[Ghi chú] Các kiểu tuyển tập truyện ngắn các tác giả được giải Nobel văn học

Năm 1997, NXB Văn học ra cuốn Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không biết có phải là tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của nhiều tác giả được giải Nobel văn học ở Việt Nam hay không. Năm kế đó, tức 1998, NXB này ra tiếp quyển tuyển tập như thế nữa, gọi là tập II, giới thiệu các tác giả khác và/hoặc các tác phẩm khác.

“Để xây dựng tập sách này chúng tôi phải gom góp những truyện ngắn của các tác giả được giải Nobel đã được công bố trên nhiều báo, tạp chí, đã được in trong các sách phát hành trong nhiều năm. Điều kiện đó không cho phép chúng tôi gửi lời xin phép trước tới tất cả các dịch giả có tác phẩm in trong tập sách này. Chúng tôi thành thật cáo lỗi!”

Trích “Lời người tuyển chọn” trong ấn bản năm 1997.

Nhẽ ra nên có một lời đề nghị các dịch giả liên hệ với nhà xuất bản để nhận nhuận bút – tôi đã từng đọc những cuốn sách được in mà “không có điều kiện xin phép các dịch giả” với một lời nhắn như vậy. Từ đó tới nay, là gần chục năm, đã có hơn chục cuốn tuyển tập kiểu như vậy ra đời, nhiều truyện được in đi in lại trong nhiều cuốn khác nhau, chẳng biết các nhà xuất bản đã có điều kiện xin phép các dịch giả chưa.

Dưới đây tôi kê ra những cuốn mà tôi biết, kèm một vài ghi chú. Hơn nửa trong số đó là của NXB Văn học, còn lại thì là vài quyển của NXB Hội nhà văn và một bộ ba tập của NXB Công an nhân dân. Những cuốn mỏng nhất cũng hơn 300 trang, cuốn dày nhất trên 700 trang, hầu hết đều khổ 14,5 x 20,5 cm, cuốn thì bìa cứng cuốn thì bìa mềm.

Nhà xuất bản Văn học

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 1997.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập II, 1998.

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, 2004.

~ Cuốn này giới thiệu 37 truyện của 37 tác giả, nhưng có 2 “truyện” thực ra không phải truyện ngắn mà là trích đoạn của tiểu thuyết (“Tôi mù” trích từ Bệnh mù [Ensaio sobre a cegueira] của José Saramago và “Thế kỷ của tôi” thực ra là “Năm 1991” trong tiểu thuyết Thế kỷ của tôi [Mein Jahrhundert] của Günter Grass).

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel (thêm một số truyện mới), 2006. (Bìa cứng, 622 trang.)

~ Cuốn này cơ bản là tái bản của cuốn năm 2004 kể trên với thêm 5 truyện của 5 tác giả đã giới thiệu trong cuốn cũ (nghĩa là 37 tác giả, 42 truyện). Văn tiếng Việt của các truyện dịch trong cuốn này đọc khá xuôi. Chỉ buồn cười là nội có vài trang mục lục mà đã thấy vài lỗi: viết sai tên tác giả (mục lục sai thế nào thì trong sách sai y thế), không thống nhất giữa việc giữ nguyên tên tác giả (và nhân vật) hay viết theo phiên âm tiếng Việt, ghi thiếu tên dịch giả, thiếu dấu (phẩy hoặc gạch ngang gì đó) giữa tên tác giả và giải thưởng của ổng/bả, và truyện đầu tiên ghi nhầm năm tác giả được giải, 1903 thành 1930. Tóm lại với tôi thế là làm sách ẩu.

Đông Joăng thanh minh: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa cứng, 496 trang.)

~ “Đông Joăng thanh minh” chỉ là một truyện ngắn trong tuyển tập này, được đưa lên làm tít chắc là để câu khách. Cái bìa trông rất rẻ tiền. Và được làm cực ẩu. Mặc dù trên bìa ghi rất to hai chữ “Nobel prize” của The Nobel prize collected best short stories, kèm cả tiếng Việt, Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, nhưng bên trong có cả các tác giả không có giải Nobel (dù cũng được các giải khác). Dòng cuối cùng trên trang bìa – O’Henry, Pen, Malamud… – chắc là để ám chỉ “các giải khác” ấy. (Nhân tiện thì PEN/Malamud là một giải thưởng, nằm trong hệ thống giải PEN, chứ không có giải “Pen” hay giải “Malamud”.) Mục lục nhìn vào đã thấy tên vài nhà văn bị viết sai be bét, truyện không theo thời gian đã đành, truyện của cùng một tác giả cũng chẳng được quần tụ một chỗ. Tóm lại là cuốn này có cho cũng không thèm lấy.

Gái hai chồng: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, O’Henry, Sách quốc gia Mỹ…, 2008. (Bìa cứng, 476 trang.)

~ Tương tự quyển trên, “Gái hai chồng” cũng là một truyện ngắn được đưa lên làm tít câu khách, với cái hình minh họa khêu gợi chả liên quan qué gì đến nội dung truyện này cả. Thật kỳ lạ, NXB năm 2008 đó làm sao mà lại đi xuất bản những hai cuốn từa tựa nhau, số trang cũng same same nhau, cùng là bìa cứng, và cùng mang hai cái bìa vớ vẩn như nhau vậy.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Nhà xuất bản Văn học, 2012. (Bìa cứng, 358 trang.)

Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập 1 & 2, 2004. (Bìa cứng, 574 & 724 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa mềm, 460 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không rõ năm. (Bìa cứng, 556 trang.)

Nhà xuất bản Công an nhân dân

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 3 tập, 2007. (Bìa mềm, mỗi cuốn hơn 300 trang.)

~ Các cuốn còn lại chưa được nhìn sách giấy nên không bình luận gì ngoài việc các bìa hầu hết đều xấu cả. Nếu mục lục các cuốn đúng như trên một số trang web đưa thì tôi thấy có khá nhiều truyện đã được in đi in lại trong nhiều cuốn, như là kiểu xào xáo vậy.

Để kết lại bài này tôi nêu ra vài điểm mình mong muốn ở một cuốn sách dạng tuyển tập:

  1. Cần có một lời giới thiệu rõ ràng từ phía những người làm sách: tại sao chọn các tác giả này? tại sao chọn các tác phẩm này? Nhất là trong bối cảnh không còn là tuyển tập đầu tiên mang tính giới thiệu nữa, thì tuyển tập này đóng góp gì thêm vào “kho tàng” tuyển tập đã có, hay chỉ đơn giản là tiện thì tái bản lại? Tốt nhất cần nói rõ một hoặc một nhóm người lựa chọn các truyện đưa vào tuyển tập này là ai. Ít nhất cũng phải có cái tên cho người ta google xem có đáng tin cậy không, còn lịch sự thì phải giới thiệu vắn tắt luôn về những người ấy.
  2. Cần ghi rõ mỗi truyện được dịch từ ngôn ngữ nào sang, bản quyền của ai, bản quyền tiếng Việt của ai. Nếu được thì viết cả tên truyện nguyên gốc hoặc từ ngôn ngữ được dịch sang, để những độc giả quan tâm có thể tra cứu thêm, nếu muốn.
  3. Nếu truyện đã được dịch và đăng ở đâu đó trước khi được đăng vào tuyển tập này thì cần ghi rõ các nguồn đó.
  4. Viết tên tác giả cho đúng, ít ra cũng phải tôn trọng cái tên người ta một tí. Những tên nào viết theo tiếng của họ khó đọc với độc giả Việt thì thêm phiên âm cách đọc.
  5. Giới thiệu sơ lược về từng tác giả, nếu là tuyển tập của nhiều tác giả.

Một ví dụ về một cuốn tuyển tập được làm cẩn thận như thế là Great stories by Nobel prize winners do Leo Hamalian và Edmond Volpe biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1959, tái bản lần gần nhất năm 2012. (Có thể click vào “look inside” ở đường link đính kèm để nhìn qua các phần Acknowledgements, Preface, và vài dòng giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm ở đầu mỗi truyện.)

Nói chung là tôi thấy tiếc cho các bản dịch truyện tốt mà bị đem in tuyển tập lôm côm. Khi đọc bản in của NXB Văn học năm 2006 tôi cảm thấy các dịch giả đã dịch cẩn thận. Nhẽ ra các cuốn sách đã phải được làm cẩn thận hơn.

Đã đính chính lại thông tin về giải PEN/Malamud so với bản viết đầu.

2 Comments

Filed under Ghi chú

Đỏ

Với chỉ khoảng tầm 70 trang sách khổ 13 x 20.5 cm, Đỏ là một truyện mà đọc xong lần đầu tôi phải giật mình nhìn lại xem tác giả là ai, bởi vì truyện ấy viết lạ. Lạ giữa những cuốn sách cứ từa tựa nhau thế nào ấy của nhiều tác giả Việt trên thị trường sách nhiều năm nay, nhất là các tác giả trẻ. Hoặc như chính một câu viết của Nguyễn Dương Quỳnh trong truyện ấy: “Như nét cọ kỳ dị giữa một bức tranh tầm thường buồn tẻ, buộc người xem phải lùi xa ra ngắm lại để rồi phát hiện những điều khác lạ.

Đỏ giống như một vở kịch câm. Bởi nằm ở trung tâm truyện là những giao tiếp gần như không lời giữa nhân vật chính người Việt và hai bố con người Hoa ở sát phòng trọ. Bất đồng ngôn ngữ, dè dặt trong giao tiếp vì những lý do khác nhau, và cũng không có lý do gì để trở nên thân thiết, họ xô vào cuộc đời nhau cũng chỉ như hai người lạ quệt vào nhau trên phố đông người. Thật ra cũng có một cái gì nhiều hơn như thế, nhưng không gọi được tên.

Chẳng phải gặp gỡ gì, chẳng phải số mệnh an bài gì. Chỉ là tình cờ vướng víu ở đâu đó, như hoa cỏ may bám vào gấu quần thôi.

Như bước đi trên một con đường mùa xuân ấy.

Bước đi trên một con đường mùa xuân, thấy một cành cây xanh mướt sà xuống trước mặt. Chỉ muốn nhìn thật lâu ngắm thật kỹ, để đừng quên một sớm mai này, mình đã thấy một cành cây trên con đường mùa xuân.

Hạn chế giao tiếp bằng lời, thế mạnh của truyện là mô tả. Khung cảnh. Thời tiết. Nhiệt độ. Màu sắc. Mùi vị. Âm thanh. Quan sát và suy đoán của nhân vật tôi về những lời nói cô nghe được mà không hiểu gì, về những cử chỉ, hành động của những người cô nhìn thấy hay tiếp xúc. Thế nên tôi mới nói Đỏ giống như một vở kịch câm. Những âm thanh nhộn nhạo ở phố Tàu như chỉ làm nền cho những sự câm lặng.

Trên cái nền yên lặng bề mặt ấy, nhân vật anh bạn học cũ xuất hiện như một dòng nước đột ngột rẽ qua, như một làn gió đột nhiên thốc tới. Là một người hướng ngoại xuất hiện bên cạnh câu chuyện xoay quanh những người hướng nội rụt rè, ít nói, nhân vật này như tạo ra một luồng khí sinh động cho truyện. Anh chủ động bắt chuyện, chủ động nói chuyện, và chủ động kể chuyện. Nghĩ gì là nói đó, không ngần ngại.

Mối quan hệ quen biết mà không thân thiết giữa nhân vật tôi với người bạn học cũ như tạo thành một đường song song với mối dây lỏng lẻo tình cờ hình thành nên giữa cô và cặp cha con người Hoa. Hai đường song song ấy như soi vào nhau, phản chiếu lẫn nhau, và nhờ thế, nhân vật tôi đứng giữa hai dòng chảy cuộc đời có dịp được suy ngẫm về những liên hệ rất khó gọi tên giữa người với người. “Những âm thanh mà tai không nghe thấy”.

Đó là hình ảnh cuối cùng của người trọ cùng tôi. Khi ông quay đầu bước đi, tôi vẫn đứng lại bàng hoàng. Những mối dây quá ư lỏng lẻo nối tôi với người đàn ông này đã đứt tung từ khi ông ta bước sang cây cầu hôm ấy.

Và tự dưng lại có một linh cảm mơ hồ. Có thể, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa, dù chúng tôi ở trong cùng một thành phố, và chỉ cách nhau dăm trạm xe điện. Có thể, con đường của chúng tôi sẽ chẳng bao giờ cắt qua nhau nữa, và đâu đó trên đời, lại có một vì sao rơi xuống mà tôi chẳng hề hay.

Kết

Một người bạn hỏi tôi tại sao lại viết Đỏ. Chủ yếu là do sự rụt rè chăng? Ngôn từ như bị xé nát, những gì mình nói ra không phải những gì mình nghĩ, cứ biết là có gì ta phải nói cho nhau, thế mà không thể nói được. Lúc cần nói ngắn thì lại dài quá. Lúc cần phải giải thích vì không làm sao cho xuôi. Như có gì chắn giữa ta, một bức tường vô hình… Cứ như đang nói với nhau một thứ ngôn ngữ nào khác…  chỉ nghe thấy tiếng tha thiết nhưng bất lực không thể gần nhau.

Vì sao lại là màu đỏ?

Trang 17 là nơi màu đỏ xuất hiện lần đầu tiên:

Bước xuyên qua những cửa hàng của người Hoa, lúc nào cũng nồng nồng một mùi gì rất khó tả, và đỏ rực đến nhức mắt.

Màu đỏ ấy trước hết là tượng trưng cho khu phố người Hoa, là bối cảnh nơi câu chuyện chính diễn ra. Sau này tác giả cũng đôi lần nhắc lại. Sắc “đỏ rực đến nhức mắt” cũng khác đi một chút.

Trang 49:

Đến lúc về, tôi bàng hoàng nhận ra những chiếc đèn lồng đỏ trên con phố quen thuộc. Người ta rộn ràng quá. Ai nấy đều bận rộn trang hoàng vì lẽ gì tôi không nghĩ ra nổi. Đến khi một người đàn ông vác thang qua mặt tôi la lớn một câu tiếng Hoa may mà tôi biết, tôi mới nhận ra Tết âm lịch đã gần kề.

Trang 66:

Tôi rời khỏi con hẻm. Rời khỏi những bảng hiệu màu đỏ đã bị nước mưa quất cho bầm tím đi vì lạnh, tê tái trong mưa.

Trang 75:

Phố buổi sớm khô lạnh như bức tranh thủy mặc. Những vệt băng rôn đỏ ở đâu rũ xuống, chói lòa, cô độc.

Đặt trong tổng thể truyện, màu đỏ ấy như một cái chấm đỏ trên một nền xám, như một “nét cọ kỳ dị giữa một bức tranh tầm thường buồn tẻ”, như một câu chuyện bật lên giữa dòng đời không khi nào ngừng chảy. Không chỉ là màu của khu phố Tàu, đỏ còn là màu của chiếc ô giữa một nền mưa khi nhân vật tôi dừng chân bên tiệm bánh mì. Là con chuồn chuồn tết bằng chỉ đỏ trên tay đứa bé.

Đỏ là sắc màu chấm phá trên một bức tranh buồn trầm lặng.

Cần để ý rằng nhân vật tôi là một họa sĩ còn tác giả thì học chuyên ngành Product Design. Đỏ không chỉ giống một vở kịch câm, Đỏ còn giống như một bức tranh. Và như nhân vật tôi có tâm sự trong truyện: “Những bức tranh chân dung tôi ưa thích thường có màu nền rất tối. Gương mặt người sáng bừng trong bóng đêm, như ảo ảnh, như ta chỉ gặp nhau trong một khúc quanh ngắn ngủi, rồi tất cả đều biến mất.Đỏ chính là giống như một bức tranh kiểu như thế.

Ở một tầng cảm giác sâu hơn, đỏ còn là những cảm xúc thiết tha mà khó gọi tên được trước cuộc đời, mà đoạn viết sau như một khoảnh khắc người viết đã nắm bắt được chúng, cảm nhận được chúng theo cách riêng của mình – cách của một người viết văn. Đó là đoạn viết bừng cháy duy nhất trong truyện. Hư hư thực thực.

Tôi mở mắt, nước mắt ứa ra vì quầng đỏ của một mặt trời đang lặn. Tiếng hát nào vang vọng âm âm giữa không thời gian. Một bản nhạc êm dịu và day dứt một nỗi buồn tiếc nuối.

Tôi mở mắt ra và thấy tiếng ầm ầm ù ù đã nghe trong bóng đêm hóa thành tiếng con tàu đang lao đi vùn vụt giữa một hoàng hôn đỏ rực. Và trong khoang tàu chỉ có một mình tôi, đối mặt với không gì khác ngoài bầu trời chết ngoài khung kính.

Tôi đứng dậy và chao đảo giữa khoang tàu càng lúc càng lao nhanh. Tôi gọi tên người khản cổ nhưng không ai đáp lại. Tôi lảo đảo lần bước khắp các khoang tàu giống hệt nhau nhưng chẳng có ai, chẳng có ai, ngoại trừ tôi và ánh sáng đỏ chảy giữa không gian. Khoang tàu bỗng trở nên nóng hừng hực như bị mặt trời thiêu đốt…

Tôi thấy mình ngã xuống giữa khoang tàu lao đi vùn vụt… Màu đen ở đâu bỗng tràn tới, như tiếp sau ngọn lửa đỏ là bóng đêm của tàn tro.

Thỉnh thoảng lại có một người bạn than phiền với tôi rằng chẳng thấy có quyển sách nào hay ở ngoài hiệu sách, nhất là sách của tác giả Việt. Những lúc như thế, tôi thường bảo, tôi không đọc nhiều nên không rõ, nhưng chắc là phải có chứ. Một vài bạn không chịu: bạn kể thử ra xem có quyển nào, tác giả nào mà bạn bảo là đọc được xem nào. Những lúc như thế, tôi thường hỏi, bạn đã đọc Đỏ của Nguyễn Dương Quỳnh chưa. Có lẽ là sau Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu của năm 2005 thì phải tới năm 2012 tôi mới lại phải giật mình trước một người viết văn Việt.

Dĩ nhiên hãy còn quá sớm để nói Nguyễn Dương Quỳnh sẽ là ai trong làng văn học Việt Nam. Trong Đỏ vẫn còn lộ ra một vài đoạn viết xử lý chưa được khéo của một người viết chưa nhiều kinh nghiệm. Đó là những đoạn viết cảm xúc còn lộn xộn, không thống nhất và không tạo thành một dòng chảy logic từ câu đầu tới câu cuối của đoạn, thể hiện một tâm trạng còn phức tạp và ngổn ngang suy nghĩ của tác giả khi viết lại những dòng ấy, cố gắng ghi lại nhưng chưa tạo được thành hình hài cho những gì mình đang có trong đầu. Những đoạn ấy người đọc có thể cảm thấy rời rạc, khó hiểu.

Dẫu sao sau khi đọc lại Đỏ lần thứ hai, hơn ba năm sau lần đọc thứ nhất, tôi vẫn thấy đây là một truyện đáng đọc, nhất là với những ai quan tâm tới văn người Việt viết. Hy vọng bài review này đã nói rõ được những lý do vì sao tôi nghĩ rằng đây là một truyện đáng đọc.

Cuốn Đỏ do Nhã Nam và NXB Lao động xuất bản ngoài Đỏ ra còn một truyện vừa nữa, dài hơn, là Nước xốt cà chua, nhưng không hay bằng. Vả lại đó hình như cũng là truyện đầu tay của Nguyễn Dương Quỳnh, coi như đọc chơi cho biết thôi.

Ngày xưa tôi mua Đỏ về đọc là do đọc được một bài trong ấy có viết như này:

Quyển Đỏ sẽ không thể trở thành một cuốn sách bán chạy, nhưng chắc chắn nó sẽ có một số lượng độc giả riêng, một số lượng cũng không hẳn là nhỏ – một nhà văn tuổi đôi mươi viết văn thực sự hay kiểu gì cũng có cho riêng mình một “khối độc giả”.

Leave a comment

Filed under Truyện vừa

Nỗi cô đơn của các số nguyên tố

Khi đã đọc kha khá sách, bạn sẽ hầu như không kỳ vọng gì nhiều ở một cuốn sách. Bởi bạn biết rằng mỗi một cuốn sách mở ra có thể là bất kỳ điều gì: làm bạn ngạc nhiên, làm bạn chán ngấy, làm bạn bật cười, hoặc làm bạn ghê sợ. Bất kể đó là cuốn sách chẳng ai đọc hay hàng triệu người đọc. Cuốn của một tác giả đình đám, một tác giả vô danh, hay một tác giả bạn thích. Một cái tựa thú vị hay một cái tựa tầm thường. Không có gì có thể làm chỉ dấu cho bạn biết bạn sẽ cảm thấy như thế nào sau khi đọc xong một cuốn sách. Bạn chỉ có thể tự mình đọc sách và tự mình cảm nhận.

Và đôi khi, trong lúc chẳng trông đợi gì mà chỉ làm một việc đơn giản mà bấy lâu bạn vẫn làm – đọc sách, tự dưng bạn thấy mình phải lòng một cuốn sách. Ngỡ ngàng như một tia nắng quệt ngang qua cuộc đời bạn.

Tôi đọc gần như một lèo hết Nỗi cô đơn của các số nguyên tố của Paolo Giordano, một điều tôi rất hiếm khi làm. Thường tôi đọc sách nhẩn nha, vừa đọc vừa nghĩ ngợi và tưởng tượng gì đó. Đôi khi còn vừa đọc vừa viết. Còn cuốn sách này, nó như cùng một nhịp đập với tôi, tôi cứ đi theo dòng chảy của nó như đi theo một dòng chảy tự nhiên nào đó của chính mình, không cần nghĩ ngợi gì thêm, không cần thêm thắt điều gì. Cả tiết tấu của lời văn cũng như những ý tưởng mà nó mang theo, những tình cảm mà nó gợi lên gần như trùng khít với một khoảng trống mênh mông vô hình nào đó ở bên trong tôi bấy lâu nay.

Tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào có nhiều nỗi cô độc đến như thế. Mười cuốn sách của Murakami, một tác giả mà tôi yêu thích, cũng không có cuốn nào cô độc như cuốn này. Khởi sinh của cô độc cũng không cô độc như cuốn này. Ở đây tất cả các nhân vật đều cô độc. Tất cả, chứ không chỉ có cặp số nguyên tố sinh đôi Mattia và Alice. Cô độc trong toàn bộ cuộc đời mà họ đã sống. Truyện gần như không có tình tiết nào mang tính bùng nổ, là nơi mà người ta, dù là trong khoảnh khắc, giải phóng được hết sự cô độc trong con người mình. Một vài chi tiết có một chút ấm nóng cũng chỉ như một que diêm lóe lên giữa một trời băng tuyết rồi vụt tắt trước khi người ta kịp nhận ra sự tồn tại của nó. Một màu cô độc băng giá bao phủ lên toàn bộ cuốn sách, từ những dòng đầu tiên cho tới những dòng cuối cùng.

Một cuốn sách như thế hiển nhiên làm nhiều người khó chịu. Không ai thích sự cô độc cả, kể cả khi nó chỉ là một câu chuyện tưởng tượng trên giấy. Nhưng với một số người khác, nó chỉ đơn giản như một tấm chân dung gần gũi nhất với cuộc đời bình thường mà trước tới nay họ sống và trải nghiệm.

Khác với nhiều cuốn sách khác viết về những con người cô độc, trong cuốn này Paolo Giordano không dựng lên những bức tranh quá chi tiết về nội tâm của nhân vật. Rất ít nước mắt. Không cần tới những cái chết. Tất cả các nhân vật của anh đều bằng cách này hay cách khác kiềm chế những lời nói và hành động của mình, dù biết rằng lựa chọn mà họ đưa ra vào lúc này đây sẽ để lại kết quả làm thay đổi toàn bộ cuộc đời họ kể từ đó trở về sau. Không ít lần các nhân vật trong truyện đã mường tượng chi tiết trong đầu họ sẽ nói những gì, sẽ làm những gì, và rồi sau đó họ lại bất động. Như thể nỗi cô độc từ bên trong đã phong tỏa con người họ, khiến họ tê liệt trước cuộc đời.

Sự thức giấc chỉ phá hủy một phần các cấu trúc ý nghĩ. Alice dậy khi không thể làm khác được nữa và sự lộn xộn của giấc ngủ mơ dần dần giảm đi, để lại trong đầu cô những vết rơi rớt, giống như những ký ức ngắt quãng trộn lẫn với những ký ức khác và không có vẻ gì là không thật cả. Cô lang thang trong căn hộ vắng lặng như bóng ma của chính mình đang chậm chạp bám theo sự minh mẫn của bản thân. Đôi khi cô nghĩ mình đang phát điên. Nhưng cô cũng chẳng lấy làm tiếc về điều đó. Ngược lại, nó khiến cô mỉm cười, bởi cuối cùng cô chính là người chọn lựa.

Tác giả cố gắng để truyện kết thúc một cách sáng sủa, bằng cách để Mattia cho tay vào túi và tìm thấy miếng giấy ghi số điện thoại của Nadia, còn Alice thì nghĩ rằng “[v]ới một chút khó khăn mệt nhọc, cô đã biết tự đứng dậy một mình.” Tuy thế, nếu lắp hai cái chi tiết ấy vào toàn bộ câu chuyện mà cuốn sách vẽ ra, tôi thấy nó cũng lại giống như hai que diêm được đốt lên giữa một trời tuyết trắng, như “[d]òng sông tạo tiếng xào xạc yếu ớt và mơ màng”.

Bên cạnh hình ảnh cặp số nguyên tố sinh đôi “cô độc và mất mát, tuy rất gần mà không đủ để thật sự đến được với nhau” được sử dụng làm biểu tượng đặt ở trung tâm của cuốn sách, một chất liệu đã góp phần quan trọng tạo nên hình hài và màu sắc cho tác phẩm chính là những mô tả ngắn gọn và khô khốc của tác giả về thế giới vật chất xung quanh các nhân vật của anh. Các kiến thức khoa học được đưa vào trong những dòng mô tả ấy khá tự nhiên và vừa phải, không bị phô phang và có phần sến sẩm như trong một cuốn sách cũng thuộc hàng bestseller của một anh tiến sĩ một ngành kỹ thuật đi viết văn khác là Cô đơn trên mạng. Có nhiều đoạn trong cuốn sách tôi đã nghĩ nhân vật sẽ nói thêm điều gì đó, làm thêm điều gì đó thì tác giả thay vào đó là một đoạn mô tả không tô vẽ. Tôi không cảm thấy thất vọng vì những chỗ đó mà ngược lại, nhờ đó tôi cảm nhận được rõ hơn sự đóng băng của nhân vật.

“Cậu thích học thật à?”

Mattia gật đầu.

“Tại sao?”

“Đó là điều duy nhất mình biết làm.” Cậu trả lời chậm rãi. Cậu muốn nói cậu thích học vì cậu có thể làm điều đó một mình, bởi vì tất cả những gì phải học đều đã chết rồi, lạnh lẽo và cứng ngắc máy móc. Cậu muốn nói với Alice rằng những trang sách ở trường đều có nhiệt độ giống nhau, chúng sẵn sàng cho bạn thời gian để chọn lựa, chẳng bao giờ gây đau đớn và bạn cũng chẳng thế khiến chúng thấy đau. Nhưng cậu chỉ im lặng.

Sự cô độc của các số nguyên tố có thể mang lại cảm xúc gì cho bạn, tôi không biết, nhưng chắc chắn nó là một cuốn sách đã mô tả được một cách chân thực một lát cắt của cuộc sống ngày nay như nó đang là.

Cuốn sách được dịch bởi Lê Thúy Hiền, bản quyền tiếng Việt © Nhã Nam 2009. Bản dịch căn bản là ổn và cẩn thận, chỉ một vài chỗ tôi sẽ ưng cách sử dụng đại từ khác đi một chút.

2 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Trại súc vật

Tôi đọc Animal farm: a fairy tale bản dịch tiếng Việt năm 2003 (thì phải) của Phạm Minh Ngọc (Trại súc vật (TSV), nguồn vnthuquan) trong tình hình là đã biết câu chuyện Liên Xô dưới thời Stalin (hay là câu chuyện Stalin ở Liên Xô) cùng với câu chuyện thất thế rồi lưu vong của Trotsky, cộng thêm việc đã trót đọc một bài review truyện này, một điều tôi thường tránh trước khi đọc truyện. Tuy thế, điều ấy không làm tôi thấy câu chuyện của George Orwell mất hay. Ngược lại, có lẽ chính vì vậy mà khi đọc truyện tôi lại càng hay để ý và ghi nhớ những tiểu tiết trong truyện (dù tôi không được chắc lắm là những tiểu tiết tôi để ý khi đọc có ý nghĩa gì không vì khi viết bài này thì tôi phát hiện ra ngay mấy câu đầu dịch giả đã dịch sai và một số chỗ thì tự sáng tác không theo bản gốc – xem thêm ghi chú ở cuối bài).

Trở lại với cuốn sách, tôi cũng muốn nói ngay là dĩ nhiên bạn chẳng cần phải biết tí gì về lịch sử Liên Xô cộng sản hay Stalin, Trotsky là ai trước khi đọc truyện này vì đây là một truyện rất dễ hiểu, như đúng ý đồ của tác giả là muốn kể lại câu chuyện chính trị – xã hội Liên Xô thời ấy một cách đơn giản nhất, ai cũng có thể hiểu được. Bản dịch này còn đi kèm với lời giới thiệu Orwell viết cho bản dịch tiếng Ukraine, trong ấy giải thích chuyện ông sáng tác truyện này như thế nào từ thực tiễn, có thể hữu ích với những người muốn tìm hiểu ngược về câu chuyện thực tế sau khi đọc truyện hư cấu này.

Không tìm hiểu thêm thực tiễn gốc thì cũng chẳng sao, đọc truyện này xong ít nhất người đọc cũng lờ mờ hiểu một nhà cầm quyền cai trị bằng giáo điều, tuyên truyền mị dân, đổi trắng thay đen, tư lợi, và bạo lực là như thế nào. Phản ứng của đám thần dân ở trang trại cũng đa dạng, tuy có hơi hạn chế như tôi sắp nói dưới đây nhưng nhìn chung vẫn như tạo thành một bức tranh để người đọc nhìn vào đó mà nghĩ, nếu tôi là một “dân thường” ở trang trại ấy thì tôi sẽ phản ứng thế nào, tôi sẽ là ai trong số những Clover, Boxer, Muriel, Benjamin, Mollie, con mèo, đám gà, đám cừu, đám chó, và một loạt các loài vật vô danh khác.

Xét trên khía cạnh là truyện hư cấu từ thực tế thì tôi thấy Animal farm làm quá hay, biến một đoạn lịch sử vô cùng mệt mỏi của cả một đất nước thành một câu chuyện ngụ ngôn không quá dài, đơn giản, dễ nhớ, mà đầy đủ những biến cố và các nhân vật chính. Tuy nhiên cũng trên chính khía cạnh này thì tôi lại thấy truyện hơi buồn ở chỗ đã khắc họa nhân dân Xô viết qua hình ảnh những con vật không-phải-lợn ở trang trại thê thảm quá – đa phần là dốt nát nên mới mù quáng đi theo cũng như chấp nhận sự lãnh đạo của đám lợn hết lần này tới lần khác. Trong số ấy có con lừa già Benjamin là luôn tỉnh táo và hiểu thấu mọi chuyện ngay từ đầu nhưng lại lựa chọn im lặng và đi theo số đông cho tới mãi cuối truyện quá bức xúc việc Boxer bị lừa đem bán cho lò mổ thì mới lên tiếng.

Truyện kết thúc lơ lửng trong hoang mang, chẳng ai biết rồi đây trại gia súc do lợn Napoleon cai trị rồi sẽ đi tới đâu. Cần nhớ rằng phải gần nửa thế kỷ sau khi George Orwell viết truyện này Liên Xô mới sụp đổ và tan rã sau rất nhiều lần vật lên vật xuống vì cải tổ, dù (3 năm) sau khi Stalin đại vương qua đời Khrushchev đã có một bài “diễn văn bí mật” tố cáo tội của ông này tại đại hội đảng cộng sản Liên Xô lần thứ XX (năm 1956, tức là gần chục năm sau khi Orwell ra truyện này, năm 1945).

Phải nói một chút về chuyện dịch thuật. Bản dịch này (TSV) đọc khá mượt nên ban đầu tôi cũng không nghĩ đến chuyện đối chiếu với bản tiếng Anh làm gì, nhưng khi đi ngó qua bản dịch Chuyện ở nông trại (CONT) của Nhã Nam thì thấy vênh nhau hẳn về nghĩa ngay từ những câu đầu tiên. Đối chiếu lại với bản tiếng Anh thì mấy câu đó CONT dịch đúng còn TSV dịch sai. Tương tự là tên ngựa Clover, TSV “dịch” thành Bà Mập còn CONT tôn trọng nguyên tác, dịch thành Cỏ Ba Lá.

Ngược lại thì có những chỗ TSV dịch êm hơn, ví dụ dịch ‘Major’ thành ‘Thủ Lĩnh’ trong khi CONT dịch thành ‘Ông Cả’, dịch “the prize Middle White boar” thành ‘một con lợn đực trắng’ trong khi CONT dịch thành ‘con lợn giống Trung Bạch’. Thực ra cả hai trường hợp CONT dịch không sai, chỉ là không được hay.

Xét nét thêm tí nữa thì TSV giữ nguyên tên tiếng Anh của ba chú chó ở trang đầu không dịch thì hợp lý hơn là CONT dịch tên hai con còn một tên giữ nguyên vì rõ ràng ‘Jessie’ thì không thể dịch thành cái gì được. Bảo là hợp lý hơn là bởi ba con này sau đó không hề xuất hiện lại hay đóng vai trò gì trong truyện. Đổi lại, CONT dịch tên con quạ Moses thành ‘Tiên Tri’ thì đồng bộ với việc Việt hóa tên các con vật hơn là để nguyên như TSV, bởi Moses là tên nhà tiên tri người Do Thái trong kinh Cựu Ước.

Và chẳng nói thì thôi chứ nói tới dịch thuật thì phải nói là tôi không thích cách dịch ‘animal’ thành ‘súc vật’ hay ‘Animalism’ thành ‘Súc Sinh Kinh’ trong TSV vì cảm giác ‘animal’ trong tiếng Anh là từ tương đối trung tính còn ‘súc vật’ hay ‘súc sinh’ trong tiếng Việt đều mang tính miệt thị, coi loài vật là sinh vật hạ đẳng, hèn kém, v.v. Dịch ‘Animal farm’ thành ‘Chuyện ở nông trại’ tuy không sát nghĩa lắm nhưng dễ chịu hơn nhiều so với ‘Trại súc vật’. Nhất là khi ‘animal’ ở đây ám chỉ những người sống ở Liên Xô thời Stalin, mà trong ấy đa số là nhân dân vô tội chứ.

Các đoạn dịch thơ trong TSV thì tôi thấy hay, dù không đối chiếu dịch có đúng không. Tôi chỉ là vô tình mà phải nhìn qua mấy trang đầu để so sánh một chút giữa hai bản dịch chứ không có ý định đi soi thêm toàn bộ hai bản dịch ấy nên chỉ nêu một vài vấn đề dịch thuật như vậy.

Tóm lại, đây là một truyện đáng đọc và dễ đọc, dù có một bản dịch tốt hơn thì thích hơn. Dù sao cũng vẫn cảm ơn các dịch giả của hai bản dịch, nhất là nếu bản dịch đầu còn là bản dịch phi thương mại nữa.

Leave a comment

Filed under Truyện vừa

Nhật ký của Bridget Jones

Bridget Jones’s Diary: a novel, xuất bản năm 1996, tác giả Helen Fielding.

Thật ra nếu không đọc Kẻ ích kỷ lãng mạn thì có lẽ tôi cũng không định đọc Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết đâu, bởi vì tôi rất lười đọc những truyện mà tôi đã xem phiên bản phim ảnh. Nhưng ngay khi bắt đầu đọc nhật ký của Oscar Dufresne là tôi đã rất tò mò không biết một phiên bản nữ của một cuốn nhật ký của một kẻ độc thân ngoài ba mươi tuổi thì viết những gì. Đọc hai trang đầu rồi lướt qua vài trang đã thấy hài hước, thế là đọc thôi.

Về cốt truyện, truyện này rõ ràng là lấy cảm hứng từ Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen, với nhân vật nam chính chính diện tên là Mark Darcy và câu chuyện chủ đạo là nàng Bridget Jones về cuối truyện thì thành đôi với Mr Darcy ngoan hiền lý tưởng này sau những ấn tượng không tốt lúc ban đầu. Nhưng dĩ nhiên là để trở thành một cuốn sách bán chạy, giành giải British Book of the Year năm 1998, và tạo đà cho bộ phim bom tấn cùng tên, thì Nhật ký của Bridget Jones có những nét đặc sắc riêng thú vị.

Trước hết, nhân vật chính, Bridget Jones, không phải là dạng nhân vật kiểu thông minh xinh đẹp hoàn hảo như Lizzy Bennet hay là kiểu cá tính hiện đại mà ngọt ngào đáng yêu như các vai diễn của Julia Roberts mà là một cô nàng bình thường không có gì nổi trội, hút thuốc uống rượu như ai, suốt ngày phải leo lên cân kiểm tra cân nặng, ăn uống kiêng khem các kiểu vì sểnh tí là tăng cân, chưa kể khá là vụng về, đụng đâu hỏng đó trong suốt truyện, và hơi “éo le” một tí là ngoài ba mươi rồi mà phải đau đầu vì chuyện DKNY (a.k.a. đếch kó người yêu – slang của gái Việt thời nay thì phải :D). Điểm mạnh của những nhân vật kiểu vô cùng bình thường như thế là người đọc dễ dàng nhìn thấy một phần mình ở trong đó: những bất an về bản thân, bất an về chuyện tình cảm, cảm giác bối rối trước những tình huống khó xử trong cuộc sống thường ngày, và nhiều khi nghĩ một đằng nhưng phải nói ra một nẻo khác.

Định dạng của cuốn sách – một cuốn nhật ký – cùng lối viết hài hước và tinh tế của tác giả như một lựa chọn rất phù hợp để kể câu chuyện về một năm đáng nhớ của cô nàng Bridget Jones gần như đụng đâu hỏng đó này, bởi nhìn chung đọc thấy xuôi xuôi, buồn cười, dễ chịu mà không bị nhàm chán. Với cá nhân tôi thì tâm tư của nàng này bấn loạn quá, dẫn tới đời sống cũng khá dramatic (tuồng chèo) nên thỉnh thoảng đọc thấy hơi mệt đầu, cộng thêm việc đã trót xem phim rồi thực lòng có lúc đã muốn bỏ không đọc nữa.

Bỏ qua chuyện đó thì tôi thấy truyện này khắc họa được rất rõ những băn khoăn nội tâm của Bridget trước việc sống như thế nào cho đúng với bản chất con người mình, được nói ra những điều mình thực nghĩ giữa những giao tiếp xã hội thường ngày không tránh khỏi những định kiến, xã giao, và giả dối. Rõ ràng là chúng ta ai cũng phải ít nhiều trải qua những tình huống kiểu như thế mà không phải lúc nào cũng có thể phản ứng theo như mình thật sự muốn.

Về đời sống tình cảm éo le của Bridget thì ở góc nhìn của một người đọc hóng chuyện tôi thấy câu chuyện của Bridget với anh chàng phản diện Daniel Cleaver thú vị hơn nhiều với Mr Darcy hoàn hảo. Cũng có thể có những người đọc sẽ cảm thấy Bridget dở hơi đến khó chịu khi cứ mù quáng tự cuốn mình vào trò mèo vờn chuột rất hại não và đau tim của Daniel nhưng là một người mê mệt Hugh Grant nhiều năm, tôi rất chi là thông cảm với Bridget :D. Và xét trên khía cạnh thực tế mà nói, chuyện lụy tình vì những người cơ bản là chả coi mình ra gì trong thiên hạ xưa nay cũng không phải là hiếm lol. Những ai đã từng và/hoặc vẫn đang khốn khổ vì lụy tình nên đọc thử truyện này cho biết :D.

Với mọi thứ éo le như thế thì cái kết của Bridget với Mr Darcy hoàn hảo tuy có hơi nhạt (không có đoạn lãng mạn nàng mặc thiếu quần áo chạy xuyên màn tuyết rơi đuổi theo chàng như trong phim nhá) nhưng cũng hợp lý cho một cái kết truyện, để khép lại một năm sóng gió, bù đắp lại những điều không may khốn khổ của Bridget. Đại khái là kiểu độc giả như tôi dù biết đời thì không như là sách nhưng đọc truyện kiểu kết thúc có hậu như thế thì vẫn thấy ấm lòng hơn là những cái kết hiện đại hơn một tí kiểu và thế là nhân vật chính lại tiếp tục trôi dạt trong cô đơn đến khi nào chẳng rõ :D.

Một tâm sự nhỏ bên lề, không quan trọng lắm, ấy là nếu tôi làm cuốn sách tiếng Việt của cuốn này, tôi sẽ dịch nguyên văn cái tựa từ tiếng Anh sang thành Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết thay vì cái tựa Nhật ký tiểu thư Jones của NXB Trẻ. Cái tựa sách ấy thực ra rất hay và có khi với nhiều người còn hấp dẫn hơn cả cái tựa gốc, vả lại hình như là dịch theo tựa phim cho dễ bán sách – chuyện đó hoàn toàn dễ hiểu – chỉ là tôi về cơ bản thuộc trường phái thích những bản dịch càng sát với bản gốc càng tốt vì dù hay dù dở thì đó cũng là đứa con tinh thần của tác giả, cứ để nguyên trạng là tốt nhất, không cần tô vẽ thêm. Chỗ này phải mở ngoặc là tuy có bảo thủ một chút như vậy, tôi hoàn toàn không phản đối chuyện các dịch giả sáng tạo và đặt dấu ấn cá nhân lên các tác phẩm dịch, ví dụ cái tựa Đắc nhân tâm do cụ Nguyễn Hiến Lê dịch quá hay so với tựa của bản gốc, không thể chê vào đâu được.

Hết, không còn gì để bình luận với tâm sự thêm nữa.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Kẻ ích kỷ lãng mạn

Bản dịch tiếng Việt bởi Phùng Hồng Minh, © Nhã Nam, 2013. Bản tiếng Pháp © Éditions Grasset & Fasquelle, 2005.

Liệu có cuốn tiểu thuyết nào lại giống một cuốn nhật ký hơn Kẻ ích kỷ lãng mạn của Frédéric Beigbeder không nhỉ? Tôi thì tôi chưa được biết. Hoặc là tôi đọc hồi ký hoặc là tôi đọc tiểu thuyết. Nhật ký duy nhất mà tôi đọc là nhật ký của chính mình :D.

Trang Wikipedia tiếng Anh về tác giả có viết: Frédéric Beigbeder’s work can be organised in three main categories. [Trong đó,] Autobiographical novels: This style of book is about the author’s life although he does not explicitly describe them as an autobiography.

Tạm dịch: Các tác phẩm của Frédéric Beigbeder có thể chia làm ba loại. [Trong đó,] Tiểu thuyết tự truyện: Dạng sách này nói về cuộc đời của tác giả mặc dù anh ta không công khai gọi chúng là tự truyện.

Vậy Kẻ ích kỷ lãng mạn là nhật ký hay tiểu thuyết?

“’Nhật ký’ là gì? Là một cuốn tiểu thuyết.”

– Jacques AUDIBERTY,

Ngày Chủ nhật đang đợi tôi, 1965.

(Trích dẫn của tác giả ở trang đầu của cuốn sách.)

Điều tôi thấy thú vị ở cuốn sách này là định dạng của nó – dường như nằm lập lờ giữa hai khái niệm ‘nhật ký’ và ‘tiểu thuyết hư cấu’ (fiction). Tôi nghĩ đây bản chất là một cuốn tiểu thuyết hư cấu được viết dưới dạng nhật ký (là nhật ký của Oscar Dufresne và là tiểu thuyết của Frédéric Beigbeder). Có điều, nó giống một cuốn nhật ký thông thường tới nỗi người ta dễ nghĩ tới nó như một cuốn nhật ký hơn là như một cuốn tiểu thuyết hư cấu. Để so sánh, khi nhắc tới một tác phẩm tương tự là Bridget Jones’s Diary: a novel (Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết, đã được dịch sang tiếng Việt với cái tên Nhật ký tiểu thư Jones – cho cả phim và sách, mà dường như là tựa sách bắt chước tựa phim) người ta dễ nghĩ tới nó như là một cuốn tiểu thuyết hư cấu nhiều hơn là một cuốn nhật ký. Có thể đây là lý do vì sao Bridget Jones – nhân vật hư cấu của Helen Fielding – lại nổi tiếng hơn tác giả trong khi Frédéric Beigbeder – ông nhà văn có thật tạo ra Oscar Dufresne – lại nổi tiếng hơn nhân vật hư cấu của mình.

Như với mọi cuốn tiểu thuyết khác, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết đoạn nào là thật, đoạn nào là bịa đặt.

“Thứ Năm.

Để nói thêm những gì mình nghĩ về các hiểu lầm và nguy hiểm của nhật ký, tôi muốn dẫn ra đây trích đoạn từ cuốn Sa đọa của Camus: “Các tác giả của những lời tự thú thường viết để không phải tự thú, để chẳng phải nói gì về những điều họ biết. Khi họ bảo mình đang thú nhận thì đó là lúc cần phải cảnh giác, họ sẽ hóa trang cho xác chết. Tin tôi đi, tôi thành thợ rồi mà.” Cảm giác kỳ lạ đúng thời điểm Guy Georges rốt cuộc cũng thú nhận các tội ác của hắn trước tòa Đại hình Paris. Chúng ta những muốn các nhà văn ai nấy đều phải là Guy Georges, bị đẩy vào tận phòng tuyến của họ cho tới khi khai ra mọi chuyện. “Đúng vậy, chính tôi làm việc đó, đúng vậy, đúng vậy, đúng vậy, chính tôi, xin lỗi, tôi sẽ không bao giờ nói dối nữa, tôi xin hứa.” Nhưng các nhà văn là những tên tội phạm chẳng bao giờ chịu thú nhận.”

(Tr. 123-124)

Sự phân thân nhập nhèm một cách công khai giữa tác giả và nhân vật, mà ở đây là Frédéric Beigbeder và Oscar Dufresne, không phải là một sự lạ trong văn chương. Phân thân đôi vẫn còn là nhẹ. Bạn có thể tìm đọc The New York Trilogy của Paul Auster (đã được dịch sang tiếng Việt với cái tựa mà cứ nhắc tới là tôi thấy kỳ – Trần trụi với văn chương) để biết bác này phân thành mấy thân như thế nào.

Tính chất tiểu thuyết của cuốn sách này còn có thể được nhận dạng bởi những sự sắp đặt tinh vi của tác giả chứ không phải trá hình một cách công khai như Helen Fielding trong Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết (tôi không có ý chê cuốn này nhé, nó cũng rất là hài, đọc thú vị hơn xem phim đấy). Không ít bạn nhận xét là Kẻ ích kỷ lãng mạn chả có nội dung gì cả. Để “đổ thêm dầu vào lửa”, ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn nhật ký, tác giả đã (để Oscar) tuyên bố:

“Thứ Hai.

Anh tưởng tôi có điều gì đó để nói ư? Anh tưởng tôi từng trải nghiệm điều gì đó trọng đại ư? Có lẽ là không đâu, có lẽ là không đâu. Tôi chỉ là một gã đàn ông. Tôi cũng có một câu chuyện như bao kẻ khác. Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ, tôi có cảm giác như mình là một ẩn dụ.”

Bạn có nhận ra đây là một lời giới thiệu không thể thẳng thắn hơn cho toàn bộ những gì bạn đọc tiếp sau đó không? “Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ” chỉ là một động tác giả.

Vậy có nên tin anh chàng tinh quái này rằng có lẽ anh ta không có điều gì để nói mà chỉ viết một cuốn nhật ký vu vơ kể những chuyện lăng nhăng tạp nham của một anh chàng rất giống chính bản thân anh ta không? Có lẽ là không đâu :D. Nếu bạn thật sự tin rằng Oscar/Frédéric chỉ muốn nói những chuyện và triết lý vụn vặt không đầu không cuối thì bạn đã đánh giá quá thấp những anh chàng Xử Nữ :D.

Nếu không tin tôi, bạn có thể mở trang đầu tiên của cuốn sách, nơi anh chàng bày đặt trích dẫn hai câu tưởng chừng như rất vu vơ vô hại như người ta post một cái status cá nhân trên mạng xã hội ngày nay. Câu trích dẫn đầu tiên chính là câu hỏi chủ đạo xuyên suốt hai năm nhật ký của Oscar – và toàn bộ cuốn sách là để trả lời câu hỏi đó. Ngay cái tựa sách cũng là một trả lời cho câu hỏi này. Câu trích dẫn thứ hai chính là lấp lửng về nghệ thuật viết cuốn sách này. Đối với tôi, trang trích dẫn này là một cách tuyên ngôn giấu mình hoàn hảo của Kẻ ích kỷ lãng mạn.

Cuốn nhật ký là một nỗ lực của Oscar Dufresne nhằm tự định nghĩa và tự định vị mình trong cuộc đời mà anh ta đang sống, bằng cách đặt lên bàn tất cả những giằng co nội tâm, những lo lắng, những ẩn ức, những suy nghĩ, những tình cảm cứ liên tục nảy sinh và chồng chất lên nhau trong những guồng quay không ngừng của một xã hội bên ngoài quá phức tạp, quá ồn ào, quá nhiều giả tạo, quá nhiều điều tréo ngoe, và quá nhiều sự lố bịch.

“…tôi muốn được ‘đau đầu căng thẳng’: bóc trần cái tồi tệ khập khiễng trong cuộc sống khốn kiếp của tôi và tái dựng toàn bộ thế giới xung quanh. Cần phải ‘đau đầu căng thẳng’ không ngừng nếu ta muốn tồn tại. Ngày nay hẳn Descartes sẽ nói: Tôi đau đầu căng thẳng [tức là tôi tồn tại].”

(Tr. 101)

“Từ nay ta chỉ còn được lựa chọn giữa thái độ vô liêm sỉ và chứng cuồng ám mà thôi. Một mặt là những kẻ nghĩ rằng kệ đời nó chứ, chừng nào còn sống thì còn phải lấy lại những gì đã đặt cược: các thương gia, các nhà tài chính, các hoạt náo viên truyền hình, các nhà quảng cáo, các nhà hoan lạc chủ nghĩa, các nhà hư vô chủ nghĩa. Mặt khác là những người sợ đến ngày tận thế và tìm cách bảo vệ tất cả những gì còn chưa bị phá hủy: các tiểu thuyết gia, các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa, các nhà sinh thái, các nhà thơ, những kẻ rầy rà và những người hay càu nhàu. Từ ngày bức tường Berlin sụp đổ, tình trạng lưỡng phân này đã thay thế cho sự phân chia cánh tả/cánh hữu. Chứng liệt thần nọ đánh đuổi chứng liệt thần kia. Ích kỷ chủ nghĩa hay lãng mạn chủ nghĩa thì cũng đều phải chọn phe cho mình.”

(Tr. 145)

(Trong ngoặc vuông [ ] là tôi sửa lại theo phiên bản tiếng Việt phổ biến hơn của câu nói của Descartes: Tôi suy nghĩ, tức là tôi tồn tại. Bản tiếng Anh của câu này là: I think, therefore I exist. Bản dịch trong sách là: Tôi đau đầu căng thẳng vì vậy mà tôi hiện hữu.)

Bằng những đoạn viết ngắn rời rạc chứ không liền mạch và dài hơi như trong nhật ký của Bridget Jones, nhật ký của Oscar Dufresne dần dần làm hiện hình cả thế giới nội tâm bên trong và thế giới bên ngoài, theo cái cách mà những quyển nhật ký cá nhân không tựa đề của các cá nhân vô danh vẫn làm trong suốt lịch sử viết nhật ký của nhân loại.

Chẳng phải là cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng là tập hợp của những chuyện vụn vặt, không đầu không cuối hay sao? Chẳng phải những câu chuyện phiếm giữa chúng ta với bạn bè cũng là đủ thứ trên trời dưới biển, có lúc nhố nhăng, có lúc hài hước, có lúc sến sẩm, có lúc lại rất triết lý hay sao? Chẳng phải mỗi chúng ta vừa phải lo những chuyện rất thực vừa phải nghĩ ngợi về những thứ rất mơ hồ hay sao?

Chẳng phải là phần nào đó của Oscar Dufresne cũng chính là chúng ta, những thị dân của thời kỳ hậu hiện đại đa dạng, hỗn loạn, và liên tục biến động, hay sao?

Cuốn sách nhắc tới nhiều chủ đề/lĩnh vực, từ tiệc tùng, du lịch, sự kiện, ăn uống, ma túy, gái gú cho tới điện ảnh, âm nhạc, văn học, phê bình văn học, truyền hình cho tới gia đình, con cái, chính trị, và toàn cầu hóa. Dĩ nhiên không thể thiếu hai chủ đề chẳng bao giờ cũ: tình yêu và sự cô đơn. Nếu bạn đặc biệt quan tâm tới một vài chủ đề/lĩnh vực trong số đó nhiều hơn những chủ đề/lĩnh vực khác, bạn có thể có một cách đọc cuốn sách này rất thú vị là bạn đọc từ đầu tới cuối sách chỉ những gì liên quan tới chủ đề/lĩnh vực mà mình quan tâm thôi, bỏ qua những thứ còn lại.

Với tôi đây là một cuốn sách phải đọc chậm, nếu không thì tôi cảm thấy quá tải. Giọng văn châm biếm của tác giả tuy hài hước và tinh tế nhưng chứa đựng nhiều bất mãn và bế tắc trong khi cũng như tác giả, tôi cũng “đã chán ngấy mấy bài báo đả kích”. Nhất là khi chính mình cũng không tránh khỏi việc càu nhàu và mỉa mai nhiều thứ, có thể là bởi tôi cũng hay để tâm và nghĩ ngợi nhiều chuyện, từ chính trị cho tới thời trang, từ lịch sử cho tới mạng xã hội, từ chủ nghĩa tiêu dùng cho tới các talk show truyền hình, đại khái là cũng gồm nhiều thứ được nhắc tới trong cuốn sách này. Trên thực tế, tôi đã vừa đọc cuốn sách vừa viết (đi viết lại) bài review này.

Về nội dung, những câu chuyện tiệc tùng, sự kiện hào nhoáng của giới văn nghệ sĩ và giới thượng lưu kể ra trong cuốn sách thỉnh thoảng cũng làm tôi thấy quá tải. Xét cho cùng, thế giới ấy khá xa lạ với những người đọc thường dân áo vải. Kể cả có những lúc tọc mạch soi mói vào cái thế giới ấy qua những tờ báo, trang tin lá cải thì việc soi mói ấy với tôi nó cũng như một thứ giải trí rẻ tiền chứ tôi không quan tâm lắm bên dưới những thứ hào nhoáng ấy là gì. Hay nói đúng hơn, tôi có định kiến là nó cũng bảy phần thối nát.

Và có lẽ như một số độc giả nữ khác, tôi cũng thấy phát mệt với những câu chuyện giường chiếu của nhân vật chính. Oscar, “anh sẽ chết trong cô đơn như một tên khốn!” (Tôi không biết đây là một trò tự nhạo bản thân hay có một cô nàng (hoặc một gã bạn) nào đó thực sự đã phải hét lên với Frédéric Beigbeder như vậy :D.)

Mở ngoặc, phân trần của Oscar: “Nhưng ngoài thế ra, tôi còn là một kẻ bị ám ảnh đa cảm, một tên khốn biết yêu nữa.” (Tr. 210), đóng ngoặc. 😛

Truyện càng về cuối càng trầm xuống, và rồi kết thúc hơi hụt hẫng và có phần chóng vánh khi Oscar tuyên bố ngừng viết nhật ký để biến mất mãi mãi sau khi cô nàng đã làm anh phát rồ trong gần như suốt cuốn nhật ký tuyên bố bỏ anh. Lời thú nhận về người cha ở những dòng cuối cùng không được khớp lắm với nội dung cuốn nhật ký vì toàn bộ phần trước đó hầu như chẳng nhắc gì tới ông.

Kẻ ích kỷ lãng mạn dường như chia người đọc làm hai phe: hoặc thích cuốn sách hoặc ghét nó. Tôi nghiêng về phần thích nhiều hơn. Bỏ đi những thứ bên ngoài như nghề nghiệp, tiền bạc, địa vị xã hội, và những hoạt động cụ thể trong cuộc sống của Oscar Dufresne (mà những người ghét cuốn sách này lên án) thì tôi thấy anh ta đơn giản là một người luôn cố gắng sống thật với chính mình.

Bao nhiêu người trong chúng ta đang sống vì người khác, sống cho người khác, sống theo người khác, sống bằng giấc mơ của người khác và từ chối làm một kẻ ích kỷ rất biết mình là ai?

1 Comment

Filed under Tiểu thuyết

Bức thư từ người đàn bà không quen

Lại viết review bằng ký ức.

Ngày tôi học cấp III, nghĩa là cách đây tầm 15 năm, một đứa bạn cho mượn một quyển tuyển tập truyện ngắn (và vừa) của Stefan Zweig (đọc theo đúng tiếng Đức là [tsvaɪk]). Tôi ngờ rằng đó là tập sách được dịch bởi Phùng Đệ – Lê Thi hiện có đăng tải trên vnthuquanmarxreading, mặc dù trên ấy hình như không đăng hết. Tôi nhớ là “Bức thư từ người đàn bà không quen” là truyện cuối cùng trong tuyển tập mà tôi đã đọc. Dĩ nhiên, tôi có thể nhầm.

Tôi có thể cũng nhầm về cái tựa tiếng Việt của truyện mà tôi đọc ngày ấy. Chỉ biết là trong ký ức của tôi, nó là “Bức thư từ người đàn bà không quen”. Bản dịch sau này của dịch giả Dương Tường, “Bức thư của người đàn bà không quen”, dù chỉ thay đổi chút xíu tôi cũng không thích vì cảm giác nó làm cho bức thư ấy và người đàn bà viết thư ấy trở nên xa cách hơn. Tựa tiếng Anh của truyện này cũng là Letter from an Unknown Woman. Còn tựa gốc tiếng Đức là Brief einer Unbekannten nên chắc cả hai cách dịch đều không sai.

Vả lại, đã “không quen” thì cũng có gì đâu mà gần gũi.

Truyện kể rằng vào một ngày nọ, một anh nhà văn nhận được một bức thư rất dài từ một người phụ nữ mà anh chẳng biết là ai. Nội dung bức thư ấy chính là nội dung chính của truyện. Nó vừa là một bức thư tình vì trong ấy người phụ nữ thổ lộ với anh nhà văn rằng mình đã thầm yêu anh trong suốt cuộc đời như thế nào, nó lại vừa hơn cả một bức thư tình vì nó kể lại gần như toàn bộ cuộc đời của người phụ nữ ấy. Đúng hơn là cuộc đời cô kể từ ngày phải lòng anh ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Trước khi đọc truyện này tôi có chút định kiến với chuyện yêu đơn phương. Đại để kiểu như là yêu đơn phương đâu phải là yêu, và việc quái gì phải yêu đơn phương cho nó khổ. Nhưng sau khi đọc xong truyện ấy tôi tự hiểu rằng không có bất cứ một lý do nào chính đáng để chúng ta phán xét một người đi yêu đơn phương một người khác. Lại càng chẳng có bất cứ một lý do gì để chúng ta cảm thấy thương hại những người yêu đơn phương mà không được đáp lại. Chắc gì bạn đã hiểu về tình yêu nhiều bằng họ.

Tôi cũng chẳng biết đến giờ thì mình đã đọc bao nhiêu truyện về tình yêu nhưng “Bức thư từ người đàn bà không quen” vẫn là một trong những chuyện tình hay nhất mà tôi được đọc.

Đây không phải là chuyện về một người phụ nữ đau khổ vì yêu mà không dám (không muốn) thổ lộ (cho tới tận trước khi chết) và gần như chẳng được đáp lại. Đây là một câu chuyện về một người phụ nữ hạnh phúc vì yêu một người đàn ông, không phải bằng cách chiếm đoạt lấy anh ta cho riêng mình, mà chỉ bằng việc nhìn anh từ xa, theo dõi nhất cử nhất động của anh, thuộc lòng mọi thói quen của anh, bấn loạn mỗi lần gặp anh, đắm chìm trong hạnh phúc những khi hai người bên nhau, và rồi lặng lẽ sinh con và nuôi dưỡng đứa bé trong niềm hạnh phúc của một tình yêu chưa bao giờ tắt. Bức thư ấy chỉ là để tỏ tình, không một lời trách móc.

Con em chết hôm qua.” là một câu được lặp lại vài lần trong bức thư cho tới khi nó được bổ sung thêm câu “Nó cũng là con anh.” Cuộc đời của người phụ nữ ấy hình như cũng khá bi kịch theo một góc nhìn thông thường, nhưng đọc xong tôi lại không có cái cảm giác nặng nề thương xót. Tôi chỉ nhớ đến tình yêu của cô ấy.

Truyện kết lại bằng hình ảnh anh nhà văn đọc xong bức thư, ngồi một mình trong căn phòng quen thuộc và nhận ra rằng đây là lần đầu tiên trong ngày sinh nhật anh, những bông hoa từ một người hâm mộ nào đó đã không còn được gửi đến nữa. Người ấy đã trút hơi thở cuối cùng chẳng bao lâu sau khi gửi cho anh bức thư này. Trong ký ức mơ hồ của anh, dù có cố gắng cách mấy anh cũng không thể nhớ được người ấy là ai trong hằng hà sa số những người đàn bà đã đi qua cuộc đời mình.

Thật ra, có lẽ tất cả chúng ta dù ít dù nhiều đều rất vô tình với một ai đó trong cuộc đời này.

Leave a comment

Filed under Truyện vừa

Chị Bridget và anh Oscar

Bridget Jones và Oscar Dufresne. Chị người Anh còn anh người Pháp. Chị làm sách còn anh viết sách. Mỗi người có một cuốn nhật ký để đời.

(Thật ra chị có tới ba cuốn nhật ký, nhưng có lẽ chỉ có cuốn đầu tiên mới là cuốn để đời. Bài này chỉ nói tới cuốn ấy.)

Nhật ký của chị đề tên chị – Nhật ký của Bridget Jones – với chú thích: một cuốn tiểu thuyết. Nhật ký của anh không đề tên anh mà đề một lời tự mô tả bản thân bằng chữ nghĩa thực ra đi mượn của người khác: Kẻ ích kỷ lãng mạn. Chẳng chú thích gì thêm.

“Một số người khẳng định tôi tên là Oscar Dufresne; số khác lại nghĩ tên thật của tôi là Frédéric Beigbeder. Đôi khi tôi khó mà nhận ra được mình qua cái tên.” 

Bridget Jones nổi tiếng kinh hoàng trong khi chả mấy ai nhớ tên người tạo ra chị, Helen Fielding. Ngược lại, Oscar Dufresne khó mà nổi tiếng hơn Frédéric Beigbeder, người tạo ra anh.

Nhật ký của chị được công bố năm 1996. Của anh năm 2005. Đều được viết trong những ngày tháng loạng choạng của tuổi ba mươi cộng cộng (chị ba hai, anh ba tư và ba lăm).

Nhật ký của chị dài một năm, bắt đầu từ mùa đông. Nhật ký của anh dài hai năm, bắt đầu từ mùa hè.

Thật ra chị không chia nhật ký theo mùa, mà chia theo tháng, mỗi tháng đi kèm với một cái tựa mà tựa ngắn nhất là “Huh” và dài nhất là “Severe birthday-related thirties panic”, chả có cái tựa nào ướt át. Anh thì chia nhật ký theo mùa, mỗi mùa cũng đi kèm với một cái tựa, một nửa số tựa ấy là ướt át, ví dụ, “Sự yên lặng tinh khiết của làn nước lung linh”.

Ngày nào viết nhật ký thì chị ghi thứ, ngày cụ thể, nhiều khi còn có cả giờ giấc nữa. Ngày nào viết nhật ký thì anh chỉ ghi thứ, không ghi ngày cụ thể, trừ ngày cuối cùng – thứ Hai ngày 9 tháng Chín năm 2002. À, trừ thêm cả ngày 11 tháng Chín năm mà ai cũng biết là năm nào đấy nữa.

Nhật ký của chị bắt đầu từ một ngày Chủ nhật, kết thúc bằng một ngày thứ Ba. Của anh bắt đầu từ một ngày thứ Hai, kết thúc cũng bằng một ngày thứ Hai.

Nhật ký của chị thật ra bắt đầu bằng hai trang New Year’s Resolutions liệt kê những gì chị hạ quyết tâm sẽ không làm và sẽ làm trong năm mới. Nhật ký của anh thật ra bắt đầu với một trang trích dẫn hai câu của hai ông nhà văn.

Nhật ký của chị đề tặng mẹ. Nhật ký của anh đề tặng gái.

Trong nhật ký của anh có nhắc tới chị. Nhật ký của chị dĩ nhiên chẳng có chỗ nào nhắc tới anh vì ngày chị viết nhật ký anh còn chưa hiện hồn.

Nhật ký của chị là một câu chuyện rõ ràng. Nhật ký của anh rõ ràng là có rất nhiều chuyện.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Tội phạm vì hòa bình

Nguyên bản tiếng Anh Felon for Peace: The Memoir of a Vietnam-era Draft Resister của tác giả Jerry Elmer, © 2005 Vanderbilt University Press. Bản dịch tiếng Việt của Nhà xuất bản Thế giới được ra lò rất sớm, ngay cuối năm 2005. Tôi đã làm mất cuốn sách giấy nên không rõ ai dịch. Đầu năm 2013, tác giả cuốn sách đã có một chuyến thăm Việt Nam. Cùng năm đó cuốn này được tái bản lần thứ ba, còn từ đó tới nay không rõ có được tái bản thêm lần nào nữa không. Tôi có bản điện tử cuốn này, mà tiếng Anh, ai muốn đọc xin cứ nhắn, tôi sẽ vui lòng gửi vô hòm thư cho.

Tôi đọc cuốn này cách đây cả chục năm rồi (2006), từ đó tới giờ chưa có dịp đọc lại. Nhưng đang lục lọi đám sách vở, cũng muốn ghi lại vài dòng review ngắn bằng những ấn tượng về cuốn sách có từ ngày đó.

Đại khái nội dung cuốn này nói về những năm tháng tác giả đã tham gia vào phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của người dân Mỹ vào những thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Tác giả đã bắt đầu sự nghiệp phản chiến của mình bằng việc từ chối đăng ký quân dịch ngày ông 18 tuổi (năm 1969). Gọi là “tội phạm vì hòa bình” là bởi ngày ấy hành động này – mà ông gọi là một hành động “bất tuân lệnh dân sự” – ở Mỹ bị coi là phạm pháp. Cuốn sách cũng chứa đựng những giải thích, quan điểm của tác giả về con đường đấu tranh phi bạo động, mà trong đó có một phần được đặt tựa rất ấn tượng: There is no way to peace; peace is the way (Không có con đường nào dẫn tới hòa bình; hòa bình chính là con đường.)

Đến giờ tôi không còn nhớ nhiều chi tiết của cuốn sách, nhưng nhớ là ngày ấy đọc thấy cuốn sách rất sống động. Như nhiều cuốn hồi ký được xuất bản, cuốn sách này không chỉ kể một câu chuyện cá nhân thú vị, mà nó cũng giúp người đọc hiểu hơn về bối cảnh xã hội mà người kể chuyện đã sống vào thời đó. Có thể một lý do khiến câu chuyện hấp dẫn là bởi tác giả, qua lời dịch, “dở dơi dở chuột” như ông tự nhận xét về chính mình. (Nguyên văn tiếng Anh là “neither fish nor fowl”.) Thấy mình “dở dơi dở chuột” không phải là một cảm giác dễ chịu gì, nhưng tôi cho là chính bởi không phải là “điển hình” của bất kỳ nhóm/cộng đồng nào mà ông tham gia nên Jerry có được những góc nhìn không bị phiến diện theo những đám đông.

Trong suốt cuộc đời, tôi luôn có cảm giác không thật sự hòa hợp, có cảm giác mình ‘dở dơi dở chuột’.

… Các bạn cũ của tôi trong phong trào hòa bình nhìn tôi như một luật sư công ty, còn các đồng nghiệp ở công ty luật lại coi tôi như một nhà hoạt động vì hòa bình.

… Trong phong trào hòa bình, tôi được coi là người cực kỳ có máu kinh doanh. Tôi phụ trách việc gây quỹ cho văn phòng, đề ra những kế hoạch gây quỹ lớn, và thường xuyên đạt và vượt chỉ tiêu gây quỹ. … Nhưng trong giới luật công ty, tôi được coi như chẳng có tí máu kinh doanh gì. … Tôi là lựa chọn số một của mọi người cho công tác nghiên cứu và viết các bản báo cáo tóm tắt khó nhằn về các điểm bí hiểm hoặc khó hiểu của luật, nhưng tôi cũng được cho là hầu như chẳng có chút cảm nhận gì về thực tế hay tài chính của một công ty luật.

Cô Ely dạy tôi phải nhìn nhận mọi việc một cách ngờ vực. Tôi tâm tâm niệm niệm bài học đó, và bài học đó đã dẫn tôi đến một cuộc sống có phần gây tranh cãi. Ngày đầu tiên của năm lớp 6, khi cô Kozlarek nói dối học sinh lớp mình rằng cô và học sinh sẽ cùng nhau lên kế hoạch cho việc học, nhưng thực ra cô ấy chẳng có ý làm thế, tôi hiểu ra vấn đề ngay lập tức và nói cho cô ấy biết luôn. 25 năm sau, AFSC cho rằng cách đúng đắn để giải quyết hàng thế kỷ bất công chủng tộc là quay mặt ra chỗ khác khi nhân viên kế toán biển thủ tiền bởi vì anh ta là người da đen, tôi thật không tài nào ‘nuốt’ nổi quan điểm đó. Ngược lại, đảng viên và tất cả những ai tuân theo một cách mù quáng đường lối của bất kỳ đảng phái hay hệ tư tưởng nào lại coi vấn đề này tương đối nhẹ nhàng hơn. Kể cả khi họ không hợp với văn hóa chủ đạo, thì ít nhất họ cũng hòa hợp với đảng, với nhóm hay tổ chức của họ, kể cả nếu như nhóm đó là một thiểu số bé tí.

Họ có thể không phải là ‘dơi’, nhưng ít nhất thì họ cũng là ‘chuột’. Còn tôi thấy mình ‘dở dơi dở chuột’.

(Nhân tiện là bản điện tử tôi có chắc do sơ suất tôi đã lấy thiếu mất đúng 4 trang của phần áp chót này của cuốn sách. Phần tiếng Việt vừa dẫn ở trên là do ngày trước đã chép lại nên mới có.)

Cuốn sách này với tôi có một ấn tượng sâu sắc một phần cũng bởi ngày ấy tôi chưa được đọc nhiều về phong trào phản chiến của người Mỹ và hiểu biết về lịch sử còn rất nông cạn. Thế hệ của tôi phần đông lớn lên với những bài học lịch sử trên lớp đề cập rất vắn tắt về phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ thời bấy giờ, chủ yếu lại theo giọng điệu “nhân dân Mỹ tiến bộ cũng ủng hộ sự chính nghĩa của chúng ta”. Sau này đọc thêm về lịch sử Mỹ tôi mới hiểu rằng phong trào phản chiến ngày ấy đóng một vai trò quan trọng hơn nhiều trong việc chính quyền Mỹ phải rút khỏi cuộc chiến ở Việt Nam – chứ không phải chỉ là một sự “ủng hộ” hay là chuyện “vì ta chính nghĩa nên thắng Mỹ”. Nhưng ngay từ ngày đọc xong cuốn sách ấy, tôi cũng đã lờ mờ cảm nhận được rằng thế giới bên ngoài những gì tôi đã được dạy ở trường có những dòng chảy vô cùng sôi động.

Leave a comment

Filed under Hồi ký - Tự truyện

[Ghi chú] Những giấc mơ từ cha tôi

Quyết định bổ sung thêm category “Ghi chú” cho blog này. Ghi chú không phải là review về nội dung sách như thường lệ, mà là ghi lại một vài điều gì đó về cuốn sách để những người đọc sách khác biết, ví dụ như chuyện làm sách cẩu thả.

Không phải là tôi muốn bới móc, nhưng những quyển sách được dịch, biên tập, hay làm gì đó cẩu thả không xứng đáng để người đọc tiếp tục bỏ tiền ra mua. Tôi cũng rất thông cảm với ngành xuất bản nhưng quả thực hiện chỉ biết làm phần việc của một người đọc: đòi hỏi những sản phẩm tốt hơn.

Nạn nhân đầu tiên: Những giấc mơ từ cha tôi. Bản dịch tiếng Việt do Youbooks thực hiện và xuất bản năm 2008. Youbooks thuộc Mekongcom Corp. Đơn vị liên đới xuất bản: Nhà xuất bản Văn học.

Cuốn này bìa đẹp, in ấn đẹp, chữ to dễ đọc, ảnh tác giả Barack Obama đẹp lol. Tôi đã đọc hết phần Lời tựa cho ấn bản 2004, phần Giới thiệu, và chục trang đầu của phần một. Thực ra hai phần râu ria đầu thì không vấn đề gì nhưng sang phần chính mới đọc chục trang đã thấy khá nhiều lỗi rất không đáng có, mà tôi nghĩ đó chủ yếu là lỗi người biên tập. Ví dụ, viết hoa tùy tiện, viết sai chính tả, thường xuyên lẫn giữa dấu hỏi với dấu ngã.

Bên cạnh đó, dịch cũng không được tốt. Ví dụ, “…một phần của ranh giới chưa được đặt tên ngăn cách Hướng Đông Harlem và phần còn lại của Manhattan.” ‘Hướng Đông Harlem’ là cái gì?? Đúng ra phải dịch là ‘khu Đông Harlem’, vì ‘East Harlem‘ là một khu dân cư (neighborhood).

Hoặc thế này:

…anh bạn của tôi hét lên với sự giận dữ thật ấn tượng, và chúng tôi cười nhạo vào mặt của tên chủ và con chó, thật ác nghiệt và chẵng một lời xin lỗi và cứ thế họ bỏ đi.

Tôi vui thú với những khoảnh khắc này – nhưng chỉ trong thoáng chốc. Nếu sự việc lan ra hoặc vượt đường ranh giới thì tôi sẽ sớm tìm ra lý do để bào chữa cho chính mình.

Vậy nên tôi chịu không thể đọc tiếp cuốn sách này được. Kính mong các bác làm sách cẩn thận tí cho em nhờ. Bác nào cần dịch sách thì nhắn em 😀

Leave a comment

Filed under Ghi chú