng chính là chúng ta, những thị dân của thời kỳ hậu hiện đại đa dạng, hỗn loạn, và liên tục biến động, hay sao?

Cuốn sách nhắc tới nhiều chủ đề/lĩnh vực, từ tiệc tùng, du lịch, sự kiện, ăn uống, ma túy, gái gú cho tới điện ảnh, âm nhạc, văn học, phê bình văn học, truyền hình cho tới gia đình, con cái, chính trị, và toàn cầu hóa. Dĩ nhiên không thể thiếu hai chủ đề chẳng bao giờ cũ: tình yêu và sự cô đơn. Nếu bạn đặc biệt quan tâm tới một vài chủ đề/lĩnh vực trong số đó nhiều hơn những chủ đề/lĩnh vực khác, bạn có thể có một cách đọc cuốn sách này rất thú vị là bạn đọc từ đầu tới cuối sách chỉ những gì liên quan tới chủ đề/lĩnh vực mà mình quan tâm thôi, bỏ qua những thứ còn lại.

Với tôi đây là một cuốn sách phải đọc chậm, nếu không thì tôi cảm thấy quá tải. Giọng văn châm biếm của tác giả tuy hài hước và tinh tế nhưng chứa đựng nhiều bất mãn và bế tắc trong khi cũng như tác giả, tôi cũng “đã chán ngấy mấy bài báo đả kích”. Nhất là khi chính mình cũng không tránh khỏi việc càu nhàu và mỉa mai nhiều thứ, có thể là bởi tôi cũng hay để tâm và nghĩ ngợi nhiều chuyện, từ chính trị cho tới thời trang, từ lịch sử cho tới mạng xã hội, từ chủ nghĩa tiêu dùng cho tới các talk show truyền hình, đại khái là cũng gồm nhiều thứ được nhắc tới trong cuốn sách này. Trên thực tế, tôi đã vừa đọc cuốn sách vừa viết (đi viết lại) bài review này.

Về nội dung, những câu chuyện tiệc tùng, sự kiện hào nhoáng của giới văn nghệ sĩ và giới thượng lưu kể ra trong cuốn sách thỉnh thoảng cũng làm tôi thấy quá tải. Xét cho cùng, thế giới ấy khá xa lạ với những người đọc thường dân áo vải. Kể cả có những lúc tọc mạch soi mói vào cái thế giới ấy qua những tờ báo, trang tin lá cải thì việc soi mói ấy với tôi nó cũng như một thứ giải trí rẻ tiền chứ tôi không quan tâm lắm bên dưới những thứ hào nhoáng ấy là gì. Hay nói đúng hơn, tôi có định kiến là nó cũng bảy phần thối nát.

Và có lẽ như một số độc giả nữ khác, tôi cũng thấy phát mệt với những câu chuyện giường chiếu của nhân vật chính. Oscar, “anh sẽ chết trong cô đơn như một tên khốn!” (Tôi không biết đây là một trò tự nhạo bản thân hay có một cô nàng (hoặc một gã bạn) nào đó thực sự đã phải hét lên với Frédéric Beigbeder như vậy :D.)

Mở ngoặc, phân trần của Oscar: “Nhưng ngoài thế ra, tôi còn là một kẻ bị ám ảnh đa cảm, một tên khốn biết yêu nữa.” (Tr. 210), đóng ngoặc. 😛

Truyện càng về cuối càng trầm xuống, và rồi kết thúc hơi hụt hẫng và có phần chóng vánh khi Oscar tuyên bố ngừng viết nhật ký để biến mất mãi mãi sau khi cô nàng đã làm anh phát rồ trong gần như suốt cuốn nhật ký tuyên bố bỏ anh. Lời thú nhận về người cha ở những dòng cuối cùng không được khớp lắm với nội dung cuốn nhật ký vì toàn bộ phần trước đó hầu như chẳng nhắc gì tới ông.

Kẻ ích kỷ lãng mạn dường như chia người đọc làm hai phe: hoặc thích cuốn sách hoặc ghét nó. Tôi nghiêng về phần thích nhiều hơn. Bỏ đi những thứ bên ngoài như nghề nghiệp, tiền bạc, địa vị xã hội, và những hoạt động cụ thể trong cuộc sống của Oscar Dufresne (mà những người ghét cuốn sách này lên án) thì tôi thấy anh ta đơn giản là một người luôn cố gắng sống thật với chính mình.

Bao nhiêu người trong chúng ta đang sống vì người khác, sống cho người khác, sống theo người khác, sống bằng giấc mơ của người khác và từ chối làm một kẻ ích kỷ rất biết mình là ai?

1 Comment

Filed under Tiểu thuyết

Chị Bridget và anh Oscar

Bridget Jones và Oscar Dufresne. Chị người Anh còn anh người Pháp. Chị làm sách còn anh viết sách. Mỗi người có một cuốn nhật ký để đời.

(Thật ra chị có tới ba cuốn nhật ký, nhưng có lẽ chỉ có cuốn đầu tiên mới là cuốn để đời. Bài này chỉ nói tới cuốn ấy.)

Nhật ký của chị đề tên chị – Nhật ký của Bridget Jones – với chú thích: một cuốn tiểu thuyết. Nhật ký của anh không đề tên anh mà đề một lời tự mô tả bản thân bằng chữ nghĩa thực ra đi mượn của người khác: Kẻ ích kỷ lãng mạn. Chẳng chú thích gì thêm.

“Một số người khẳng định tôi tên là Oscar Dufresne; số khác lại nghĩ tên thật của tôi là Frédéric Beigbeder. Đôi khi tôi khó mà nhận ra được mình qua cái tên.” 

Bridget Jones nổi tiếng kinh hoàng trong khi chả mấy ai nhớ tên người tạo ra chị, Helen Fielding. Ngược lại, Oscar Dufresne khó mà nổi tiếng hơn Frédéric Beigbeder, người tạo ra anh.

Nhật ký của chị được công bố năm 1996. Của anh năm 2005. Đều được viết trong những ngày tháng loạng choạng của tuổi ba mươi cộng cộng (chị ba hai, anh ba tư và ba lăm).

Nhật ký của chị dài một năm, bắt đầu từ mùa đông. Nhật ký của anh dài hai năm, bắt đầu từ mùa hè.

Thật ra chị không chia nhật ký theo mùa, mà chia theo tháng, mỗi tháng đi kèm với một cái tựa mà tựa ngắn nhất là “Huh” và dài nhất là “Severe birthday-related thirties panic”, chả có cái tựa nào ướt át. Anh thì chia nhật ký theo mùa, mỗi mùa cũng đi kèm với một cái tựa, một nửa số tựa ấy là ướt át, ví dụ, “Sự yên lặng tinh khiết của làn nước lung linh”.

Ngày nào viết nhật ký thì chị ghi thứ, ngày cụ thể, nhiều khi còn có cả giờ giấc nữa. Ngày nào viết nhật ký thì anh chỉ ghi thứ, không ghi ngày cụ thể, trừ ngày cuối cùng – thứ Hai ngày 9 tháng Chín năm 2002. À, trừ thêm cả ngày 11 tháng Chín năm mà ai cũng biết là năm nào đấy nữa.

Nhật ký của chị bắt đầu từ một ngày Chủ nhật, kết thúc bằng một ngày thứ Ba. Của anh bắt đầu từ một ngày thứ Hai, kết thúc cũng bằng một ngày thứ Hai.

Nhật ký của chị thật ra bắt đầu bằng hai trang New Year’s Resolutions liệt kê những gì chị hạ quyết tâm sẽ không làm và sẽ làm trong năm mới. Nhật ký của anh thật ra bắt đầu với một trang trích dẫn hai câu của hai ông nhà văn.

Nhật ký của chị đề tặng mẹ. Nhật ký của anh đề tặng gái.

Trong nhật ký của anh có nhắc tới chị. Nhật ký của chị dĩ nhiên chẳng có chỗ nào nhắc tới anh vì ngày chị viết nhật ký anh còn chưa hiện hồn.

Nhật ký của chị là một câu chuyện rõ ràng. Nhật ký của anh rõ ràng là có rất nhiều chuyện.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

1Q84

Tôi đọc ba cuốn 1Q84 (bản tiếng Việt) cũng khá cách quãng, tuy nhiên khi gần đây lật lại cả ba cuốn để chuẩn bị viết bài review này, tôi vẫn muốn bảo lưu cảm nhận của mình khi đọc xong bộ này, ấy là thất vọng. Nhưng tôi lại cảm thấy có nhiều điều đáng nói xung quanh sự thất vọng này.

Nhìn chung, tôi cho rằng đây là một thất bại của Murakami. Trước hết, hai nhân vật chính rất mờ nhạt. Không biết họ có phải là nguồn cảm hứng để sau này ông nghĩ ra cái nhãn “không màu” cho nhân vật chính của một cuốn sách khác của mình hay không nữa. Hai nhân vật chính ngoài chút tài năng ra tôi không thấy họ có gì đặc biệt đáng chú ý cả. Vậy hãy đọc chính Murakami viết gì về tài năng trong chính cuốn sách “không màu” của ông mà tôi cảm thấy như là khi đó ông đang review chính hai nhân vật trong 1Q84 của mình vậy:

“À, tài năng ấy à, nó đôi khi rất dễ chịu. …Nhưng cậu Haida này, tài năng chỉ phát huy vai trò khi được nâng đỡ bởi sự tập trung mạnh mẽ, dẻo dai của thể xác và ý thức mà thôi. Chỉ cần một con vít nằm đâu đó trong óc rơi ra, hoặc một mạch nối nào đó trong cơ thể đứt cái phựt, thì sức tập trung hoặc bất cứ thứ gì cũng sẽ tiêu biến như làn sương sớm. …Thể xác con người yếu đuối như vậy đấy. Nó là một hệ thống có cấu tạo phức tạp và tinh vi khủng khiếp, nên hỏng hóc là chuyện thường. Và trong phần lớn các trường hợp, một khi đã hỏng hóc thì khó lòng mà khôi phục được. Sâu răng hay mỏi vai có lẽ vẫn còn chữa được, chứ có nhiều thứ khác không chữa nổi đâu. Được xây dựng trên một nền móng bất trắc và thiếu tin cậy như thế thì thử hỏi tài năng có ý nghĩa đến mức độ nào?”

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương

Hình như đây là lần đầu Murakami đẩy nhân vật nữ chính lên một tầm mới, trở thành một nhân vật chính thực sự chứ không chỉ còn là một “phương tiện” để cho nhân vật nam chính thực hiện các chuyến hành trình tìm kiếm chính mình (nguyên văn ông dùng “medium” ở bài phỏng vấn siêu dài này). Nhưng cô nhân vật nữ chính này chẳng qua chỉ là một bản sao phiên bản nữ của nhân vật nam chính – tính cách khá tương đồng – chỉ thêm một ít gia vị để người đọc biết rằng đó là phụ nữ thôi. Tôi thì thấy nhạt nên không để ý lắm, nhưng một nhà phê bình đã phê phán việc Murakami đã xây dựng một nhân vật nữ chính quá ám ảnh về bộ ngực của mình như là để thể hiện sự nữ tính của nhân vật. Bài viết khá dài, moi móc ra từng đoạn Murakami đã mô tả sự ám ảnh ấy như thế nào, xem thêm ở đây.

Còn về tình yêu của hai nhân vật này, không rõ có ai thấy cảm động không mà tôi chả có cảm xúc tẹo nào hết trơn!? Hai cô cậu cô đơn cầm tay nhau năm mười tuổi để rồi chỉ vì vậy mà sau này sống chết cũng phải tìm nhau cho bằng được – tôi không cảm thấy thuyết phục lắm.

Về nhân vật nam chính, một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời cậu này là mối quan hệ với người cha, nhưng tôi cảm thấy Murakami như copy lại câu chuyện cha con của Paul Auster nên không có gì đáng nói cả, mà thực ra cũng không hay bằng câu chuyện của Auster. Ai chưa biết câu chuyện cha con của Auster có thể đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace của bác này (cuốn sau cũng là tiếng Việt).

Nhân vật phản diện Ushikawa thực ra cũng chỉ là một bản sao méo mó của hai nhân vật chính – y cũng có tài năng riêng, và cũng có ý chí sắt đá và lối sống kỷ luật, như rất nhiều nhân vật chính khác trong những cuốn sách khác của Murakami. Rất có thể đây là dụng ý của Murakami, nhưng tôi cho là việc mô tả một nhân vật phản diện có bề ngoài xấu xí đến dị thường và khó ưa là một lối xây dựng nhân vật rất chán. Khi đọc những phần về nhân vật này, tôi có cảm giác như Murakami dựa khá nhiều vào những hiểu biết của ông về những thành viên giáo phái Aum – được mô tả hay và kỹ hơn nhiều trong cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Ví dụ trong cuốn ấy, ông có viết những đoạn mà tìm đỏ mắt trong 1Q84 cũng không thấy có gì hay được bằng, chứ đừng nói là hay hơn những gì ông đã viết ra cách đây nhiều năm:

Nó [Aum] cho chúng ta thấy một hình ảnh của chính chúng ta bị bóp méo theo cách thức mà không ai trong chúng ta có thể lường tới trước. …trên thực tế, những lần chạm trán có thể đánh thức mạnh mẽ nỗi ác cảm hay ghê sợ thường lại là hình ảnh phóng chiếu của chính các lỗi lầm và nhược điểm của chúng ta. …trong sự tồn tại của họ, chắc chắn phải có gì đó cũng có trong chúng ta… Hay đúng hơn, “bọn chúng” là tấm gương phản chiếu của “chúng ta”!

Tương tự như Ushikawa, giáo phái trong 1Q84 hẳn cũng là một sự hư cấu của Aum. Aum trên thực tế được thành lập vào năm 1984. Tôi không thực sự hiểu câu chuyện về cái năm 1Q84 này và sự trốn thoát của hai nhân vật chính khỏi không gian này để trở về “không gian thực” (1984?). Có lẽ Murakami muốn ước rằng giáo phái ấy đã chỉ tồn tại trong một không gian ảo là 1Q84, để cho giáo chủ bị giết và hệ thống còn lại không có cách nào để tự tái tạo lại được? Dù sao thì câu chuyện quá dài và quá thiếu hấp dẫn nên chắc tôi không thể đọc lại để mà theo đuổi câu hỏi này được.

Nhìn chung, tôi thấy đây là một tác phẩm tham vọng của Murakami nhưng ông đã chưa phát triển được cho chín các ý tưởng của mình. Mà với một người kỷ luật như ông thì chắc là khi đến hẹn với các nhà xuất bản thì kiểu gì ông cũng phải kết thúc câu chuyện mà xuất bản nó ra – cái này tôi đoán mò thôi.

Dù sao thì cá nhân tôi là một người đọc Murakami cũng kha khá lại cảm thấy thú vị trước 1Q84 ở chỗ Murakami đã bò ra khỏi vùng an toàn (comfort zone) của ông để thử nghiệm, nên dù ông có thất bại tôi vẫn thích hơn là nhìn thấy ông cứ quanh quẩn với những câu chuyện và những nhân vật quen thuộc. Không biết liệu sau này ông có dám tiếp tục thử nghiệm nữa không, vì cuốn “không màu” ra sau bộ 1Q84 đã lại thấy ông rút về vùng an toàn rồi.

Một lần, tôi nói với một bạn độc giả của Murakami chưa đọc cuốn này là nếu muốn bạn ấy có thể bỏ qua vì cuốn này dài mà chán, nhưng giờ tôi lại nghĩ lại. Tôi nghĩ là đây là một phép thử rất hay với những độc giả thường xuyên của Murakami – những người đã quen với thành công của ông giờ sẽ nhìn nhận thất bại này của ông như thế nào? Họ sẽ muốn ông tiếp tục thử nghiệm và chấp nhận thất bại hay muốn ông quay về vùng an toàn? Hay là họ cũng chẳng quan tâm nữa vì như một số độc giả nói, họ đang falling out of love với ông rồi?

Tôi cũng tạm chia tay Murakami từ đây, không phải vì bộ 1Q84 này mà vì tôi đã hẹn hò ông này quá lâu rồi và giờ thì muốn dành thời gian đi hẹn hò những người khác. Tương lai có quay lại với Murakami hay không thì tôi phó mặc cho duyên số. 🙂

10 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Toru, Midori, Naoko, và tôi

Có một lần lang thang đọc blog của mọi người, thấy một bạn hỏi, sách gối đầu giường của bạn là gì, tôi cũng nhảy vào chuyện phiếm cho vui là tôi hay thay “gối” liên tục. Thật ra cũng có một cuốn sách tôi đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, đọc bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, đó là “Rừng Na Uy” (RNU). Nhưng quả thực tôi không muốn gọi nó là cuốn sách gối đầu giường của mình. Bởi theo tôi hình dung, sách gối đầu giường phải là sách mà người ta cảm thấy say sưa yêu thích đến mức cứ đọc đi đọc lại mãi mà không biết chán. Tôi không thể nói là tôi cảm thấy hạnh phúc khi đọc RNU. Xúc động thì có, nhưng không phải là cảm giác say mê tích cực mà tôi có như khi đọc Jack London chẳng hạn.

Tôi đọc đi đọc lại RNU chỉ vì tôi cứ bị nó ám ảnh. Mỗi lần đọc lại xong đều thấy vương vất một cái cảm giác trong ấy còn một cái gì đó rất mơ hồ mà tôi chưa nắm bắt được, nhưng cảm nhận về nó thì lại rất thực. Bây giờ nhìn lại, tôi nghĩ rằng sở dĩ cái cảm giác ấy nó cứ ám ảnh tôi một thời gian dài là bởi RNU đã chạm được vào những góc khuất sâu nhất trong con người tôi mà chính tôi cũng không biết. Trên thực tế, sau khi đọc nó lần đầu tiên, tôi còn phải mất thêm nhiều năm, trải qua một số biến cố của đời mình, mới dần dần nhận dạng ra được. Nhưng rõ ràng với tôi cuốn sách này là kiểu “love at first read” – một cuốn sách bạn yêu ngay từ lần đọc đầu tiên.

Như tôi cũng đã từng kể, có lần có bạn hỏi tôi, các nhân vật của Murakami hầu hết đều vô dụng và yếu đuối, tại sao HA vẫn yêu? Sau này một lần tôi tự trả lời nửa đùa nửa thật, là chắc vì tôi về một phương diện nào đó cũng rất vô dụng và yếu đuối. Tôi không thực sự nghĩ về mình như thế (hiển nhiên rồi, trên đời này làm gì có ai vô dụng và ai mà chẳng có lúc yếu đuối và lúc khác lại mạnh mẽ như siêu nhân), nhưng sau đó tôi cũng bắt đầu nghĩ rằng có lẽ tôi giống các nhân vật của Murakami ở một vài điểm nào đó nên tôi cứ đọc sách của ông này hết cuốn này tới cuốn khác.

Thật ra ngay sau lần đầu đọc RNU tôi đã cảm thấy mình giống Toru Watanabe, một người trẻ tuổi sống vô hướng giữa dòng đời nhốn nháo, hay đọc sách, suy nghĩ, và quan sát mọi thứ, rồi cố gắng tìm lấy cho mình một lối đi. Và tôi có lẽ vẫn còn nghĩ như vậy nếu không có một lần đọc một blog post phân tích các nhân vật nam chính của Murakami cũng như chính con người ông. Đại ý theo tôi còn nhớ bài đó mô tả họ, tức là Murakami và các nhân vật chính của ông, là những người sống giản dị, khép kín, nhưng rất kỷ luật, và chính kỷ luật là điều giúp họ rèn luyện cho mình một bản lĩnh để “sống sót” giữa cuộc đời này. Đọc xong thì tôi nhận ra, à hóa ra tôi khác họ về căn bản. Sau này tôi mới dần dần nhận ra là thực ra tôi đã bị thu hút bởi những người kiểu như thế. Tôi là người sống không có kỷ luật. Không những thế, tôi còn là người thích đi tháo dỡ mọi thứ rào cản, kỷ luật, vượt qua mọi ranh giới, nếu có thể (kiểu như Elizabeth Gilbert). Một lối sống như vậy, nhất là khi còn trẻ và ít kinh nghiệm sống, thường mang lại không ít hoang mang. Khi ấy người ta cũng cần phải tìm lấy một cái gì đó mà bấu víu vào. Không phải là để từ bỏ tự do mà là để yên tâm sống tự do. Đó là một điều mà mãi sau này tôi mới hiểu. Tôi không phải là Toru, nhưng trong vô thức tôi đã muốn một phần nào đó của mình trở thành Toru. Bởi nhân vật ấy ngay từ đầu đã mang lại cho tôi một cảm giác về sự bình an trong lòng mình, để có thể yên tâm được là chính mình.

Tôi thực ra là Midori. Tôi cũng phải mất một thời gian khá dài để nhận ra được điều đó. Xã hội loài người từ rất rất rất lâu rồi đã biết sản sinh ra rất nhiều thứ để trói buộc con người (những thứ như là văn hóa chẳng hạn), một mặt gắn kết con người lại với nhau nhưng mặt khác lại hạn chế rất nhiều tự do cá nhân. Tệ hơn, những thứ trói buộc ấy còn tách mỗi cá nhân ra khỏi cái bản thể thực sự của mình (tiếng Anh vẫn gọi là identity) ngay từ rất sớm. (Rất nhanh sau khi ra đời bạn đã bắt đầu phải học các “quy tắc ứng xử” để làm một đứa trẻ ngoan. Lan man thêm một chút, đó có lẽ là lý do vì sao các tôn giáo ra đời nhằm cứu rỗi linh hồn con người – dĩ nhiên đây chỉ là quan điểm của cá nhân tôi.) Tôi hiển nhiên là đã sinh ra và lớn lên trong một xã hội đầy trói buộc như thế. Và cũng như bao người khác, tôi cũng cần thời gian và trải nghiệm để có thể ngày càng đến được gần hơn với con người thực của mình. Việc Murakami đã vô tình tạo ra một nhân vật có chút gần gũi với tôi kể ra cũng thú vị. Nhưng tôi nghĩ điều thú vị hơn, mà thực ra là buồn cười, là tôi đã hoàn toàn không nhận ra cô ấy trong suốt một thời gian dài. Tôi đã viết khá nhiều về mình, nên giờ tôi không còn gì để viết thêm về Midori nữa.

Tôi cũng đồng thời là cả Naoko. Khi đạo diễn Trần Anh Hùng dựng cuốn tiểu thuyết này thành phim, anh có nói là trong mỗi người phụ nữ đều có cả Naoko và Midori. Lúc đầu, tôi nghĩ mãi mà không hiểu tại sao anh lại có cảm nhận như thế. Cho đến lúc chính tôi cũng chẳng may sụt chân rơi vào một cái giếng sâu tăm tối trong lòng mình thì tôi mới nhận ra Naoko. Giữa những ngày ấy ngồi đọc lại RNU tôi mới lần đầu biết rơi nước mắt vì những dòng thoại của cô ấy. Tôi cũng không biết vì sao Murakami lại viết ra được những dòng như thế, nhưng cứ như thể là ông ấy đã đào xới và lôi ra ngoài ánh sáng tất cả những u uất tối tăm nhất trong lòng tôi.

Tôi rất tiếc là Murakami đã không cứu lấy Naoko. Cũng có thể ông cũng đã không biết phải cứu cô ấy như thế nào. Bởi một phần nào đó của ông chính là Toru Watanabe, người đã rất thương yêu Naoko mà lại bất lực trước những nỗi đau của cô ấy. Nếu như có thể viết lại RNU, tôi nhất định sẽ cứu Naoko. Một cái kết nào đó cho cô ấy kiểu như cho Reiko chẳng hạn. Toru vẫn sẽ lựa chọn một tương lai với Midori. Còn Naoko, chỉ cần cô ấy ra được khỏi cái giếng tối tăm ấy, cô ấy sẽ có đủ sức để bắt đầu một cuộc sống mới mà không nhất thiết phải có Toru.

Tôi đã từng đọc ở đâu đó có người viết rằng, RNU là truyện chỉ dành cho tuổi teen. Trên thực tế, cuốn sách này đã trở thành một người bạn đồng hành thân thiết của tôi trong gần như toàn bộ những năm tháng tuổi hai mươi, khi tôi đã thực hiện nhiều chuyến đi, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, để gặp được chính mình giữa đất trời bao la. Giờ nếu có ai hỏi, bạn có cuốn sách gối đầu giường nào không, tôi sẽ trả lời là: có, có lẽ là tôi đã từng có một cuốn, nhưng thành thực mà nói, đối với tôi nó còn hơn cả một cuốn sách gối đầu giường.

12 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Be sure to be in love with the right one

Please don’t get me wrong. There is no “right” one. All the “right” ones will be “wrong” sometime (or sometimes). But I just couldn’t help thinking that “right one” way when I reread Norwegian Wood today. None of what I’ve written about this book so far can be qualified as a book review, and this post is not going to be an exception. I just feel like I want to write something for Naoko.

I honestly didn’t pay much attention to Naoko in the previous times I read the book. As an “ordinary” person at the time when her “every thought came back, like a boomerang,” to herself, I was clearly more drawn to Watanabe. And for such an ordinary person with little life experience, I have to say, it was not easy at all to understand a depressed Naoko. For me she was beautiful, she was sad, and she sometimes had complicated feelings. Just like any other ordinary person. I didn’t recognize her depression at all.

Although I noticed the severity of Naoko’s illness years ago, not until today had I taken a closer look at the pain she went through. Now I find the book way more depressing than how I felt about it in the past. I had simply ignored the most depressing parts of it, that’s why.

End of chapter one: “The thought fills me with an almost unbearable sorrow. Because Naoko never loved me.

And silly Toru kept that thought haunting him until the end of the book, and clearly until “today” when all of his memories about this started pouring out.

I think she was in love with you, silly! It was just way too confusing and heartbreaking for her to accept the fact that she fell in love with the best friend of her dead boyfriend so unexpectedly after his never-explainable death, especially when she was still broken from the unbearable loss.

Page 111. [Toru:] “I really, truly believe deep down that I’m an ordinary person. Can you find something in me that’s not ordinary?

Perhaps this awareness was one reason why there was always something about Naoko he wasn’t able to reach. Maybe that’s why he was not able to help her as he wanted.This is not to blame Toru. Both of them were too young when the first tragedies in life knocked on their doors.

I feel really sorry for Naoko that nobody was able to help her. She kept falling deeper and deeper to the well of her sorrow. Even a very sincere love could not save her. I think the love she had for Toru and his for her was like a beautiful light she kept looking at while she was falling.

For Naoko’s sake, the story ends in the most bitter way to me ever. The kind of bitterness that I found at the end of “The Reader” (movie).

I know it is very stupid to say this, but sometimes we really need to be in love with a right one.

1 Comment

Filed under In English, Tiểu thuyết