Tag Archives: Murakami

1Q84

Tôi đọc ba cuốn 1Q84 (bản tiếng Việt) cũng khá cách quãng, tuy nhiên khi gần đây lật lại cả ba cuốn để chuẩn bị viết bài review này, tôi vẫn muốn bảo lưu cảm nhận của mình khi đọc xong bộ này, ấy là thất vọng. Nhưng tôi lại cảm thấy có nhiều điều đáng nói xung quanh sự thất vọng này.

Nhìn chung, tôi cho rằng đây là một thất bại của Murakami. Trước hết, hai nhân vật chính rất mờ nhạt. Không biết họ có phải là nguồn cảm hứng để sau này ông nghĩ ra cái nhãn “không màu” cho nhân vật chính của một cuốn sách khác của mình hay không nữa. Hai nhân vật chính ngoài chút tài năng ra tôi không thấy họ có gì đặc biệt đáng chú ý cả. Vậy hãy đọc chính Murakami viết gì về tài năng trong chính cuốn sách “không màu” của ông mà tôi cảm thấy như là khi đó ông đang review chính hai nhân vật trong 1Q84 của mình vậy:

“À, tài năng ấy à, nó đôi khi rất dễ chịu. …Nhưng cậu Haida này, tài năng chỉ phát huy vai trò khi được nâng đỡ bởi sự tập trung mạnh mẽ, dẻo dai của thể xác và ý thức mà thôi. Chỉ cần một con vít nằm đâu đó trong óc rơi ra, hoặc một mạch nối nào đó trong cơ thể đứt cái phựt, thì sức tập trung hoặc bất cứ thứ gì cũng sẽ tiêu biến như làn sương sớm. …Thể xác con người yếu đuối như vậy đấy. Nó là một hệ thống có cấu tạo phức tạp và tinh vi khủng khiếp, nên hỏng hóc là chuyện thường. Và trong phần lớn các trường hợp, một khi đã hỏng hóc thì khó lòng mà khôi phục được. Sâu răng hay mỏi vai có lẽ vẫn còn chữa được, chứ có nhiều thứ khác không chữa nổi đâu. Được xây dựng trên một nền móng bất trắc và thiếu tin cậy như thế thì thử hỏi tài năng có ý nghĩa đến mức độ nào?”

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương

Hình như đây là lần đầu Murakami đẩy nhân vật nữ chính lên một tầm mới, trở thành một nhân vật chính thực sự chứ không chỉ còn là một “phương tiện” để cho nhân vật nam chính thực hiện các chuyến hành trình tìm kiếm chính mình (nguyên văn ông dùng “medium” ở bài phỏng vấn siêu dài này). Nhưng cô nhân vật nữ chính này chẳng qua chỉ là một bản sao phiên bản nữ của nhân vật nam chính – tính cách khá tương đồng – chỉ thêm một ít gia vị để người đọc biết rằng đó là phụ nữ thôi. Tôi thì thấy nhạt nên không để ý lắm, nhưng một nhà phê bình đã phê phán việc Murakami đã xây dựng một nhân vật nữ chính quá ám ảnh về bộ ngực của mình như là để thể hiện sự nữ tính của nhân vật. Bài viết khá dài, moi móc ra từng đoạn Murakami đã mô tả sự ám ảnh ấy như thế nào, xem thêm ở đây.

Còn về tình yêu của hai nhân vật này, không rõ có ai thấy cảm động không mà tôi chả có cảm xúc tẹo nào hết trơn!? Hai cô cậu cô đơn cầm tay nhau năm mười tuổi để rồi chỉ vì vậy mà sau này sống chết cũng phải tìm nhau cho bằng được – tôi không cảm thấy thuyết phục lắm.

Về nhân vật nam chính, một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời cậu này là mối quan hệ với người cha, nhưng tôi cảm thấy Murakami như copy lại câu chuyện cha con của Paul Auster nên không có gì đáng nói cả, mà thực ra cũng không hay bằng câu chuyện của Auster. Ai chưa biết câu chuyện cha con của Auster có thể đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace của bác này (cuốn sau cũng là tiếng Việt).

Nhân vật phản diện Ushikawa thực ra cũng chỉ là một bản sao méo mó của hai nhân vật chính – y cũng có tài năng riêng, và cũng có ý chí sắt đá và lối sống kỷ luật, như rất nhiều nhân vật chính khác trong những cuốn sách khác của Murakami. Rất có thể đây là dụng ý của Murakami, nhưng tôi cho là việc mô tả một nhân vật phản diện có bề ngoài xấu xí đến dị thường và khó ưa là một lối xây dựng nhân vật rất chán. Khi đọc những phần về nhân vật này, tôi có cảm giác như Murakami dựa khá nhiều vào những hiểu biết của ông về những thành viên giáo phái Aum – được mô tả hay và kỹ hơn nhiều trong cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Ví dụ trong cuốn ấy, ông có viết những đoạn mà tìm đỏ mắt trong 1Q84 cũng không thấy có gì hay được bằng, chứ đừng nói là hay hơn những gì ông đã viết ra cách đây nhiều năm:

Nó [Aum] cho chúng ta thấy một hình ảnh của chính chúng ta bị bóp méo theo cách thức mà không ai trong chúng ta có thể lường tới trước. …trên thực tế, những lần chạm trán có thể đánh thức mạnh mẽ nỗi ác cảm hay ghê sợ thường lại là hình ảnh phóng chiếu của chính các lỗi lầm và nhược điểm của chúng ta. …trong sự tồn tại của họ, chắc chắn phải có gì đó cũng có trong chúng ta… Hay đúng hơn, “bọn chúng” là tấm gương phản chiếu của “chúng ta”!

Tương tự như Ushikawa, giáo phái trong 1Q84 hẳn cũng là một sự hư cấu của Aum. Aum trên thực tế được thành lập vào năm 1984. Tôi không thực sự hiểu câu chuyện về cái năm 1Q84 này và sự trốn thoát của hai nhân vật chính khỏi không gian này để trở về “không gian thực” (1984?). Có lẽ Murakami muốn ước rằng giáo phái ấy đã chỉ tồn tại trong một không gian ảo là 1Q84, để cho giáo chủ bị giết và hệ thống còn lại không có cách nào để tự tái tạo lại được? Dù sao thì câu chuyện quá dài và quá thiếu hấp dẫn nên chắc tôi không thể đọc lại để mà theo đuổi câu hỏi này được.

Nhìn chung, tôi thấy đây là một tác phẩm tham vọng của Murakami nhưng ông đã chưa phát triển được cho chín các ý tưởng của mình. Mà với một người kỷ luật như ông thì chắc là khi đến hẹn với các nhà xuất bản thì kiểu gì ông cũng phải kết thúc câu chuyện mà xuất bản nó ra – cái này tôi đoán mò thôi.

Dù sao thì cá nhân tôi là một người đọc Murakami cũng kha khá lại cảm thấy thú vị trước 1Q84 ở chỗ Murakami đã bò ra khỏi vùng an toàn (comfort zone) của ông để thử nghiệm, nên dù ông có thất bại tôi vẫn thích hơn là nhìn thấy ông cứ quanh quẩn với những câu chuyện và những nhân vật quen thuộc. Không biết liệu sau này ông có dám tiếp tục thử nghiệm nữa không, vì cuốn “không màu” ra sau bộ 1Q84 đã lại thấy ông rút về vùng an toàn rồi.

Một lần, tôi nói với một bạn độc giả của Murakami chưa đọc cuốn này là nếu muốn bạn ấy có thể bỏ qua vì cuốn này dài mà chán, nhưng giờ tôi lại nghĩ lại. Tôi nghĩ là đây là một phép thử rất hay với những độc giả thường xuyên của Murakami – những người đã quen với thành công của ông giờ sẽ nhìn nhận thất bại này của ông như thế nào? Họ sẽ muốn ông tiếp tục thử nghiệm và chấp nhận thất bại hay muốn ông quay về vùng an toàn? Hay là họ cũng chẳng quan tâm nữa vì như một số độc giả nói, họ đang falling out of love với ông rồi?

Tôi cũng tạm chia tay Murakami từ đây, không phải vì bộ 1Q84 này mà vì tôi đã hẹn hò ông này quá lâu rồi và giờ thì muốn dành thời gian đi hẹn hò những người khác. Tương lai có quay lại với Murakami hay không thì tôi phó mặc cho duyên số. 🙂

10 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Ngầm (Murakami)

Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng

Trần Đĩnh dịch từ bản tiếng Anh. Nhã Nam và NXB Văn hóa Sài Gòn phát hành năm 2009.

© 1997 Haruki Murakami

Cứ lần lữa mãi việc viết review cho cuốn này vì chẳng đọc được thêm cuốn nào trong số ít nhất hàng chục cuốn sách viết riêng về thảm kịch này, chưa kể những cuốn dành cho nó một phần hoặc một chương. Nhưng thôi kệ cứ review lần một, sau này có muốn review lần nữa thì tính sau. Phải review cuốn này vì còn muốn review 1Q84 (dù không thích cuốn đấy), mà review 1Q84 là sẽ muốn nhắc đến Ngầm một chút.

Giống như nhiều thảm kịch khác, vụ khủng bố bằng chất độc sarin trên một số tuyến tàu điện ngầm tại Tokyo năm 1995 được các báo lao vào đưa tin, phân tích, với các câu chuyện về nạn nhân và thủ phạm được đưa lên những trang nhất để mọi người có được một bức tranh càng nhiều chi tiết càng tốt về điều kinh hoàng vừa diễn ra. Ồn ào rồi cũng quên đi. Trừ các nhà nghiên cứu xã hội thì xắn tay vào nghiên cứu, viết sách, rồi những quyển sách đó sau này người Nhật có đọc không, thế giới có đọc không, thì tôi không rõ. Nhưng tôi cũng như nhiều người khác chỉ được biết đến thảm kịch này nhờ cuốn Ngầm của Murakami. Tôi cũng không biết ở Việt Nam có còn dịch cuốn nào khác viết về thảm kịch này không (lại càng không dám nghĩ đến chuyện có người Việt đã viết sách về sự kiện này bằng tiếng Việt).

Ngầm là một cuốn sách đặc biệt, vừa có tính báo chí lại vừa không phải báo chí, vì Murakami dành không gian rộng hơn cho các câu chuyện cá nhân, và để cho các cá nhân mà ông phỏng vấn tự kể, ông chỉ là người ghi chép lại trên cơ sở cùng trò chuyện và đặt ra các câu hỏi gợi mở.

Ngầm cũng vừa như một nghiên cứu xã hội học lại vừa không phải. Về phương pháp tiếp cận, thực hiện phỏng vấn, tháo băng, ghi chép của Murakami cũng như việc ông mô tả tỉ mỉ trong cuốn sách mình đã thực hiện các công việc như thế nào thì hoàn toàn giống một nghiên cứu xã hội học định tính. Chỉ cái cách xử lý dữ liệu và lựa chọn định dạng đầu ra – tức là nội dung cuốn sách này – thì không phải là một nghiên cứu. Murakami là nhà văn, ông ít khi muốn áp đặt suy nghĩ, đánh giá của mình lên câu chuyện của nhân vật – dù có thật hay tưởng tượng – trong cuốn này thì ông cũng có bàn luận đôi chút, nhưng phần lớn cuốn sách là một tập hợp các câu chuyện cá nhân nhìn từ cả hai phía – nạn nhân và thủ phạm.

Đúng như mong muốn của Murakami, các câu chuyện của các nạn nhân hiện lên rất sống động và đọc xong có lẽ người đọc đều tự cảm nhận được một phần nào đó về cái mà ông gọi là “ruột gan của nước Nhật” lúc bấy giờ. (Nói cho chính xác hơn thì chỉ là tâm hồn của những thị dân Tokyo, chứ tôi không tin nước Nhật lại chỉ là một Tokyo phóng lớn.) Nhìn chung là rất nhiều câu chuyện hay về việc người Nhật đã giúp nhau như thế nào giữa lòng thảm kịch ấy, từ những nhân viên nhà ga, đến chính những người bị trúng độc đã xoay xở cứu giúp lẫn nhau, đến những bác sĩ ở một bệnh viện đã chủ động in một bản hướng dẫn xử lý nạn nhân trúng độc sarin và gửi đi cho khắp các bệnh viện lớn vì họ biết rằng không nhiều người có kinh nghiệm với việc này. (Phản ứng chậm chạp của ngành y tế lúc đó dĩ nhiên đã nhận chỉ trích.)

Trong các câu chuyện về các nạn nhân, tôi thấy xúc động nhất là câu chuyện của một cô gái mà đến khi Murakami đến gặp cô, hơn một năm sau thảm kịch, mới vừa thoát khỏi trạng thái thực vật, bắt đầu tập nói trở lại và phục hồi trí nhớ. Người anh trai cô đã gần nửa năm trời ngày nào cũng tới thăm cô sau giờ làm việc và trở về nhà chỉ ngay trước nửa đêm – ngày nào cũng vậy. Khi Murakami đến gặp cô ông cũng thấy rất bối rối không biết nên phải nói gì.

Tối hôm đến bệnh viện thăm, tôi đã muốn động viên cô bằng cách nào đó – nhưng bằng cách nào? Tôi nghĩ cái đó tùy thuộc vào tôi nhưng hoàn toàn không phải vậy; thậm chí không cần phải nghĩ đến việc động viên cô nữa. Cuối cùng chính cô lại là người khích lệ tôi

Trong quá trình viết quyển sách này, tôi đã đầu tư nhiều suy nghĩ nghiêm túc vào Câu hỏi Lớn: sống có nghĩa là gì? Nếu tôi ở vào địa vị Shizuko, liệu tôi có sức mạnh ý chí để sống tròn đầy như cô không? Liệu tôi có dũng cảm hay ngoan cường và quyết tâm như cô không? Tôi có thể nắm bàn tay một ai với hơi ấm và sức mạnh như thế không? Tình yêu của những người khác liệu có cứu được tôi không? Tôi không biết. Thật thà mà nói, tôi không chắc chắn lắm.

Về mặt kia của câu chuyện này là hàng ngàn câu hỏi tại sao xung quanh câu hỏi tại sao lớn nhất: tại sao thảm kịch này lại xảy ra? Trước hết, những câu chuyện của “bọn chúng”, tức là những thành viên của giáo phái Aum – chủ mưu của vụ khủng bố này, lại được kể lại qua ghi chép của Murakami về cuộc phỏng vấn của ông với họ. Từ những dữ liệu thô này, mỗi người đọc cũng có thể có những tự ngẫm riêng cho mình về sự hình thành và phát triển của một giáo phái cực đoan trong lòng một xã hội dường như đã có đủ mọi vật chất xa hoa mà lại có những khoảng trống mênh mông trong lòng nhiều con người vốn cũng rất bình thường như chính những nạn nhân của thảm kịch. Những lời cuối cùng của cuốn sách Murakami đã viết như sau:

…Nhưng chúng ta cần nhận thức rằng phần lớn những người gia nhập các giáo phái đều không phải là người dị thường, họ không có điểm gì thiệt thòi, họ không lệch lạc. Họ là những người sống cuộc đời thường thường bậc trung (và nhìn từ ngoài có khi còn hơn cả bậc trung nữa), những người đang sống gần quanh tôi. Và cả quanh bạn.

Có thể họ đã nghĩ về mọi chuyện hơi quá nghiêm túc một chút. Có lẽ trong nội tâm họ có nỗi đau nào đó họ cứ mãi mang theo. Họ không giỏi bày tỏ cảm xúc của mình cho người khác và có phần nào đó bất an. Họ không thể tìm ra cách thích hợp để tự diễn đạt bản thân, và cứ đắn đo qua lại giữa cảm giác kiêu hãnh và cảm giác mình thiếu năng lực. Tôi rất có thể là như thế. Và cả bạn nữa.

Còn nhiều trang viết khác trong cuốn sách này như đoạn trích ở trên – so với các cuốn tiểu thuyết của ông thì ở đây Murakami chia sẻ nhiều hơn về việc ông nghĩ gì về cuộc đời này. Trong các cuốn tiểu thuyết của mình, như các nhà văn khác, ông chỉ viết vài câu “triết lý” rất ngắn chen giữa câu chuyện của các nhân vật, rồi lại nhanh chóng đẩy người đọc trở lại thế giới tưởng tượng của mình.

Tôi rất muốn trích-chép thêm vài đoạn nữa để kết thúc bài review này, nhưng để mà chép cho thành một cái gì đó make sense một chút thì lại rất dài, nên thôi các bạn đọc sách (hoặc đọc lại) đi vậy.

Như đã nói từ đầu, tôi viết bài review này một phần là để “dọn đường” cho bài review tiếp về 1Q84, vì khi đọc quyển ấy tôi không thể không nghĩ tới Ngầm và giáo phái Aum. Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi nghĩ độc giả của Murakami nên đọc Ngầm trước khi đọc 1Q84. Tôi nghĩ là đọc theo trình tự ngược lại cũng rất thú vị, và hy vọng sẽ có bạn nào đọc theo trình tự ấy rồi viết review móc nối hai quyển cho tôi chống mắt lên đọc. Khi ấy tôi nhất định sẽ comment ;).

8 Comments

Filed under Phi hư cấu khác

Toru, Midori, Naoko, và tôi

Có một lần lang thang đọc blog của mọi người, thấy một bạn hỏi, sách gối đầu giường của bạn là gì, tôi cũng nhảy vào chuyện phiếm cho vui là tôi hay thay “gối” liên tục. Thật ra cũng có một cuốn sách tôi đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, đọc bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, đó là “Rừng Na Uy” (RNU). Nhưng quả thực tôi không muốn gọi nó là cuốn sách gối đầu giường của mình. Bởi theo tôi hình dung, sách gối đầu giường phải là sách mà người ta cảm thấy say sưa yêu thích đến mức cứ đọc đi đọc lại mãi mà không biết chán. Tôi không thể nói là tôi cảm thấy hạnh phúc khi đọc RNU. Xúc động thì có, nhưng không phải là cảm giác say mê tích cực mà tôi có như khi đọc Jack London chẳng hạn.

Tôi đọc đi đọc lại RNU chỉ vì tôi cứ bị nó ám ảnh. Mỗi lần đọc lại xong đều thấy vương vất một cái cảm giác trong ấy còn một cái gì đó rất mơ hồ mà tôi chưa nắm bắt được, nhưng cảm nhận về nó thì lại rất thực. Bây giờ nhìn lại, tôi nghĩ rằng sở dĩ cái cảm giác ấy nó cứ ám ảnh tôi một thời gian dài là bởi RNU đã chạm được vào những góc khuất sâu nhất trong con người tôi mà chính tôi cũng không biết. Trên thực tế, sau khi đọc nó lần đầu tiên, tôi còn phải mất thêm nhiều năm, trải qua một số biến cố của đời mình, mới dần dần nhận dạng ra được. Nhưng rõ ràng với tôi cuốn sách này là kiểu “love at first read” – một cuốn sách bạn yêu ngay từ lần đọc đầu tiên.

Như tôi cũng đã từng kể, có lần có bạn hỏi tôi, các nhân vật của Murakami hầu hết đều vô dụng và yếu đuối, tại sao HA vẫn yêu? Sau này một lần tôi tự trả lời nửa đùa nửa thật, là chắc vì tôi về một phương diện nào đó cũng rất vô dụng và yếu đuối. Tôi không thực sự nghĩ về mình như thế (hiển nhiên rồi, trên đời này làm gì có ai vô dụng và ai mà chẳng có lúc yếu đuối và lúc khác lại mạnh mẽ như siêu nhân), nhưng sau đó tôi cũng bắt đầu nghĩ rằng có lẽ tôi giống các nhân vật của Murakami ở một vài điểm nào đó nên tôi cứ đọc sách của ông này hết cuốn này tới cuốn khác.

Thật ra ngay sau lần đầu đọc RNU tôi đã cảm thấy mình giống Toru Watanabe, một người trẻ tuổi sống vô hướng giữa dòng đời nhốn nháo, hay đọc sách, suy nghĩ, và quan sát mọi thứ, rồi cố gắng tìm lấy cho mình một lối đi. Và tôi có lẽ vẫn còn nghĩ như vậy nếu không có một lần đọc một blog post phân tích các nhân vật nam chính của Murakami cũng như chính con người ông. Đại ý theo tôi còn nhớ bài đó mô tả họ, tức là Murakami và các nhân vật chính của ông, là những người sống giản dị, khép kín, nhưng rất kỷ luật, và chính kỷ luật là điều giúp họ rèn luyện cho mình một bản lĩnh để “sống sót” giữa cuộc đời này. Đọc xong thì tôi nhận ra, à hóa ra tôi khác họ về căn bản. Sau này tôi mới dần dần nhận ra là thực ra tôi đã bị thu hút bởi những người kiểu như thế. Tôi là người sống không có kỷ luật. Không những thế, tôi còn là người thích đi tháo dỡ mọi thứ rào cản, kỷ luật, vượt qua mọi ranh giới, nếu có thể (kiểu như Elizabeth Gilbert). Một lối sống như vậy, nhất là khi còn trẻ và ít kinh nghiệm sống, thường mang lại không ít hoang mang. Khi ấy người ta cũng cần phải tìm lấy một cái gì đó mà bấu víu vào. Không phải là để từ bỏ tự do mà là để yên tâm sống tự do. Đó là một điều mà mãi sau này tôi mới hiểu. Tôi không phải là Toru, nhưng trong vô thức tôi đã muốn một phần nào đó của mình trở thành Toru. Bởi nhân vật ấy ngay từ đầu đã mang lại cho tôi một cảm giác về sự bình an trong lòng mình, để có thể yên tâm được là chính mình.

Tôi thực ra là Midori. Tôi cũng phải mất một thời gian khá dài để nhận ra được điều đó. Xã hội loài người từ rất rất rất lâu rồi đã biết sản sinh ra rất nhiều thứ để trói buộc con người (những thứ như là văn hóa chẳng hạn), một mặt gắn kết con người lại với nhau nhưng mặt khác lại hạn chế rất nhiều tự do cá nhân. Tệ hơn, những thứ trói buộc ấy còn tách mỗi cá nhân ra khỏi cái bản thể thực sự của mình (tiếng Anh vẫn gọi là identity) ngay từ rất sớm. (Rất nhanh sau khi ra đời bạn đã bắt đầu phải học các “quy tắc ứng xử” để làm một đứa trẻ ngoan. Lan man thêm một chút, đó có lẽ là lý do vì sao các tôn giáo ra đời nhằm cứu rỗi linh hồn con người – dĩ nhiên đây chỉ là quan điểm của cá nhân tôi.) Tôi hiển nhiên là đã sinh ra và lớn lên trong một xã hội đầy trói buộc như thế. Và cũng như bao người khác, tôi cũng cần thời gian và trải nghiệm để có thể ngày càng đến được gần hơn với con người thực của mình. Việc Murakami đã vô tình tạo ra một nhân vật có chút gần gũi với tôi kể ra cũng thú vị. Nhưng tôi nghĩ điều thú vị hơn, mà thực ra là buồn cười, là tôi đã hoàn toàn không nhận ra cô ấy trong suốt một thời gian dài. Tôi đã viết khá nhiều về mình, nên giờ tôi không còn gì để viết thêm về Midori nữa.

Tôi cũng đồng thời là cả Naoko. Khi đạo diễn Trần Anh Hùng dựng cuốn tiểu thuyết này thành phim, anh có nói là trong mỗi người phụ nữ đều có cả Naoko và Midori. Lúc đầu, tôi nghĩ mãi mà không hiểu tại sao anh lại có cảm nhận như thế. Cho đến lúc chính tôi cũng chẳng may sụt chân rơi vào một cái giếng sâu tăm tối trong lòng mình thì tôi mới nhận ra Naoko. Giữa những ngày ấy ngồi đọc lại RNU tôi mới lần đầu biết rơi nước mắt vì những dòng thoại của cô ấy. Tôi cũng không biết vì sao Murakami lại viết ra được những dòng như thế, nhưng cứ như thể là ông ấy đã đào xới và lôi ra ngoài ánh sáng tất cả những u uất tối tăm nhất trong lòng tôi.

Tôi rất tiếc là Murakami đã không cứu lấy Naoko. Cũng có thể ông cũng đã không biết phải cứu cô ấy như thế nào. Bởi một phần nào đó của ông chính là Toru Watanabe, người đã rất thương yêu Naoko mà lại bất lực trước những nỗi đau của cô ấy. Nếu như có thể viết lại RNU, tôi nhất định sẽ cứu Naoko. Một cái kết nào đó cho cô ấy kiểu như cho Reiko chẳng hạn. Toru vẫn sẽ lựa chọn một tương lai với Midori. Còn Naoko, chỉ cần cô ấy ra được khỏi cái giếng tối tăm ấy, cô ấy sẽ có đủ sức để bắt đầu một cuộc sống mới mà không nhất thiết phải có Toru.

Tôi đã từng đọc ở đâu đó có người viết rằng, RNU là truyện chỉ dành cho tuổi teen. Trên thực tế, cuốn sách này đã trở thành một người bạn đồng hành thân thiết của tôi trong gần như toàn bộ những năm tháng tuổi hai mươi, khi tôi đã thực hiện nhiều chuyến đi, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng, để gặp được chính mình giữa đất trời bao la. Giờ nếu có ai hỏi, bạn có cuốn sách gối đầu giường nào không, tôi sẽ trả lời là: có, có lẽ là tôi đã từng có một cuốn, nhưng thành thực mà nói, đối với tôi nó còn hơn cả một cuốn sách gối đầu giường.

12 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Be sure to be in love with the right one

Please don’t get me wrong. There is no “right” one. All the “right” ones will be “wrong” sometime (or sometimes). But I just couldn’t help thinking that “right one” way when I reread Norwegian Wood today. None of what I’ve written about this book so far can be qualified as a book review, and this post is not going to be an exception. I just feel like I want to write something for Naoko.

I honestly didn’t pay much attention to Naoko in the previous times I read the book. As an “ordinary” person at the time when her “every thought came back, like a boomerang,” to herself, I was clearly more drawn to Watanabe. And for such an ordinary person with little life experience, I have to say, it was not easy at all to understand a depressed Naoko. For me she was beautiful, she was sad, and she sometimes had complicated feelings. Just like any other ordinary person. I didn’t recognize her depression at all.

Although I noticed the severity of Naoko’s illness years ago, not until today had I taken a closer look at the pain she went through. Now I find the book way more depressing than how I felt about it in the past. I had simply ignored the most depressing parts of it, that’s why.

End of chapter one: “The thought fills me with an almost unbearable sorrow. Because Naoko never loved me.

And silly Toru kept that thought haunting him until the end of the book, and clearly until “today” when all of his memories about this started pouring out.

I think she was in love with you, silly! It was just way too confusing and heartbreaking for her to accept the fact that she fell in love with the best friend of her dead boyfriend so unexpectedly after his never-explainable death, especially when she was still broken from the unbearable loss.

Page 111. [Toru:] “I really, truly believe deep down that I’m an ordinary person. Can you find something in me that’s not ordinary?

Perhaps this awareness was one reason why there was always something about Naoko he wasn’t able to reach. Maybe that’s why he was not able to help her as he wanted.This is not to blame Toru. Both of them were too young when the first tragedies in life knocked on their doors.

I feel really sorry for Naoko that nobody was able to help her. She kept falling deeper and deeper to the well of her sorrow. Even a very sincere love could not save her. I think the love she had for Toru and his for her was like a beautiful light she kept looking at while she was falling.

For Naoko’s sake, the story ends in the most bitter way to me ever. The kind of bitterness that I found at the end of “The Reader” (movie).

I know it is very stupid to say this, but sometimes we really need to be in love with a right one.

1 Comment

Filed under In English, Tiểu thuyết

Kino, Kino, và Kino

Kino” là một truyện ngắn của Murakami được dịch sang tiếng Anh, rồi tiếng Việt vào đầu năm 2015. Bản dịch tiếng Việt có thể đọc ở đây.

Review của mình:

Đây dường như là một hành trình tuyệt đối cô độc của Kino, Kino, và Kino. Kamita cũng chính là Kino. Kamita là một tiếng nói từ thẳm sâu trong lòng Kino. Là lý trí của Kino. Là phần mạnh mẽ trong con người Kino. Cũng là con người mà Kino muốn trở thành.

Khi Kino chỉ còn lại một mình, Kamita xuất hiện để “để mắt” đến Kino. Kamita bảo gì, Kino làm nấy. Khi Kino không hiểu Kamita muốn nói gì, Kamita lại rất hiểu Kino cần làm gì.

Bà bác chỉ là một cái cớ. Đúng hơn là một cảm giác thoáng qua về tình mẫu tử của một người đàn ông đã quá tuổi để có thể về với vòng tay mẹ. Cái tuổi mà người ta đôi khi chỉ còn biết trông cậy vào chính mình trong những lúc đau khổ nhất. Thậm chí, để bắt đầu nói chuyện với chính mình cũng thật khó khăn. Như giữa Kino và Kamita.

Chuyện bắt gặp vợ mình ngủ với bạn thân mình là câu chuyện dễ hiểu nhất về một mối đau tình. Bởi thế nên nó cũng là một câu chuyện rất tầm thường. Bởi thế nên nó chỉ là cái vỏ bọc cho một nỗi đau mà ngay cả trong trí tưởng tượng người ta cũng không muốn nhắc đến. Gọi Murakami là một nhà văn biết biến những cái tầm thường thành cái phi tầm thường là vì thế. Tất cả những cái tầm thường chỉ là vỏ bọc. Kể cả jazz, mèo, và một quán bar. Murakami thực sự kết nối với người đọc bằng những cái khác. Cảm giác về nỗi đau chẳng hạn.

Các chi tiết khác đều là fantasy của Kino để hành trình vượt qua nỗi đau của mình bớt cô độc. Trên thực tế, cô người yêu nào đã phản bội hoặc ruồng bỏ Kino có thể đã không bao giờ nói với anh nửa câu. (Nếu có, có khi anh đã không phải sáng tác ra câu chuyện này.) Và một cô gái cool cool bí ẩn nào đó tự nhiên chia sẻ với anh một nỗi đau, tự nguyện lên giường với anh, cũng chỉ là một fantasy mà thôi. Cô gái ấy cũng rất có thể là một góc khuất của cô người yêu kia. Với những nỗi đau mà Kino không thể biết chính xác chúng là gì, nhưng anh giả định là có những nỗi đau ấy. Một cách để có thể tiến thêm một bước đến sự tha thứ.

Kino hẳn là đã cô độc hơn những gì mà Murakami đã vẽ ra. Cô độc tuyệt đối.

3 Comments

Filed under Truyện ngắn

Sách đọc tháng 10/2014

Tháng Mười mình đã đọc được tổng cộng 9 quyển/truyện và đọc được một nửa bộ Hồng Lâu Mộng, trong đó có một quyển là đọc lại và ba quyển trước đây đã đọc được một phần. Tổng cộng mình đọc trong tháng này được hơn 4.000 trang. Not a bad start.

Trước tiên mình đọc liền ba quyển của Haruki Murakami. Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương là tiểu thuyết gần nhất của Murakami. So với nỗi thất vọng 1Q84 thì câu chuyện trong quyển sách nhỏ này được kể tốt hơn, trọn vẹn hơn, mặc dù đây chỉ là một truyện bình thường của tác giả này, như kiểu đến hẹn lại ra sách, không thể so sánh với các sách đình đám khác của bác được. Tuy nhiên, cốt truyện cũng khá thú vị, mặc dù vẫn xoay quanh những con người có vấn đề với bản ngã của mình loay hoay tìm cách sống giữa những dằn vặt về quá khứ cũng như các mối quan hệ bạn bè trúc trắc. Đặc biệt, có lẽ lần đầu tiên trong truyện Murakami có một đoạn quan trọng được lấy bối cảnh ở ngoài nước Nhật, mà cụ thể là tại Phần Lan. Mình thích cái đoạn ấy, không rõ là tại làm sao.

Rồi mình đọc nốt cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Cuốn này trước đây mình đã đọc được hai phần ba rồi. Rất phục bác Murakami đã lao động như một nhà xã hội học thực thụ khi tiến hành tiếp cận, phỏng vấn các nạn nhân của thảm kịch sarin cũng như một số thành viên của giáo phái Aum và kể lại câu chuyện của cá nhân từng người để giúp người đọc có một cái nhìn gần gũi hơn so với việc đọc những bài báo “khách quan” thông thường.

Cuốn thứ ba của Murakami mà mình đọc trong tháng này là Biên niên ký chim vặn dây cót. Cuốn này mình đã đọc cách đây chừng 6-7 năm nhưng bỏ cách những đoạn về hồi ức của ông trung sĩ, vả lại hồi đó đọc không hiểu lắm nên đã quên gần hết. May mà giờ có thời gian đọc lại, vì đây đúng là một trong những truyện hay nhất của Murakami vì nội dung trúc trắc, không đơn giản như các truyện khác của bác, mặc dù có những chi tiết mình thấy hơi thừa thãi (hoặc là do underdeveloped, giống như trong bộ 1Q84). Giờ mình đã nhớ được cốt truyện rồi, nhất định khi nào sẽ lại đọc lại cuốn này một lần nữa, để có thể phân tích và so sánh nhân vật Kano Creta với nhân vật người vợ ngay từ đầu. Nhìn chung là một quyển truyện đọc vất vả.

Tiếp đó mình đọc Khởi sinh của cô độc của Paul Auster. Mình bắt đầu chú ý đến Paul Auster khi vô tình đọc The New York Trilogy, một tác phẩm rất nổi tiếng của bác này, nhưng lại mang một cái tên Việt rất buồn cười là Trần trụi với văn chương. Sau quyển đầu tiên đó và trước quyển hồi ký này mình đã đọc Moon Palace và thấy rất thích lối kể truyện của bác, chứ nếu không nhìn cái tựa này mình sẽ không có hứng thú để mua lắm. Quyển này mình đọc hơi mất tập trung nên không review gì nhiều. Chỉ có cảm giác nổi bật nhất là quyển này bác viết rất thơ, nghĩa là giọng văn rất mềm mại, mượt mà mà ít khi mình đọc được. Cũng không lạ vì bác ngoài là một nhà văn còn là một nhà thơ nữa, đã từng sống nghèo khổ trong một cái phòng áp mái rẻ tiền ở Paris để làm thơ mà sống.

Tiếp theo mình đọc một quyển sách mà mình nghĩ là sẽ xếp nó vào trong top những quyển sách mà mình thích nhất, đó là Người gieo hy vọng (Teaching hope) của Erin Gruwell và nhóm các nhà văn tự do. Lại là một tập hợp khác những câu chuyện cá nhân giống như cuốn ‘Ngầm’ kể trên, nhưng là do mỗi cá nhân tự viết ra. Đó là những chuyện rất ngắn, kể về những kỷ niệm ấn tượng hoặc đôi khi chỉ là cảm xúc của những người giáo viên dạy những lớp học sinh cá biệt ở mọi nơi trên khắp nước Mỹ. Mình thích quyển này vì bản thân mình cũng quan tâm đến việc dạy học và nó giúp cho mình hiểu nhiều hơn về cuộc sống của những tầng lớp dưới trong xã hội Mỹ thông qua câu chuyện của những đứa trẻ tại trường học mà cá nhân mình đã từng tiếp xúc khi còn ở Mỹ.

Tiếp nữa mình đọc Bản giao hưởng đồng nội của Andre GideChú nhóc của Anfonse Daudet, được dịch sang tiếng Việt và in chung trong một cuốn sách. Có lẽ lâu lắm rồi mình mới lại đọc truyện của các nhà văn châu Âu. Hai truyện này đều đã viết khá lâu rồi, đọc cũng được nhưng không có gì quá đặc biệt để review, trừ câu chuyện của “chú nhóc” được dựa trên chính cuộc đời của tác giả là cho thêm một góc nhìn về cuộc sống của một người đã dấn thân theo con đường văn chương, giống như cuốn sách của Auster kể trên hoặc một cuốn hồi ký của một nhà văn khác mà mình đọc trong tháng Mười Một.

Cuốn sách ấn tượng nhất của tháng Mười mà mình đọc là Phúc lành của đất (Growth of the soil) của nhà văn người Na Uy Knut Hamsun. Đầu tiên phải nói là bản dịch tiếng Việt rất dở, đọc hơi khó chịu. Thật đáng tiếc vì đây thực sự là một tiểu thuyết có tầm vóc. Nói là truyện có tầm vóc là bởi nó như một sự tóm tắt ngắn gọn sự phát triển của nhân loại từ thuở bình minh của nền văn minh nông nghiệp cho đến bình minh của nền văn minh công nghiệp. Câu truyện bắt đầu bằng hình ảnh một người đàn ông độc hành đi tìm đến một nơi hoang vu để bắt đầu một cuộc sống mới (không rõ cuộc sống trước đó thì như thế nào). Rồi tại đây anh lập gia đình, dần dần phát triển thành một trang trại trù phú trước khi những người khác bắt đầu kéo đến đây lập nghiệp. Rồi câu chuyện cứ tiếp tục phát triển với mối quan hệ đan xen trong vùng nông thôn này, mối quan hệ của nó với thành phố, sự can thiệp của nhà nước, sự phát hiện ra các mỏ kim loại, sự xuất hiện của các đội quân khai mỏ và kế đó là các nhà buôn tạp hóa,sự cơ giới hóa nông nghiệp, rồi sự tranh giành đất đai giữa nhiều bên có thế lực. Truyện tái hiện lại những gì đã diễn ra ở Na Uy đầu thế kỷ 20, nhưng có thể tìm thấy ở bất kỳ quốc gia nào khi bước đầu tiếp xúc với công nghiệp hóa. Có thể đó chính là lý do cuốn sách này đã góp phần lớn giúp cho Knut Hamsun đoạt giải Nobel Văn học năm 1920.

Trước khi tháng Mười kết thúc mình cũng kịp đọc thêm một cuốn nữa là O Zahir của Paulo Coelho. Cuốn này cách đây 7 năm mình đã cầm lên đọc nhưng vì thấy không hấp dẫn nên đã bỏ dở và đã từng xếp nó vào danh sách những cuốn sách mình sẽ không bao giờ thèm đọc cho hết. Nhưng vì vừa đọc lại Biên niên ký chim vặn dây cót là một truyện về một người đàn ông có vợ tự dưng mất tích nên mình lại có cảm hứng đọc lại quyển này để xem cùng với một bối cảnh mở đầu giống nhau thì hai nhà văn triển khai cốt truyện tiếp theo như thế nào. Nói chung quyển này đọc mình thấy bình thường. Vẫn giọng văn triết lý quen thuộc của Coelho, một vài đoạn đọc thì cũng được nhưng tổng thể mình thấy triết lý hơi nhiều. Cái kết của truyện mình cũng không hiểu lắm. Nhưng mình thích việc tác giả đưa vào đây câu chuyện về đất nước Kazakhstan vốn là một đất nước ít ai để ý đến.

Leave a comment

Filed under Review ngắn

Rừng Na Uy, lần thứ ba

Entry for 27 December 2010

Lần thứ ba tôi viết về Rừng Na Uy. Có lẽ với tôi nó là cuốn tiểu thuyết nhiều ám ảnh nhất. Cầm sách đọc thì tôi đã đọc Rừng Na Uy chừng ba bốn lần, nhưng tôi “đọc” lại nó rất nhiều lần trong đầu mình. Các chi tiết, các câu thoại, các bức thư, không gian của các cuộc trò chuyện… Mỗi một lần đọc lại “thấy” được nhiều hơn.

Lần thứ nhất đọc, thấy như một người không sành rượu mà uống phải một thứ rượu nặng, ngon nhưng cái chất lỏng ấy đi xuống quá nhanh, đốt cháy bên trong một chút, nhưng chưa thể nói được một cách đầy đủ hương vị của nó như thế nào. Nhân vật ấn tượng nhất là Midori. Phạm trù được nhắc đến trong truyện ấn tượng nhất là cái chết. Cảm giác chung sau khi đọc xong là nhìn cuộc sống tích cực. Ba ấn tượng này là hoàn toàn logic với nhau và hình như là trái với cảm nhận của rất nhiều người.

Thứ nhất, mọi người nhìn cái chết như một cái gì đó buồn thảm. Thực ra cuộc đời đôi khi còn buồn thảm hơn cả cái chết. Trong rất nhiều tôn giáo, cái chết là một sự giải thoát. Khi một ai đó chết đi, cái buồn thực ra ở lại với người còn sống. Chết nhiều khi không khó, sống mới là khó. Hơn nữa, đã là người ai cũng sẽ chết. Một người bạn của tôi nói, mỗi người sinh ra là đã đeo sẵn một cái án tử hình rồi. Nghe thì “ghê” nhưng thực tế cuộc sống là như vậy. Tôi đồng ý với bác Trịnh Lữ, cái chết thực ra là một phần của sự sống. Không có cái chết thì cũng chẳng có sự sống.

Thứ hai, khi đọc Rừng Na Uy nhiều người đi đếm cái chết. Trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết chẳng có ai chết cả. Trong Rừng Na Uy thì có bốn người chết. Lại toàn là người trẻ. Thế là đủ để làm cho người ta kinh hãi. Nhưng chẳng phải Toru và Reiko cuối cùng lựa chọn con đường sống hay sao? Kể cả Naoko, trước khi tự tử không phải là cô ấy đã rất cố gắng để sống hay sao? Tác giả đã cố gắng “cứu” những nhân vật của mình khỏi đau khổ và tuyệt vọng. Ông để một số nhân vật thất bại có lẽ là vì cuộc sống này đâu có đơn giản. Muốn vượt qua nỗi buồn người ta phải nỗ lực. Những gì ông có thể làm là tạo ra một Reiko mạnh mẽ biết tự cứu mình (dĩ nhiên với sự hỗ trợ của Naoko và Toru). Với Toru, ông tạo ra Midori. Midori là một nhân vật sống mãnh liệt. Ít nhất trong truyện cũng không có một lời nào cho thấy cô ấy từng nghĩ đến cái chết, mặc dù cô cũng có những nỗi buồn của riêng mình. “Tớ là một đứa con gái có thực và đang sống, với dòng máu sinh động có thực đang chảy ào ạt trong người.” Bởi thế, Midori thích nói về những gì có thể nhìn thấy, cầm nắm, và cảm nhận được cụ thể bằng giác quan. Khi nào cần, cô ấy hỏi Toru về những thứ trừu tượng hơn. Midori được tạo ra không chỉ để cứu Toru. Cô ấy còn “cứu” cả người đọc. Khó mà có thể không thích nhân vật Midori. Tôi tin là trong vô thức mọi người đều mong có nhiều Midori ở quanh mình.

Cuối cùng, như nhiều khái niệm khác, cái chết chỉ là “phương tiện” để Murakami bắt người đọc phải suy nghĩ. Ông để các nhân vật của mình suy nghĩ về sự sống và cái chết và lựa chọn những giải pháp khác nhau, bởi vậy khi đọc người đọc cũng bị cuốn theo và phải suy nghĩ, trừ những người đơn giản coi việc tự tử của người trẻ là điều mọi người đều cần phải tự thân mà tránh mà không chịu dừng lại vài bước để nghĩ xem vì sao có những người không thể tránh được nó. Cái chết xảy ra trong truyện nhưng đối với tôi nó có thể như một sự giả định. Tôi thích cái cuộc trò chuyện cuối cùng của Toru và Hatsumi, khi Toru đưa cô gái ấy về, họ nói chuyện và uống với nhau một chút. Lời cuối cùng mà Toru nói với Hatsumi ngày hôm đó là “mình thích có một người chị gái như cậu.” Đó cũng là lời cuối cùng mà cậu nói với Hatsumi, vì sau đó họ không gặp lại nhau nữa và cô gái này cuối cùng cũng tự tử. Chẳng ai nói trước được khi nào mình chết hoặc khi nào mình sẽ mất đi một người mà mình yêu quý. Khi Hatsumi còn sống, Toru đã nói được với cô ấy một điều cần nói, và đó là một điều có ý nghĩa trong cuộc sống ngắn ngủi của Hatsumi.

Nói chung tôi không mất nhiều thời gian để “đọc” cái sự chết trong Rừng Na Uy nhưng lại mất nhiều thời gian với những khía cạnh khác của tác phẩm, như các tuyến nhân vật, cái tôi, nỗi buồn, văn hóa, tính đại diện… Gần đây đạo diễn Trần Anh Hùng khi chuyển thể câu truyện này lên màn ảnh có chia sẻ một vài góc nhìn của anh về tác phẩm văn học gốc tôi cho là cũng khá thú vị. Ví dụ như anh nói trong mỗi người phụ nữ đều có cả Naoko và Midori. Quả thực điều này tôi cũng chưa nghĩ đến bao giờ, nhưng nghe cũng khớp với cách xây dựng nhân vật thường thấy của Murakami. Các nhân vật của Murakami thường được xây dựng để phản ánh một nét nào đó của con người thay vì là đại diện cho một cá thể nào đó mà chúng ta vẫn gặp cuộc đời thật, và qua những nhân vật ấy ta có những góc nhìn khác nhau về cuộc đời. Ý này quả thật chưa biết diễn đạt thế nào cho đúng nhưng lấy một ví dụ từ một tác phẩm khác của Murakami là ông già Nakata nói chuyện được với mèo trong Kafka bên bờ biển. Ông Nakata sau một cú sốc đã bị mất hoàn toàn ký ức hồi còn nhỏ và gặp vấn đề về tư duy trí tuệ (nên không hiểu được những gì phức tạp), đổi lại thì ông nói chuyện được với mèo. Một nhân vật như Nakata thì ngoài đời không có, nhưng ta có thể nhìn cuộc đời thông qua đôi mắt Nakata, đơn giản nhưng chân thực đến tận bản chất vấn đề.

Trở lại với Rừng Na Uy và Trần Anh Hùng, tôi cứ suy nghĩ mãi về diễn giải của vị đạo diễn này về Naoko và Midori. Cái cảm giác nhiều nhất về Naoko mà tôi có, thực ra là cô ấy là một bản sao của Toru và luôn luôn là quá khứ của Toru. Toru yêu cô ấy như thương cho chính bản thân mình. Còn Midori tôi nhìn theo một góc hơi khác như đã chia sẻ ở trên. Tôi không nhìn thấy được Naoko và Midori trong bản thân mình và cũng chưa hình dung được sự tồn tại hài hòa của cả hai nhân vật này trong một con người. Về cơ bản tôi thấy mình là Toru Watanabe. Tôi thiên hướng về tư duy trừu tượng hơn là những gì thực thể, nên cũng tương đối vất vả để “sống thực” 😛. Tôi lui vào thế giới của riêng mình nhiều hơn nhưng tôi cũng vẫn cố gắng sống cho “bình thường.” Tôi quan sát cuộc sống và cũng có thể giải thích vài điều kiểu như vì sao lại cần học ngữ pháp tiếng Anh. Tôi cũng hay (một cách vô thức) “bắt cuộc đời phải vừa khít theo cách sống của mình” (Reiko nói về Toru). Nói chung, tôi cố gắng giải thích cuộc đời và cố gắng làm những gì có thể để giải quyết các vấn đề rắc rối, nhưng cũng bởi thế với những nỗi buồn thì chỉ có cách duy nhất là  lặng lẽ đem ra gặm cho hết, bởi vì nỗi buồn chẳng có gì để giải thích nữa. Kêu ca hay chia sẻ không giải quyết được nỗi buồn một cách triệt để, mà chỉ tạo ra một cảm giác đánh lừa nhất thời mà thôi. Tình dục, cách mà Toru, Nagasawa, và các nhân vật khác lựa chọn, cũng chẳng phải là giải pháp cho sự trống rỗng trong lòng. Quay đi quay lại thì chỉ có cách duy nhất là đối diện với nó và đối diện với chính mình.

Thực ra lần đầu tiên đọc tôi không cảm nhận được sâu sắc nỗi buồn của Toru. Tôi đã không hiểu được tại sao trong một bức thư gửi Midori cậu ấy lại viết về “những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của mình.” Tôi đã nghĩ Toru là người biết giải quyết vấn đề, biết cách tự cứu mình, nên những nỗi buồn đã không giết chết cậu ấy. Thực ra sự chết không nhất thiết là một cái chết có thực, mà đôi khi một lúc nào đó một góc trong tâm hồn người ta cũng có thể chết đi. Tôi thích cách Trần Anh Hùng để Toru ngồi trên đỉnh một ngọn núi tuyết giữa một không gian núi đá trắng xóa và gào lên đầy đau khổ. Đó là một cách giải thoát cho Toru. Và có lẽ cũng là giải thoát cho người xem và người đọc của Murakami.

Dù nỗi buồn thấm đẫm trong từng lời văn của Murakami và cá nhân tôi thì càng đọc càng cảm nhận được nỗi buồn ấy một cách rõ nét hơn, các nhân vật của Rừng Na Uy cũng vẫn có một điểm tựa để bám vào cuộc sống, đó là tình yêu, tình bạn, hay là tình cảm nói chung giữa con người với nhau. Đó là điểm mà tôi thích ở các tác phẩm của Murakami. Dịch giả Trịnh Lữ cũng chia sẻ rằng sau khi đọc xong Rừng Na Uy thì cảm thấy muốn nói với những người thân yêu của mình như những gì mà các nhân vật của Rừng Na Uy đã nói với nhau. Còn Trần Anh Hùng thì nói với khán giả Việt Nam là sau khi xem phim xong thì nên nói chuyện với người mình yêu chứ đừng nói chuyện với đạo diễn nữa.

Một người bạn có lần hỏi, các nhân vật của Murakami về một phương diện nào đó đều vô dụng và yếu đuối, nhưng tại sao HA vẫn yêu? Đến giờ tôi vẫn chưa bao giờ trả lời được một cách trọn vẹn câu hỏi ấy cả. Có thể vì bản thân tôi về một phương diện nào đó cũng rất vô dụng và yếu đuối 😀.

Columbus, một ngày mà nỗi buồn lại một lần nữa chạm được tới tôi.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời

Sau khi “giam mình” 3 tuần ở nhiều-nơi-xa-nhà, tôi trở về với những trải nghiệm mới, những tư duy mới và những xáo trộn mới. Những trang viết tự bạch về chuyện đời mình của Garcia Marquez làm tôi nhớ ra cuộc sống còn có cả chất thơ nữa. Dường như đã có lúc tôi quên đi điều đó. Tôi chỉ làm việc, tìm hiểu và đọc sách khoa học. Vậy nên tôi đã nghĩ, về Hà Nội mình phải đi mua một quyển sách văn học để đọc. Với những cảm xúc có được từ Rừng Na Uy vẫn còn vương vất, tôi đã quyết định tiếp tục với Haruki Murakami. Lần này thì là Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời.

Một trăm trang đầu tôi đọc thật vất vả, vì nó là quãng đời gần bốn mươi năm sống nhàn nhạt của nhân vật chính. Và Murakami kiên nhẫn viết một cách nhàn nhạt như thế. Tôi cảm thấy mệt mỏi với những trang viết ấy, có lẽ giống như những gì Hajime cảm thấy với quãng đời đó của mình. Hình như nhờ thế, người đọc hiểu được nhân vật hơn, hiểu bằng trải nghiệm.

Khi Hajime gặp lại Shimamoto-san thì cũng là lúc tôi nhận ra một Murakami mà mình đã đọc. Tôi bắt đầu gấp sách liên tục. (Đây là thói quen của tôi khi đọc sách, để đánh dấu những đoạn hay.)

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời không mang nhiều màu sắc trẻ trung như Rừng Na Uy, nhưng vẫn đậm chất Murakami, tức là nhạc jazz, là cocktail, là mưa, là cái tôi trong sâu thẳm mỗi con người.

“Nhóm tam tấu vừa chơi xong một bản blues độc đáo, và đàn piano bắt đầu chơi đoạn dạo đầu bản “Star-Crossed Lovers”. Khi tôi có ở quán, người chơi dương cầm thường chơi bản ballad mà tôi rất thích này. Đó không phải là một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của Ellington, và không có kỷ niệm riêng tư nào của tôi đặc biệt gắn kết với nó nhưng, kể từ lần đầu tiên nghe, lúc nào nó cũng làm tôi bị mê hoặc. Khi tôi còn là sinh viên, hay ngay cả sau đó khi đã làm nghề biên tập sách giáo khoa, tối đến, tôi lại đặt đĩa nhạc Such Sweet Thunder của Duke Ellington vào máy và nghe đi nghe lại bản nhạc và bài solo lừng danh của Johnny Hodges, một sự kết hợp tinh tế và khéo léo kỹ thuật. Khi nghe giai điệu đẹp và nhẹ nhàng của nó, tôi luôn nhớ đến giai đoạn đó của đời mình. Không thể nói rằng khi đó tôi hạnh phúc. Thế nhưng, ký ức về thời ấy lại làm tôi thấy ngập tràn tiếc nuối. Tôi trẻ hơn, đói khát hơn, cô độc hơn hiện nay. Nhưng tôi thật sự là mình. Thời đó tận sâu trong tim tôi cảm nhận được từng nốt nhạc mà tôi nghe, từng dòng chữ trong sách mà tôi đọc, như thể chúng đi vào thật sâu trong tôi. Những sợi dây thần kinh của tôi chĩa lên tua tủa như những đầu đinh, mắt tôi tràn ngập một thứ ánh sáng xuyên suốt qua những người trò chuyện với tôi. Và từ đó, mỗi lần nghe bản “Star-Crossed Lovers”, tôi lại nhớ đến cái ánh mắt mà tôi có vào thời đó, như thể đang nhìn hình phản chiếu của mình trong gương.”

Phía Nam biên giới có gì? Phía Tây mặt trời có gì? Trong một cuộc đối thoại ở gần cuối cuốn sách có giải thích về các phrases này, nhưng câu trả lời dành cho mỗi người đọc. Cũng giống như Rừng Na Uy, nhân vật chính trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời cũng phải đi đến tận cùng của cái tôi trong sâu thẳm của chính bản thân mình, bằng tình yêu, tình dục, những mối quan hệ, những thực tại xã hội, sự trống rỗng và sự đau khổ; để cuối cùng rũ bỏ được tất cả những dằn vặt, những gì thuộc về quá khứ, để đi tiếp vào tương lai.

Một câu chuyện khác, một nhân vật khác với tính cách khác, cuộc sống khác, và trong một khung cảnh cũng rất khác nhưng Murakami tiếp tục đào sâu vào mảnh đất của nội tâm con người. Bằng cách đó, người đọc cảm nhận được, dễ dàng hơn, những giá trị mà triết học vẫn luôn cố truyền tải. Và lần này, tôi cảm nhận ngôn ngữ của Murakami (mặc dù chỉ là bản dịch) có phần mềm mại hơn, lãng mạn hơn.

Khi anh nhìn em, đôi khi anh có cảm giác đang ngắm nhìn một ngôi sao rất xa. Một ngôi sao rất sáng, nhưng ánh sáng thực ra đến từ cách đây hàng nghìn năm ánh sáng. Có thể là anh đang ngắm nhìn một thiên thể đã không còn tồn tại vào lúc này nữa, nhưng trong mắt anh nó thực hơn bất kỳ điều gì khác.

Không có những phá cách, những nhân vật gai góc và mạnh mẽ, nhưng Murakami vẫn khắc họa được một cuộc sống có chiều sâu, cuộc sống mà đa số chúng ta không có cơ hội để được nhìn thấy ở người khác (chúng ta chỉ được thấy cuộc-sống-xã-hội của những người khác thông qua những gì họ thể hiện và chia sẻ). Trong cuộc sống xã hội, tức là bề nổi, người ta thường ít biết thông cảm với nhau, vì không hiểu được những gì đằng sau nó.

Nhưng trong cuộc sống xã hội của Hajime, tôi không thể vì cái nội tâm của anh ta mà thông cảm được với những tổn thương mà anh ta gây ra cho những người khác (mặc dù trường hợp của Izumi cũng hơi cường điệu quá.) Dù sao thì, Murakami cũng đã rất khéo léo để Yukiko đóng một vai phụ hợp lý để giải quyết cái nỗi bực tức của tôi. Và bản thân Hajime cũng đã xử sự, trước tội lỗi của mình, không phải quá tồi tệ. Biết đâu, những gì Hajime phạm phải là một thực tế ở đâu đó giữa vô vàn điều trong cuộc sống này mà tôi chưa thực sự hiểu. Nhưng phải khẳng định một điều, đó là một thực tế mà tôi từ chối chấp nhận.

Một cuốn truyện đọc được dành cho những ai thích Murakami. Mặc dù vẫn thích Rừng Na Uy hơn, nhưng phải nói rằng, đọc xong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, tôi biết rằng mình sẽ còn tiếp tục tìm đọc Murakami (cũng giống như với Jack London và Mark Twain ngày trước.) Chỉ tiếc, tôi không nghe nhạc jazz nên có lẽ đã không cảm nhận được hết sự thi vị của tác phẩm.

“Pretend you’re happy when you’re blue

It isn’t very hard to do…”

(“Pretend” – Nat King Cole)

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Lại viết về “Rừng Na Uy”

Trong khi trên giá vẫn còn những quyển sách đã mua mà chưa đọc, hoặc đã đọc mà chưa xong, thì thi thoảng tôi vẫn thấy mình lật giở đọc lại một đoạn trong “Rừng Na Uy”, nhất là khi tôi cảm thấy lúng túng với chính mình và bối rối trước cuộc đời. Cũng có những quyển sách tôi đọc vài ba lần, nhưng trên thực tế, tôi cũng không có đủ thời gian để đọc-lại những gì mình thích. Không-có-thời-gian bao giờ cũng là một lý do tốt để biện hộ. Thực ra thì không phải là không có đủ thời gian, mà là thích-không-đủ!

Cũng giống như nhiều quyển sách khác, nhất là những quyển sách được nhiều người đọc (vì nhiều lý do khác nhau), thì cảm nhận về cùng ngần ấy câu chữ là vô cùng đa dạng. (Ở đây không bàn đến yếu tố ngôn ngữ – tức là bản mà bạn đọc là bản gốc hay bản dịch ra thứ tiếng nào, và trình độ ngôn ngữ của bạn đến đâu.) Vì thế, lần này tôi lại viết tiếp về Rừng Na Uy, với những cảm nhận đi sâu hơn vào cái thế giới mà Murakami đã dựng nên. Hay đúng hơn, là viết về những gì mà cuốn sách (và một số review) đã gợi lên, và buộc tôi phải suy nghĩ.

Rừng Na Uy viết nhiều về cái chết. “Ba người chết, ba người vẫn sống, nhưng tôi không biết cụ thể ai sẽ sống còn ai sẽ chết.” (Murakami, trong một bài trả lời phỏng vấn). Cái chết được đặt cạnh sự sống, để người ta hiểu cái chết hơn; cũng như sự sống được đặt cạnh cái chết, để người ta hiểu sự sống hơn. Nhiều bạn đọc coi cái chết là một sự ảm đạm, bởi vì tự kết liễu đời mình thường được liên hệ đến “cô đơn”, “bế tắc” và “tuyệt vọng”. Nhưng sống và chết làm sao tách rời ra được! Những năm 1990s, tôi tuyên bố với chính mình “Không việc gì phải chết cả, dù cho có rơi vào hoàn cảnh bi đát đến đâu!” Cũng rùng mình khi nhớ đến những mảnh đời bị cuộc sống dồn vào chân tường mà tôi đã đọc được trên rất nhiều trang báo. Năm 22 tuổi, tôi lại xác định: “Chết lúc nào cũng được!” Vì khi thế giới quan được mở ra, tôi tự thấu hiểu được ý nghĩa của những ngày đang sống. Tôi đang sống chứ không chỉ đang tồn tại, vậy là ổn.

Ngày trước nghe U2 hát “I’m not afraid to die. I’m not afraid to live…”, tôi đã thấy hay. Nay đọc Rừng Na Uy, tôi thấy phải.

Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống, mà là một phần của cuộc sống.

Nói ra như vậy nghe thật sáo mòn, nhưng đã có thời tôi cảm thấy cái hình hài ấy không phải bằng lời mà như một cục khí vón lại ở trong tôi. Cái chết là có thực – trong một cục chặn giấy, trong bốn trái bóng đỏ và trắng trên mặt bàn bi-a – và chúng ta tiếp tục sống và hít thở nó vào phổi như những làn bụi mịn.

Trước đó, tôi đã hiểu cái chết như một cái gì hoàn toàn tách biệt và độc lập với sự sống. Bàn tay của sự chết nhất định sẽ túm lấy chúng ta, tôi cảm thấy thế, nhưng cho tới ngày nó tìm đến ta, nó vẫn để ta được yên thân. Điều đó dường như là một chân lý đơn giản và hợp logic đối với tôi. Sự sống ở đây, sự chết thì ở kia. Tôi đang còn ở đây, chưa phải ở đó.

Tuy nhiên, đêm hôm Kizuki chết, tôi đã mất khả năng nhìn nhận sự chết (và sự sống) một cách giản dị như vậy. Chết không phải là đối nghịch của sống. Nó đã đang ở đây rồi, ngay bên trong tôi, nó đã luôn luôn ở đây, và không có gì có thể cho phép tôi quên được điều đó. Khi nó lấy đi Kizuki mới mười bảy tuổi đầu trong cái đêm tháng Năm ấy, sự chết đã túm được cả tôi.

Tôi sống qua mùa xuân sau đó, ở tuổi mười tám, với cục khí vón trong ngực mình, nhưng không lúc nào ngưng tranh đấu chống lại sự hồi sinh của thái độ coi trọng mọi sự ở đời. Coi trọng sự đời không phải là cách tiếp cận chân lý, tôi cảm thấy như vậy, cho dù vẫn mơ hồ. Nhưng sự chết là một thực tế, một thực tế nghiêm cẩn, dù ta có nhìn nhận nó kiểu gì đi nữa. Mắc kẹt trong mối mâu thuẫn nghẹt thở ấy, tôi luẩn quẩn trong một vòng tròn vô tận. Bây giờ nhìn lại, những ngày ấy thật lạ lùng. Ở đoạn giữa của cuộc đời, mọi thứ đều xoay quanh sự chết.

Trên bìa sau của cuốn sách có viết thế này, mà tôi chẳng thích tí nào cả:

“Trong nỗi ưu tư và cô đơn như một định mệnh đã cài đặt nơi những người mới lớn, trong sự tuyệt vọng của những tâm hồn trong sáng sẵn sàng hy sinh thân mình để khỏi thỏa hiệp với cuộc sống thế gian.”

Đọc thấy toát lên một sự yếu đuối ẩn dưới một danh từ mĩ miều có tên là sự-cô-đơn. Mà đó thì không phải là những gì tôi cảm thấy khi đọc truyện!

Tôi thích những chia sẻ sau của bác Trịnh Lữ hơn, vì nó thể hiện một sự rung động và đồng cảm chân thực thay vì một sự chắp nối đơn thuần của những từ ngữ bóng bẩy!!! (What if the above writing was also by Trinh Lu ?!?! – My goodness!!!)

Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng Na Uy tôi thấm thía được một chân lý giản đơn, rằng “sự chết không phải là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự sống”. Sống, tức là nuôi dưỡng. Chết. Sự chết không phải là chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được chính sự sống nuôi dưỡng. Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong trắng và dũng cảm trong Rừng Na Uy mới tự kết liễu cuộc đời mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng. (Lời người dịch)

Người ta bảo, những người chết đi vào quá khứ, những người sống đi vào tương lai. Tôi thì thấy rằng, những người chết tiếp tục sống trong một thứ mơ hồ được gọi là ký ức, ký ức của những người còn sống. Thời gian mà họ từng sống đã góp phần hình thành nên hiện tại của những người đang sống. Bằng cách đó, họ ở lại thế giới này.

Toru Watanabe không phải, và thực tế cũng đã không lựa chọn giữa quá khứ và tương lai, hoặc cô gái này hay cô gái kia. Quá khứ tạo nên hiện tại và tương lai. Khi quá khứ đã làm tròn bổn phận của nó, quá khứ sẽ dừng lại. Khi con người đã sống đủ, con người sẽ chết đi. (Điều đó càng dễ dàng hơn trong các cuốn tiểu thuyết!)

Tôi gật đầu. “Và tôi sẽ viết thư cho chị.”

“Tôi rất thích những bức thư của cậu. Naoko đã đốt hết cả. Những bức thư hay đến thế!”

“Thư chỉ là giấy thôi mà chị,” tôi nói. “Cứ đốt chúng đi, và những gì còn lại trong lòng mình thì vẫn còn mãi; mà có giữ chúng thì những gì sẽ phai nhạt rồi cũng sẽ cứ nhạt phai.”

“Cậu biết không, Watanabe, sự thật là tôi thấy sợ phải đi Asahikawa một mình như thế này. Nên cậu nhớ viết cho tôi nhé. Hễ được đọc thư cậu, tôi sẽ thấy như cậu đang ở ngay cạnh mình.”

“Nếu chị muốn thế, tôi sẽ viết cho chị suốt. Nhưng chị đừng lo. Tôi biết chứ, đi đâu thì chị cũng ổn thôi mà.”

“Còn một việc nữa. Tôi cứ cảm thấy có cái gì vẫn còn mắc kẹt ở trong mình. Có phải đó chỉ là tưởng tượng không?”

“Là ký ức còn lại thôi mà,” tôi nói và mỉm cười. Reiko cũng mỉm cười theo.

“Đừng quên tôi,” chị nói.

“Tôi sẽ không quên chị,” tôi nói. “Không bao giờ.”

“Chúng ta có thể sẽ không bao giờ gặp lại, nhưng dù có đi đâu về đâu, tôi cũng sẽ không bao giờ quên cậu và Naoko.”

“Đừng quên!” – đấy là lời nhắn nhủ mà các nhân vật nói với nhau. Vì họ chỉ biết bấu víu vào những tình cảm trong sáng, chân thành mà họ có với nhau. Những cái đó là thật nhất và đáng trân trọng nhất trong cuộc sống này. Đọng lại trong các ký ức, quan hệ giữa con người với con người không còn phụ thuộc vào thời gian: chúng tồn tại trong cả quá khứ, hiện tại, và tương lai.

Vậy mà ký ức của tôi đã ngày càng mờ nhạt đi, và tôi đã quên nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi thường có những cơn sợ đến thắt lòng. Nếu tôi đã quên mất điều gì quan trọng nhất thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi có một bến lú tăm tối nơi tất cả những ký ức thực sự quan trọng bị chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?

Tôi cũng đã biết vì sao nàng xin tôi đừng quên nàng. Bản thân Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết rằng ký ức của tôi về nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng xin tôi đừng bao giờ quên nàng, hãy nhớ rằng nàng đã từng tồn tại.

Đọc Rừng Na Uy cũng là để nhớ rằng, mình đang tồn tại, “vì bạn đang sống, vì tình yêu là có thực”.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Rừng Na Uy

Entry for 23 February 2007

Ngày mồng năm Tết. Thay vì phải tranh thủ đi thăm bạn bè cho hết, tôi lại chọn chúi mũi vào một quyển truyện. Tựa lưng vào chiếc gối mỏng, chăn đắp xộc xệch, xung quanh là bánh, kẹo, vỏ bánh, vỏ kẹo cùng vài thứ vật dụng khác vương vãi trên giường, tôi đã ngồi lỳ từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều, lật giở từng trang sách và chăm chú đọc. Với mái tóc rối chưa chải từ sau khi gội đầu buổi sáng được túm lên một cách cầu thả, tôi nghĩ rằng mình đã có một hình ảnh hoàn hảo về sự bê tha trong một kỳ nghỉ dài ngày. Và điều đó làm tôi dễ chịu.

Và giờ đây, vẫn cái đầu tóc rối, tôi đang ngồi uống nốt cốc sữa đậu nành từ sáng, 10 ngón tay dính chặt vào bàn phím với hy vọng rằng có thể viết ra bằng hết những gì nhảy múa trong đầu tôi sau khi đọc xong quyển truyện mà trong đó có một đoạn viết thế này:

“Và đó chính là lý do vì sao tôi viết cuốn sách này. Để suy nghĩ. Để hiểu. Chẳng qua là cái tạng tôi nó thế. Tôi phải viết hết mọi thứ ra giấy để cảm thấy rằng mình thực thấu hiểu chúng.”

Rừng Na Uy không phải cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc, nhưng là cuốn đầu tiên mà tôi kết thúc (finish reading), trong năm mới này. Thế đấy, tôi trang bị cho mình một loạt sách (gọi là) để “cải thiện” nhân dịp được nghỉ dài ngày thế này; để rồi bắt đầu với một quyển sách mà tôi vô tình phát hiện đã bị bỏ rơi trên tủ trong phòng làm việc của mẹ tôi (O Zahir) và rồi nhảy phắt sang một quyển khác khi mới đọc xong có 2 chương. Và tôi đã đọc một lèo, nếu trừ đi những sự gián đoạn do phải trả lời điện thoại, nói chuyện với một người-bạn-lớn qua điện thoại chừng 10 phút, và bị con em ỉ eo đòi đưa đi lượn phố. Chen ngang vào giữa còn có một ít gió, một cơn mưa, và những bài tình ca ướt át của Lê Hiếu!

Vào cái thời buổi “đọc sách không kịp này”, có lẽ mỗi một quyển sách mà mỗi người đọc đều có những sự tình cờ đưa đẩy thế nào ấy. Không phải là tôi muốn thi vị hóa, nhưng rõ ràng là giữa hàng trăm cuốn sách mà cuốn nào cũng có đủ hàng tá lý do để bạn-phải-đọc thì thường rất khó để chọn cho mình lấy một vài quyển vào một lúc nào đấy hứng chí lên và rủng rỉnh tiền bạc dạo quanh các nhà sách. Tự dưng trong thời điểm đầu năm mới này, tôi vô cớ cho rằng mình sẽ gặp may mắn khi cuốn sách đầu tiên đọc (hết) là Rừng Na Uy – một cuốn truyện về danh nghĩa tôi mua cho con em, và đã tự nhiên quyết định đọc nó chỉ vì cảm thấy mệt mỏi với một O Zahir phức tạp.

Rừng Na Uy không phải là cuốn sách được ưu tiên của tôi trong số những cuốn sách có tiếng được giới thiệu là hấp dẫn và có mặt trong hầu hết các cửa hàng sách. Một tác giả Nhật Bản, một tựa đề gợi sự u ám (“rừng”) và vài từ giới thiệu mà tôi loáng thoáng nghe thấy kiểu “cô đơn” hay “ưu tư” khiến tôi gạt cuốn sách ra một bên. Giờ không phải lúc thích hợp để tôi đọc những thứ ảm đạm! Ấy thế mà tôi đã đọc. Và hoàn toàn ngược lại với những gì tôi nghĩ, cuốn sách là một sự sáng sủa cho cả những tâm hồn ốm yếu!

Hơn 500 trang sách, Rừng Na Uy là một thứ dung dịch đặc nhưng có hương vị dễ chịu. Nó dày đặc chữ nhưng tiết tấu thư thái, nhẹ nhàng. Ngôn ngữ vừa trần trụi vừa lãng mạn, y như những gì hiện ra qua những từ ngữ ấy. Tình bạn, tình yêu, tình dục, cái chết, nội tâm, âm nhạc, những bức thư, mưa, rượu, thức ăn, buổi tối, di chuyển, tìm kiếm, đối mặt – đó là những gì có thể bắt gặp trong Rừng Na Uy. Tựa như một thứ cocktail mà Haruki Murakami đã pha một cách hoàn hảo đến từng giọt.

Ở tuổi 23, đọc một tiểu thuyết được viết cách đây đúng 20 năm, tự dưng tôi không biết mình bao nhiêu tuổi. Tôi vẫn còn non trẻ nếu so về những kinh nghiệm cảm nhận cuộc sống so với những con người mới mười tám, đôi mươi trong truyện. Nhưng tôi cũng cảm thấy mình già cỗi vì không có được sự trẻ trung như thế – “Tớ là một đứa con gái có thực và đang sống, với dòng máu sinh động có thực đang chảy ào ạt trong người”. (Midori)

Midori như một dòng nước chảy ào ạt trong truyện. Một dòng nước chứ không phải một dòng suối, vì cảm giác như không có chiều sâu. Thế mà hình như tôi đang ghen tị với cái cách sống ấy.

“Tớ viết thư này trong lúc cậu đi mua nước uống. Đây là lần đầu tiên trong đời tớ viết thư cho một người ngồi ngay cạnh mình trên ghế công viên, nhưng có lẽ đó là cách duy nhất tớ có thể đến được với cậu. Tớ muốn nói là cậu đang chẳng để ý gì đến những lời tớ nói, đúng không nào?

Cậu có biết hôm nay cậu đã làm điều gì khủng khiếp lắm với tớ không? Cậu không hề thấy tớ đã đổi kiểu tóc khác, đúng không? Tớ đã loay hoay với nó mãi rồi, cố để cho nó dài ra, và cuối cùng thì tuần trước tớ đã làm được một kiểu mà cậu có thể gọi là tóc con gái, nhưng thậm chí cậu cũng chẳng để ý nữa. Trông nó cũng hay, nên tớ đã tưởng sẽ làm cho cậu choáng một tí sau khi bao nhiêu lâu cậu mới gặp lại tớ, nhưng cậu nào có thấy gì. Cậu bảo thế có chán không? Tớ cuộc là cậu chẳng biết tớ mặc gì hôm nay nữa kia. Ê, tớ vẫn là con gái mà! Ừ thì cậu vẫn đang bận chuyện gì đó trong đầu! Nhưng cứ nhìn người ta một cái tử tế thì đã làm sao! Cậu chỉ cần bảo “Tóc xinh đấy”, thì tớ sẽ tha thứ cho cậu vì đã mải chìm đắm trong một triệu thứ ý nghĩ kia, nhưng mà không!

Chính vì thế mà tớ sắp tặng cậu một lời nói dối đây. Không phải tớ đi gặp chị tớ ở Ginza đâu. Tớ đã định đến ngủ lại ở chỗ cậu. Thậm chí đã mang cả quần áo ngủ đi theo. Thật thế. Tớ đã có áo ngủ và bàn chải đánh răng ở trong túi rồi. Thế có ngu không! Đấy, cậu có hề mở mồm mời tớ đến thăm nhà mới của cậu đâu. Nhưng thôi, cần quái gì, rõ ràng là cậu muốn được một mình, nên tớ sẽ để cho cậu được một mình. Cứ việc nghĩ ngợi cho thỏa đi!

Nhưng đừng có hiểu sai tớ. Tớ không hoàn toàn phát điên vì cậu đâu. Tớ chỉ buồn thôi. Cậu đã tốt như thế với tớ khi tớ gặp rắc rối, còn bây giờ thì cậu đang gặp rắc rối và có vẻ là tớ chẳng làm gì được cho cậu cả. Cậu đang bị nhốt chặt trong cái thế giới nhỏ bé ấy của cậu, và khi tớ gõ cửa thì cậu chỉ ngẩng lên độ một giây rồi lại bổ vào trong đó ngay.

Bây giờ thì tớ thấy cậu đang mang đồ uống về kia kìa – vừa đi vừa nghĩ. Tớ đang mong cậu vấp ngã đây, nhưng cậu không vấp. Bây giờ thì cậu đang ngồi ngay cạnh và uống lon Coke của cậu. Tớ đang bám lấy tia hy vọng cuối cùng là cậu sẽ nhận thấy và nói “Ê, cậu đổi kiểu tóc rồi à!” nhưng mà không. Nếu cậu nói thế thì tớ đã xé bức thư này đi và bảo “Về nhà cậu chơi đi. Tớ sẽ nấu một bữa tối ngon lành. Và sau đó bọn mình có thể lên giường và ôm ấp nhau.” Nhưng cậu vẫn nhạy cảm như gỗ đá vậy. Tạm biệt.

Tái bút: Lần sau gặp thì đừng có nói gì với tớ đấy.”

Đó là ở trang 458-459. Còn ở trang 469 thì tác giả viết thế này:

Mùa xuân ấy tôi viết bao nhiêu là thư: mỗi tuần một lần cho Naoko, nhiều lần cho Reiko, và nhiều nữa cho Midori. Tôi viết thư trong giảng đường, tôi viết thư ở bàn học ở nhà với con Hải âu cuộn trong trong lòng, tôi viết thư ở giữa bàn chưa có khách trong tiệm ăn Ý khi nghỉ giải lao. Dường như tôi viết thư để cố giữ lại những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của mình.

Tôi viết cho Midori: Tháng Tư, tháng Năm là hai tháng cô đơn đau khổ vì tớ không thể nói chuyện được với cậu. Tớ chưa bao giờ biết rằng mùa xuân lại có thể cô đơn và đau khổ đến thế. Thà có ba tháng Hai còn hơn một mùa xuân như thế này. Tớ biết nói bây giờ là quá muộn rồi, nhưng kiểu tóc mới của cậu hợp với cậu lắm. Thật là xinh. Hiện tớ đang làm ở một quán ăn Ý, và ông bếp dạy tớ một cách làm món mì ống rất ngon. Tớ thích được sớm làm món ấy cho cậu ăn.

Tôi thích Rừng Na Uy vì như thế. Giản dị, giản dị đến trần trụi, và nhờ đó mà nó đẹp! Đọc xong thấy đọng lại một sự xúc động về những mối quan hệ giữa con người với con người: người yêu với người yêu, bạn với bạn, con trai với con trai, con gái với con gái, với người yêu của bạn, với bạn của người yêu, bố con, chị em, người bình-thường và người bất-bình-thường, người sống và người chết …

“Cho tôi được bắt đầu bằng tin vui nhé. Naoko đã tiến bộ nhanh hơn mọi người tưởng rất nhiều. Tôi đã nói chuyện với cô ấy một lần qua điện thoại, và cô ấy nói năng rất rõ ràng rành mạch. Có thể chẳng mấy chốc nữa mà cô ấy sẽ lại trở về đây.

Còn bây giờ đến chuyện cậu.

Tôi nghĩ cậu quá nghiêm trọng với mọi chuyện đấy. Yêu một người khác là một chuyện tuyệt vời, và nếu tình yêu ấy là chân thành, không ai cuối cùng lại bị ném vào mê cung cả. Cậu phải có thêm lòng tin vào bản thân mới được.

Lời khuyên của tôi với cậu rất đơn giản. Trước hết, nếu cậu bị con người Midori thu hút mạnh đến thế, thì chuyện cậu yêu cô ấy chỉ là điều rất tự nhiên. Nó có thể tiến triển tốt, cũng có thể không. Nhưng tình yêu là thế. Khi ta yêu, tự nhiên nhất là hãy thả hết mình cho nó. Tôi nghĩ thế đấy. Cũng là một dạng chân thực thôi mà.

Thứ hai, về chuyện cậu có nên làm tình với Midori hay không, thì cậu phải tự quyết định thôi. Tôi không thể nói gì được. Hãy bàn với Midori và tự tìm lấy kết luận, cái nào là có lý nhất đối với cậu.

Thứ ba, đừng cho Naoko biết một tí gì về những chuyện này. Nếu mọi thứ tiến triển đến mức cậu bắt buộc phải nói với cô ấy, thì cậu và tôi sẽ cùng bàn cách làm sao cho tốt. Còn bây giờ thì đừng nói gì cả. Cứ để tôi lo.

Điều thứ tư tôi phải nói là cậu đã là một nguồn sức mạnh lớn lao cho Naoko, lớn đến mức ngay cả nếu cậu không còn những cảm xúc của một bạn tình đối với cô ấy nữa, cậu vẫn có thể làm được rất nhiều điều cho cô ấy. Cho nên đừng ấp ủ mọi chuyện theo kiểu siêu-nghiêm-trọng như thế nữa. Tất cả chúng ta (tôi muốn nói là tất cả chúng ta ấy, cả bình thường lẫn không bình thường) đều là những con người bất toàn sống trong một thế giới bất toàn. Chúng ta không sống với sự chính xác cơ khí của một chương mục ngân hàng hoặc bằng cách đo đắn mọi đường nét và góc cạnh của chúng ta với thước dây và máy ngắm. Tôi nói thế có đúng không nào?

Cảm giác riêng của tôi là Midori nghe chừng là một cô gái tuyệt vời đấy. Chỉ đọc thư của cậu thôi tôi cũng có thể hiểu tại sao cậu bị cô ấy hấp dẫn đến thế. Và tôi cũng hiểu cả chuyện tại sao Naoko cũng hấp dẫn cậu nữa. Chẳng có tí gì là tội lỗi trong chuyện đó cả. Những chuyện như thế lúc nào chả diễn ra trong cái thế giới mênh mông này của chúng ta. Cũng giống như ta lấy thuyền chèo ra một cái hồ đẹp trong một ngày đẹp trời và cả trời cả nước đều đẹp tuyệt vời vậy. Cho nên cậu đừng có tự ăn thịt mình như thế nữa đi. Mọi chuyện sẽ đến nơi chúng phải đến nếu ta để cho chúng tự đi theo đường của mình. Dù cậu có cố mấy thì người ta cũng bị đau khổ khi đã đến lúc họ phải đau khổ. Đời là vậy. Tôi biết có vẻ như mình đang lên giọng giảng đạo trên nhà thờ, nhưng cũng đã đến lúc cậu phải học sống như vậy rồi. Cậu đã cố quá sức để bắt cuộc đời phải vừa khít theo cách sống của cậu. Nếu không muốn phải vào nhà thương điên, cậu hãy cởi mở rộng rãi hơn một tí đi và hãy để cho mình trôi theo dòng chảy tự nhiên của cuộc đời. Tôi chỉ là một người đàn bà bất toàn bất lực, thế mà nhiều lúc tôi vẫn có thể tự nhủ rằng cuộc đời thật là tuyệt diệu biết bao! Tin tôi đi, điều đó là thực đấy! Cho nên ngay giờ phút này, cậu hãy dừng hết những việc đang làm và hãy hạnh phúc ngay đi. Có làm thì làm cho mình được hạnh phúc ấy!

Không cần nói cậu cũng biết là tôi buồn thế nào khi cậu và Naoko không thể cùng nhau đến được một bến bờ hạnh phúc. Nhưng có ai dám bảo chỉ thế mới là tốt đẹp nhất đâu! Cho nên cậu cần phải chộp lấy bất kỳ cơ hội hạnh phúc nào mà cậu có, và đừng áy náy vì người khác nhiều quá. Kinh nghiệm của tôi là chúng ta chỉ có độ hai hoặc ba cơ hội như thế trong đời, và nếu để lỡ thì sẽ phải ân hận cho đến chết vậy.

Ngày nào tôi cũng chơi ghi-ta mà chẳng có ai nghe. Có vẻ vô bổ quá. Tôi cũng chẳng thích những đêm mưa tối trời đâu. Hy vọng sẽ lại có cơ hội chơi ghi-ta và ăn nho với cậu và Naoko trong gian phòng này nữa.

A… thế đấy, hẹn thư sau.

Reiko Ishida.”

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết