Tag Archives: Nhã Nam

Cô gái trên tàu

Tác giả: Paula Hawkins. Bản tiếng Việt do Nhã Nam và NXB Hội nhà văn xuất bản cùng năm với bản gốc, 2015. Huyền Vũ dịch.

Cuốn này rất dễ đọc, câu chuyện cuốn hút, có thể cầm sách đọc 1-2 hơi là xong. Phần mở đầu không hấp dẫn lắm khi dẫn dắt vào lát cắt cuộc đời của một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi đang rất bất ổn và không ngừng mơ về những ngày xưa cũ với người chồng cũ, người mà giờ đây đã là chồng một người khác. Nhưng khá nhanh chóng các tình tiết mới xuất hiện, kéo cô này lệch ra khỏi quỹ đạo cuộc sống đang bế tắc, lôi cô vào câu chuyện của những người khác mà hóa ra cuối cùng lại liên quan tới chính cô. Cái kết mang hơi hướng của một bộ phim drama của Mỹ, nên có phần thường, nhưng kể cũng hợp lý để kết lại câu chuyện.

Có lẽ điểm mạnh nhất của truyện là sức hấp dẫn đến từ việc câu chuyện được mở ra từ từ theo lối trinh thám. Khi đọc người đọc cũng buộc phải làm giống như nhân vật chính, là cố gắng chắp nối các tình tiết mắt thấy tai nghe với những ký ức đã bị rơi rớt còn lại không đầu không cuối, không biết có thực hay do tưởng tượng ra, đồng thời cũng lại tiếp tục nghe ngóng các tình tiết mới, để giải bài toán trước mặt. Và đến khi câu chuyện đã được sáng tỏ, tôi vẫn thấy còn cái cảm giác cuộc sống đúng là có những chuyện khó lường, trông vậy mà không phải vậy.

Tuy nhiên, cách viết đổi ngôi tôi giữa ba nhân vật nữ  có phần hơi khiên cưỡng và không tự nhiên lắm. Vì Rachel, cô gái ngồi trên tàu, rõ ràng là nhân vật chính như cái tựa gợi ý, đã được dành nhiều đất hơn cả. Cuộc sống và nội tâm của cô này được khắc họa đậm nét và có chiều sâu hơn so với hai cô kia. Về tổng thể, đây là một hành trình của Rachel. Một hành trình tìm hiểu một sự việc mà cô có ít nhiều liên quan dần dần trở thành một hành trình tìm lại bản thân mình khi dần hé lộ ra những bí mật liên quan tới tình cảnh khốn khổ của cô hiện giờ. Dù là đổi ngôi để người đọc có cái nhìn về câu chuyện từ một hướng khác nhưng rõ ràng chỉ nhằm bổ sung tình tiết cho câu chuyện mà Rachel đang theo đuổi. Lối viết đổi ngôi sẽ thú vị hơn khi đọc nếu các nhân vật lần lượt đứng ngôi tôi được xây dựng “ngang cơ” nhau.

Tôi thích cách tác giả xây dựng một nhân vật nghiện rượu phải vật lộn với những cơn nghiện của mình, những hậu quả gây ra sau mỗi lần say xỉn không biết trời đất, những khoảng trống mơ hồ trong ký ức. Một nhân vật có thể gây chán ngán cho người đọc, như một số bạn nhận xét, nhưng tôi nghĩ trong nhân vật đó có sự yếu đuối, sự chán chường, sự bất lực, và sự buông xuôi rất con người.

Trên GoodReads có một nhận xét rất thú vị là các nhân vật nữ trong truyện này đều thảm hại, ai cũng phải định nghĩa mình bằng những mối quan hệ với một hoặc vài người đàn ông. Thật ra thì những nhân vật nam trong truyện cũng vậy thôi, họ cũng có những vấn đề của họ, và cũng đều gặp rắc rối trong những mối quan hệ với phụ nữ. Những mối quan hệ xoắn quẩy giữa mấy người đàn ông và mấy người phụ nữ trong truyện này nó tạo nên một cái nền drama cho câu chuyện. Nhưng đúng là một số nhân vật nữ phụ trong truyện (bà mẹ, cô bạn cùng nhà) cũng được dựng lên là đang trong một mối quan hệ nào đó là những chi tiết thừa thãi chẳng liên quan gì tới câu chuyện chính. Ngoài ra cũng chẳng có thông tin gì khác về những nhân vật phụ này, thành ra những ai hơi nhạy cảm về nữ quyền có thể cảm thấy khó chịu.

Đọc truyện này xong lập tức nghĩ tới Gone Girl nhưng truyện đó chưa đọc mà mới xem phim.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Con đường Hồi giáo

Cuốn sách thứ hai trong series “Lên đường với trái tim trần trụi” của tác giả Nguyễn Phương Mai, do Nhã Nam & NXB Hội nhà văn phát hành năm 2016.

“Con đường Hồi giáo theo chân các chiến binh Ả Rập xuất phát từ Mecca tỏa ra hai hướng Á Âu. Cánh cung sang phía Tây… là quãng đường tôi đã vượt qua trong năm 2012 sau Mùa xuân Ả Rập.”

(Chú thích trên tấm bản đồ ở đầu cuốn sách)

Một ý tưởng rất thú vị và lãng mạn đã được tác giả hiện thực hóa thành một chuyến phiêu lưu đáng ngưỡng mộ, dù tôi nghĩ là người đọc có lẽ chỉ có thể hình dung và cảm nhận được một phần nhỏ của chuyến đi ấy trong khuôn khổ 300 trang của cuốn sách.

Tuy nhiên, tác giả chỉ lần theo con đường Hồi giáo ấy một cách cơ học, tức là chỉ đi qua đúng các quốc gia mà các chiến binh Ả Rập ngày xưa đã đi tới. Cuốn sách không nhắc chút gì tới lịch sử của các chuyến chinh phạt hay du cư ngày xưa, thành thử đôi khi tôi cảm thấy cái tựa của cuốn sách như một chiếc áo hơi rộng với nội dung bên trong. Bên trong chỉ là một lát cắt qua khu vực tại thời điểm năm 2012.

Như nhiều cuốn sách du ký khác, cuốn sách này là một sự pha trộn của những dữ kiện sách vở cùng những quan sát và cảm nhận mắt thấy tai nghe của tác giả trong chuyến đi. Tuy nhiên, tôi cho rằng dung lượng thông tin sách vở mà cuốn sách này cung cấp là khá đáng nể với một cuốn sách du ký thông thường. Rồi các thông tin sách vở vốn tương đối khô khan đó được pha trộn khéo léo với những trải nghiệm độc đáo trên đường đi dưới ngòi bút hài hước của một người có thâm niên làm báo cũng như gõ đầu sinh viên. Kết quả là cuốn sách trở nên dễ đọc, hấp dẫn, và giúp mở mang đầu óc.

“Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu [Islam và Islamism]. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.”

(Trích phần “Thưa cùng bạn đọc”)

Thật ra không biết người khác thế nào chứ tôi đọc xong chả mấy mà quên gần hết những thông tin sách vở mà tác giả đưa vào. 😀 Ấn tượng về những trải nghiệm lăn lê trên đường của tác giả thì sâu sắc hơn với tôi. Những chuyện kể mắt thấy tai nghe ấy rất sống động và khiến tôi cảm giác mình có thể mường tượng ra những con người thực ở đó đang sống một cuộc sống bình thường hàng ngày như thế nào. Có lẽ đó chính là lý do vì sao tác giả nhất định phải khăn gói quả mướp lê la cho kỳ được qua ngần ấy nước để xem hiện thực cuộc sống có giống như báo đài ti vi sách vở vẫn nói hay không.

Về tổng thể cuốn sách mang tới cho tôi một cảm nhận chung về sự đa dạng ở Trung Đông nhưng hầu như không có cảm nhận cụ thể về một quốc gia cụ thể nào trong số đó, mặc dù với mỗi một quốc gia tác giả đã chọn lọc và rút ra một vài nét chấm phá đặc sắc về quốc gia đó. Ví dụ đột nhiên bây giờ có ai hỏi tôi vậy cuốn sách ấy viết gì về Yemen, tôi chịu thua liền.

Một chút về lịch sử, một chút về chính trị, nhiều chút về văn hóa và xã hội, đây là một cuốn sách nhập môn về Trung Đông tốt. Và dĩ nhiên, nó cũng thích hợp với những kẻ luôn nghe thấy tiếng gọi của những con đường. 🙂

“Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.

Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.

Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.

Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi.”

Leave a comment

Filed under Du ký

Đỏ

Với chỉ khoảng tầm 70 trang sách khổ 13 x 20.5 cm, Đỏ là một truyện mà đọc xong lần đầu tôi phải giật mình nhìn lại xem tác giả là ai, bởi vì truyện ấy viết lạ. Lạ giữa những cuốn sách cứ từa tựa nhau thế nào ấy của nhiều tác giả Việt trên thị trường sách nhiều năm nay, nhất là các tác giả trẻ. Hoặc như chính một câu viết của Nguyễn Dương Quỳnh trong truyện ấy: “Như nét cọ kỳ dị giữa một bức tranh tầm thường buồn tẻ, buộc người xem phải lùi xa ra ngắm lại để rồi phát hiện những điều khác lạ.

Đỏ giống như một vở kịch câm. Bởi nằm ở trung tâm truyện là những giao tiếp gần như không lời giữa nhân vật chính người Việt và hai bố con người Hoa ở sát phòng trọ. Bất đồng ngôn ngữ, dè dặt trong giao tiếp vì những lý do khác nhau, và cũng không có lý do gì để trở nên thân thiết, họ xô vào cuộc đời nhau cũng chỉ như hai người lạ quệt vào nhau trên phố đông người. Thật ra cũng có một cái gì nhiều hơn như thế, nhưng không gọi được tên.

Chẳng phải gặp gỡ gì, chẳng phải số mệnh an bài gì. Chỉ là tình cờ vướng víu ở đâu đó, như hoa cỏ may bám vào gấu quần thôi.

Như bước đi trên một con đường mùa xuân ấy.

Bước đi trên một con đường mùa xuân, thấy một cành cây xanh mướt sà xuống trước mặt. Chỉ muốn nhìn thật lâu ngắm thật kỹ, để đừng quên một sớm mai này, mình đã thấy một cành cây trên con đường mùa xuân.

Hạn chế giao tiếp bằng lời, thế mạnh của truyện là mô tả. Khung cảnh. Thời tiết. Nhiệt độ. Màu sắc. Mùi vị. Âm thanh. Quan sát và suy đoán của nhân vật tôi về những lời nói cô nghe được mà không hiểu gì, về những cử chỉ, hành động của những người cô nhìn thấy hay tiếp xúc. Thế nên tôi mới nói Đỏ giống như một vở kịch câm. Những âm thanh nhộn nhạo ở phố Tàu như chỉ làm nền cho những sự câm lặng.

Trên cái nền yên lặng bề mặt ấy, nhân vật anh bạn học cũ xuất hiện như một dòng nước đột ngột rẽ qua, như một làn gió đột nhiên thốc tới. Là một người hướng ngoại xuất hiện bên cạnh câu chuyện xoay quanh những người hướng nội rụt rè, ít nói, nhân vật này như tạo ra một luồng khí sinh động cho truyện. Anh chủ động bắt chuyện, chủ động nói chuyện, và chủ động kể chuyện. Nghĩ gì là nói đó, không ngần ngại.

Mối quan hệ quen biết mà không thân thiết giữa nhân vật tôi với người bạn học cũ như tạo thành một đường song song với mối dây lỏng lẻo tình cờ hình thành nên giữa cô và cặp cha con người Hoa. Hai đường song song ấy như soi vào nhau, phản chiếu lẫn nhau, và nhờ thế, nhân vật tôi đứng giữa hai dòng chảy cuộc đời có dịp được suy ngẫm về những liên hệ rất khó gọi tên giữa người với người. “Những âm thanh mà tai không nghe thấy”.

Đó là hình ảnh cuối cùng của người trọ cùng tôi. Khi ông quay đầu bước đi, tôi vẫn đứng lại bàng hoàng. Những mối dây quá ư lỏng lẻo nối tôi với người đàn ông này đã đứt tung từ khi ông ta bước sang cây cầu hôm ấy.

Và tự dưng lại có một linh cảm mơ hồ. Có thể, chúng tôi sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa, dù chúng tôi ở trong cùng một thành phố, và chỉ cách nhau dăm trạm xe điện. Có thể, con đường của chúng tôi sẽ chẳng bao giờ cắt qua nhau nữa, và đâu đó trên đời, lại có một vì sao rơi xuống mà tôi chẳng hề hay.

Kết

Một người bạn hỏi tôi tại sao lại viết Đỏ. Chủ yếu là do sự rụt rè chăng? Ngôn từ như bị xé nát, những gì mình nói ra không phải những gì mình nghĩ, cứ biết là có gì ta phải nói cho nhau, thế mà không thể nói được. Lúc cần nói ngắn thì lại dài quá. Lúc cần phải giải thích vì không làm sao cho xuôi. Như có gì chắn giữa ta, một bức tường vô hình… Cứ như đang nói với nhau một thứ ngôn ngữ nào khác…  chỉ nghe thấy tiếng tha thiết nhưng bất lực không thể gần nhau.

Vì sao lại là màu đỏ?

Trang 17 là nơi màu đỏ xuất hiện lần đầu tiên:

Bước xuyên qua những cửa hàng của người Hoa, lúc nào cũng nồng nồng một mùi gì rất khó tả, và đỏ rực đến nhức mắt.

Màu đỏ ấy trước hết là tượng trưng cho khu phố người Hoa, là bối cảnh nơi câu chuyện chính diễn ra. Sau này tác giả cũng đôi lần nhắc lại. Sắc “đỏ rực đến nhức mắt” cũng khác đi một chút.

Trang 49:

Đến lúc về, tôi bàng hoàng nhận ra những chiếc đèn lồng đỏ trên con phố quen thuộc. Người ta rộn ràng quá. Ai nấy đều bận rộn trang hoàng vì lẽ gì tôi không nghĩ ra nổi. Đến khi một người đàn ông vác thang qua mặt tôi la lớn một câu tiếng Hoa may mà tôi biết, tôi mới nhận ra Tết âm lịch đã gần kề.

Trang 66:

Tôi rời khỏi con hẻm. Rời khỏi những bảng hiệu màu đỏ đã bị nước mưa quất cho bầm tím đi vì lạnh, tê tái trong mưa.

Trang 75:

Phố buổi sớm khô lạnh như bức tranh thủy mặc. Những vệt băng rôn đỏ ở đâu rũ xuống, chói lòa, cô độc.

Đặt trong tổng thể truyện, màu đỏ ấy như một cái chấm đỏ trên một nền xám, như một “nét cọ kỳ dị giữa một bức tranh tầm thường buồn tẻ”, như một câu chuyện bật lên giữa dòng đời không khi nào ngừng chảy. Không chỉ là màu của khu phố Tàu, đỏ còn là màu của chiếc ô giữa một nền mưa khi nhân vật tôi dừng chân bên tiệm bánh mì. Là con chuồn chuồn tết bằng chỉ đỏ trên tay đứa bé.

Đỏ là sắc màu chấm phá trên một bức tranh buồn trầm lặng.

Cần để ý rằng nhân vật tôi là một họa sĩ còn tác giả thì học chuyên ngành Product Design. Đỏ không chỉ giống một vở kịch câm, Đỏ còn giống như một bức tranh. Và như nhân vật tôi có tâm sự trong truyện: “Những bức tranh chân dung tôi ưa thích thường có màu nền rất tối. Gương mặt người sáng bừng trong bóng đêm, như ảo ảnh, như ta chỉ gặp nhau trong một khúc quanh ngắn ngủi, rồi tất cả đều biến mất.Đỏ chính là giống như một bức tranh kiểu như thế.

Ở một tầng cảm giác sâu hơn, đỏ còn là những cảm xúc thiết tha mà khó gọi tên được trước cuộc đời, mà đoạn viết sau như một khoảnh khắc người viết đã nắm bắt được chúng, cảm nhận được chúng theo cách riêng của mình – cách của một người viết văn. Đó là đoạn viết bừng cháy duy nhất trong truyện. Hư hư thực thực.

Tôi mở mắt, nước mắt ứa ra vì quầng đỏ của một mặt trời đang lặn. Tiếng hát nào vang vọng âm âm giữa không thời gian. Một bản nhạc êm dịu và day dứt một nỗi buồn tiếc nuối.

Tôi mở mắt ra và thấy tiếng ầm ầm ù ù đã nghe trong bóng đêm hóa thành tiếng con tàu đang lao đi vùn vụt giữa một hoàng hôn đỏ rực. Và trong khoang tàu chỉ có một mình tôi, đối mặt với không gì khác ngoài bầu trời chết ngoài khung kính.

Tôi đứng dậy và chao đảo giữa khoang tàu càng lúc càng lao nhanh. Tôi gọi tên người khản cổ nhưng không ai đáp lại. Tôi lảo đảo lần bước khắp các khoang tàu giống hệt nhau nhưng chẳng có ai, chẳng có ai, ngoại trừ tôi và ánh sáng đỏ chảy giữa không gian. Khoang tàu bỗng trở nên nóng hừng hực như bị mặt trời thiêu đốt…

Tôi thấy mình ngã xuống giữa khoang tàu lao đi vùn vụt… Màu đen ở đâu bỗng tràn tới, như tiếp sau ngọn lửa đỏ là bóng đêm của tàn tro.

Thỉnh thoảng lại có một người bạn than phiền với tôi rằng chẳng thấy có quyển sách nào hay ở ngoài hiệu sách, nhất là sách của tác giả Việt. Những lúc như thế, tôi thường bảo, tôi không đọc nhiều nên không rõ, nhưng chắc là phải có chứ. Một vài bạn không chịu: bạn kể thử ra xem có quyển nào, tác giả nào mà bạn bảo là đọc được xem nào. Những lúc như thế, tôi thường hỏi, bạn đã đọc Đỏ của Nguyễn Dương Quỳnh chưa. Có lẽ là sau Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu của năm 2005 thì phải tới năm 2012 tôi mới lại phải giật mình trước một người viết văn Việt.

Dĩ nhiên hãy còn quá sớm để nói Nguyễn Dương Quỳnh sẽ là ai trong làng văn học Việt Nam. Trong Đỏ vẫn còn lộ ra một vài đoạn viết xử lý chưa được khéo của một người viết chưa nhiều kinh nghiệm. Đó là những đoạn viết cảm xúc còn lộn xộn, không thống nhất và không tạo thành một dòng chảy logic từ câu đầu tới câu cuối của đoạn, thể hiện một tâm trạng còn phức tạp và ngổn ngang suy nghĩ của tác giả khi viết lại những dòng ấy, cố gắng ghi lại nhưng chưa tạo được thành hình hài cho những gì mình đang có trong đầu. Những đoạn ấy người đọc có thể cảm thấy rời rạc, khó hiểu.

Dẫu sao sau khi đọc lại Đỏ lần thứ hai, hơn ba năm sau lần đọc thứ nhất, tôi vẫn thấy đây là một truyện đáng đọc, nhất là với những ai quan tâm tới văn người Việt viết. Hy vọng bài review này đã nói rõ được những lý do vì sao tôi nghĩ rằng đây là một truyện đáng đọc.

Cuốn Đỏ do Nhã Nam và NXB Lao động xuất bản ngoài Đỏ ra còn một truyện vừa nữa, dài hơn, là Nước xốt cà chua, nhưng không hay bằng. Vả lại đó hình như cũng là truyện đầu tay của Nguyễn Dương Quỳnh, coi như đọc chơi cho biết thôi.

Ngày xưa tôi mua Đỏ về đọc là do đọc được một bài trong ấy có viết như này:

Quyển Đỏ sẽ không thể trở thành một cuốn sách bán chạy, nhưng chắc chắn nó sẽ có một số lượng độc giả riêng, một số lượng cũng không hẳn là nhỏ – một nhà văn tuổi đôi mươi viết văn thực sự hay kiểu gì cũng có cho riêng mình một “khối độc giả”.

Leave a comment

Filed under Truyện vừa

Nỗi cô đơn của các số nguyên tố

Khi đã đọc kha khá sách, bạn sẽ hầu như không kỳ vọng gì nhiều ở một cuốn sách. Bởi bạn biết rằng mỗi một cuốn sách mở ra có thể là bất kỳ điều gì: làm bạn ngạc nhiên, làm bạn chán ngấy, làm bạn bật cười, hoặc làm bạn ghê sợ. Bất kể đó là cuốn sách chẳng ai đọc hay hàng triệu người đọc. Cuốn của một tác giả đình đám, một tác giả vô danh, hay một tác giả bạn thích. Một cái tựa thú vị hay một cái tựa tầm thường. Không có gì có thể làm chỉ dấu cho bạn biết bạn sẽ cảm thấy như thế nào sau khi đọc xong một cuốn sách. Bạn chỉ có thể tự mình đọc sách và tự mình cảm nhận.

Và đôi khi, trong lúc chẳng trông đợi gì mà chỉ làm một việc đơn giản mà bấy lâu bạn vẫn làm – đọc sách, tự dưng bạn thấy mình phải lòng một cuốn sách. Ngỡ ngàng như một tia nắng quệt ngang qua cuộc đời bạn.

Tôi đọc gần như một lèo hết Nỗi cô đơn của các số nguyên tố của Paolo Giordano, một điều tôi rất hiếm khi làm. Thường tôi đọc sách nhẩn nha, vừa đọc vừa nghĩ ngợi và tưởng tượng gì đó. Đôi khi còn vừa đọc vừa viết. Còn cuốn sách này, nó như cùng một nhịp đập với tôi, tôi cứ đi theo dòng chảy của nó như đi theo một dòng chảy tự nhiên nào đó của chính mình, không cần nghĩ ngợi gì thêm, không cần thêm thắt điều gì. Cả tiết tấu của lời văn cũng như những ý tưởng mà nó mang theo, những tình cảm mà nó gợi lên gần như trùng khít với một khoảng trống mênh mông vô hình nào đó ở bên trong tôi bấy lâu nay.

Tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào có nhiều nỗi cô độc đến như thế. Mười cuốn sách của Murakami, một tác giả mà tôi yêu thích, cũng không có cuốn nào cô độc như cuốn này. Khởi sinh của cô độc cũng không cô độc như cuốn này. Ở đây tất cả các nhân vật đều cô độc. Tất cả, chứ không chỉ có cặp số nguyên tố sinh đôi Mattia và Alice. Cô độc trong toàn bộ cuộc đời mà họ đã sống. Truyện gần như không có tình tiết nào mang tính bùng nổ, là nơi mà người ta, dù là trong khoảnh khắc, giải phóng được hết sự cô độc trong con người mình. Một vài chi tiết có một chút ấm nóng cũng chỉ như một que diêm lóe lên giữa một trời băng tuyết rồi vụt tắt trước khi người ta kịp nhận ra sự tồn tại của nó. Một màu cô độc băng giá bao phủ lên toàn bộ cuốn sách, từ những dòng đầu tiên cho tới những dòng cuối cùng.

Một cuốn sách như thế hiển nhiên làm nhiều người khó chịu. Không ai thích sự cô độc cả, kể cả khi nó chỉ là một câu chuyện tưởng tượng trên giấy. Nhưng với một số người khác, nó chỉ đơn giản như một tấm chân dung gần gũi nhất với cuộc đời bình thường mà trước tới nay họ sống và trải nghiệm.

Khác với nhiều cuốn sách khác viết về những con người cô độc, trong cuốn này Paolo Giordano không dựng lên những bức tranh quá chi tiết về nội tâm của nhân vật. Rất ít nước mắt. Không cần tới những cái chết. Tất cả các nhân vật của anh đều bằng cách này hay cách khác kiềm chế những lời nói và hành động của mình, dù biết rằng lựa chọn mà họ đưa ra vào lúc này đây sẽ để lại kết quả làm thay đổi toàn bộ cuộc đời họ kể từ đó trở về sau. Không ít lần các nhân vật trong truyện đã mường tượng chi tiết trong đầu họ sẽ nói những gì, sẽ làm những gì, và rồi sau đó họ lại bất động. Như thể nỗi cô độc từ bên trong đã phong tỏa con người họ, khiến họ tê liệt trước cuộc đời.

Sự thức giấc chỉ phá hủy một phần các cấu trúc ý nghĩ. Alice dậy khi không thể làm khác được nữa và sự lộn xộn của giấc ngủ mơ dần dần giảm đi, để lại trong đầu cô những vết rơi rớt, giống như những ký ức ngắt quãng trộn lẫn với những ký ức khác và không có vẻ gì là không thật cả. Cô lang thang trong căn hộ vắng lặng như bóng ma của chính mình đang chậm chạp bám theo sự minh mẫn của bản thân. Đôi khi cô nghĩ mình đang phát điên. Nhưng cô cũng chẳng lấy làm tiếc về điều đó. Ngược lại, nó khiến cô mỉm cười, bởi cuối cùng cô chính là người chọn lựa.

Tác giả cố gắng để truyện kết thúc một cách sáng sủa, bằng cách để Mattia cho tay vào túi và tìm thấy miếng giấy ghi số điện thoại của Nadia, còn Alice thì nghĩ rằng “[v]ới một chút khó khăn mệt nhọc, cô đã biết tự đứng dậy một mình.” Tuy thế, nếu lắp hai cái chi tiết ấy vào toàn bộ câu chuyện mà cuốn sách vẽ ra, tôi thấy nó cũng lại giống như hai que diêm được đốt lên giữa một trời tuyết trắng, như “[d]òng sông tạo tiếng xào xạc yếu ớt và mơ màng”.

Bên cạnh hình ảnh cặp số nguyên tố sinh đôi “cô độc và mất mát, tuy rất gần mà không đủ để thật sự đến được với nhau” được sử dụng làm biểu tượng đặt ở trung tâm của cuốn sách, một chất liệu đã góp phần quan trọng tạo nên hình hài và màu sắc cho tác phẩm chính là những mô tả ngắn gọn và khô khốc của tác giả về thế giới vật chất xung quanh các nhân vật của anh. Các kiến thức khoa học được đưa vào trong những dòng mô tả ấy khá tự nhiên và vừa phải, không bị phô phang và có phần sến sẩm như trong một cuốn sách cũng thuộc hàng bestseller của một anh tiến sĩ một ngành kỹ thuật đi viết văn khác là Cô đơn trên mạng. Có nhiều đoạn trong cuốn sách tôi đã nghĩ nhân vật sẽ nói thêm điều gì đó, làm thêm điều gì đó thì tác giả thay vào đó là một đoạn mô tả không tô vẽ. Tôi không cảm thấy thất vọng vì những chỗ đó mà ngược lại, nhờ đó tôi cảm nhận được rõ hơn sự đóng băng của nhân vật.

“Cậu thích học thật à?”

Mattia gật đầu.

“Tại sao?”

“Đó là điều duy nhất mình biết làm.” Cậu trả lời chậm rãi. Cậu muốn nói cậu thích học vì cậu có thể làm điều đó một mình, bởi vì tất cả những gì phải học đều đã chết rồi, lạnh lẽo và cứng ngắc máy móc. Cậu muốn nói với Alice rằng những trang sách ở trường đều có nhiệt độ giống nhau, chúng sẵn sàng cho bạn thời gian để chọn lựa, chẳng bao giờ gây đau đớn và bạn cũng chẳng thế khiến chúng thấy đau. Nhưng cậu chỉ im lặng.

Sự cô độc của các số nguyên tố có thể mang lại cảm xúc gì cho bạn, tôi không biết, nhưng chắc chắn nó là một cuốn sách đã mô tả được một cách chân thực một lát cắt của cuộc sống ngày nay như nó đang là.

Cuốn sách được dịch bởi Lê Thúy Hiền, bản quyền tiếng Việt © Nhã Nam 2009. Bản dịch căn bản là ổn và cẩn thận, chỉ một vài chỗ tôi sẽ ưng cách sử dụng đại từ khác đi một chút.

2 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Kẻ ích kỷ lãng mạn

Bản dịch tiếng Việt bởi Phùng Hồng Minh, © Nhã Nam, 2013. Bản tiếng Pháp © Éditions Grasset & Fasquelle, 2005.

Liệu có cuốn tiểu thuyết nào lại giống một cuốn nhật ký hơn Kẻ ích kỷ lãng mạn của Frédéric Beigbeder không nhỉ? Tôi thì tôi chưa được biết. Hoặc là tôi đọc hồi ký hoặc là tôi đọc tiểu thuyết. Nhật ký duy nhất mà tôi đọc là nhật ký của chính mình :D.

Trang Wikipedia tiếng Anh về tác giả có viết: Frédéric Beigbeder’s work can be organised in three main categories. [Trong đó,] Autobiographical novels: This style of book is about the author’s life although he does not explicitly describe them as an autobiography.

Tạm dịch: Các tác phẩm của Frédéric Beigbeder có thể chia làm ba loại. [Trong đó,] Tiểu thuyết tự truyện: Dạng sách này nói về cuộc đời của tác giả mặc dù anh ta không công khai gọi chúng là tự truyện.

Vậy Kẻ ích kỷ lãng mạn là nhật ký hay tiểu thuyết?

“’Nhật ký’ là gì? Là một cuốn tiểu thuyết.”

– Jacques AUDIBERTY,

Ngày Chủ nhật đang đợi tôi, 1965.

(Trích dẫn của tác giả ở trang đầu của cuốn sách.)

Điều tôi thấy thú vị ở cuốn sách này là định dạng của nó – dường như nằm lập lờ giữa hai khái niệm ‘nhật ký’ và ‘tiểu thuyết hư cấu’ (fiction). Tôi nghĩ đây bản chất là một cuốn tiểu thuyết hư cấu được viết dưới dạng nhật ký (là nhật ký của Oscar Dufresne và là tiểu thuyết của Frédéric Beigbeder). Có điều, nó giống một cuốn nhật ký thông thường tới nỗi người ta dễ nghĩ tới nó như một cuốn nhật ký hơn là như một cuốn tiểu thuyết hư cấu. Để so sánh, khi nhắc tới một tác phẩm tương tự là Bridget Jones’s Diary: a novel (Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết, đã được dịch sang tiếng Việt với cái tên Nhật ký tiểu thư Jones – cho cả phim và sách, mà dường như là tựa sách bắt chước tựa phim) người ta dễ nghĩ tới nó như là một cuốn tiểu thuyết hư cấu nhiều hơn là một cuốn nhật ký. Có thể đây là lý do vì sao Bridget Jones – nhân vật hư cấu của Helen Fielding – lại nổi tiếng hơn tác giả trong khi Frédéric Beigbeder – ông nhà văn có thật tạo ra Oscar Dufresne – lại nổi tiếng hơn nhân vật hư cấu của mình.

Như với mọi cuốn tiểu thuyết khác, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết đoạn nào là thật, đoạn nào là bịa đặt.

“Thứ Năm.

Để nói thêm những gì mình nghĩ về các hiểu lầm và nguy hiểm của nhật ký, tôi muốn dẫn ra đây trích đoạn từ cuốn Sa đọa của Camus: “Các tác giả của những lời tự thú thường viết để không phải tự thú, để chẳng phải nói gì về những điều họ biết. Khi họ bảo mình đang thú nhận thì đó là lúc cần phải cảnh giác, họ sẽ hóa trang cho xác chết. Tin tôi đi, tôi thành thợ rồi mà.” Cảm giác kỳ lạ đúng thời điểm Guy Georges rốt cuộc cũng thú nhận các tội ác của hắn trước tòa Đại hình Paris. Chúng ta những muốn các nhà văn ai nấy đều phải là Guy Georges, bị đẩy vào tận phòng tuyến của họ cho tới khi khai ra mọi chuyện. “Đúng vậy, chính tôi làm việc đó, đúng vậy, đúng vậy, đúng vậy, chính tôi, xin lỗi, tôi sẽ không bao giờ nói dối nữa, tôi xin hứa.” Nhưng các nhà văn là những tên tội phạm chẳng bao giờ chịu thú nhận.”

(Tr. 123-124)

Sự phân thân nhập nhèm một cách công khai giữa tác giả và nhân vật, mà ở đây là Frédéric Beigbeder và Oscar Dufresne, không phải là một sự lạ trong văn chương. Phân thân đôi vẫn còn là nhẹ. Bạn có thể tìm đọc The New York Trilogy của Paul Auster (đã được dịch sang tiếng Việt với cái tựa mà cứ nhắc tới là tôi thấy kỳ – Trần trụi với văn chương) để biết bác này phân thành mấy thân như thế nào.

Tính chất tiểu thuyết của cuốn sách này còn có thể được nhận dạng bởi những sự sắp đặt tinh vi của tác giả chứ không phải trá hình một cách công khai như Helen Fielding trong Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết (tôi không có ý chê cuốn này nhé, nó cũng rất là hài, đọc thú vị hơn xem phim đấy). Không ít bạn nhận xét là Kẻ ích kỷ lãng mạn chả có nội dung gì cả. Để “đổ thêm dầu vào lửa”, ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn nhật ký, tác giả đã (để Oscar) tuyên bố:

“Thứ Hai.

Anh tưởng tôi có điều gì đó để nói ư? Anh tưởng tôi từng trải nghiệm điều gì đó trọng đại ư? Có lẽ là không đâu, có lẽ là không đâu. Tôi chỉ là một gã đàn ông. Tôi cũng có một câu chuyện như bao kẻ khác. Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ, tôi có cảm giác như mình là một ẩn dụ.”

Bạn có nhận ra đây là một lời giới thiệu không thể thẳng thắn hơn cho toàn bộ những gì bạn đọc tiếp sau đó không? “Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ” chỉ là một động tác giả.

Vậy có nên tin anh chàng tinh quái này rằng có lẽ anh ta không có điều gì để nói mà chỉ viết một cuốn nhật ký vu vơ kể những chuyện lăng nhăng tạp nham của một anh chàng rất giống chính bản thân anh ta không? Có lẽ là không đâu :D. Nếu bạn thật sự tin rằng Oscar/Frédéric chỉ muốn nói những chuyện và triết lý vụn vặt không đầu không cuối thì bạn đã đánh giá quá thấp những anh chàng Xử Nữ :D.

Nếu không tin tôi, bạn có thể mở trang đầu tiên của cuốn sách, nơi anh chàng bày đặt trích dẫn hai câu tưởng chừng như rất vu vơ vô hại như người ta post một cái status cá nhân trên mạng xã hội ngày nay. Câu trích dẫn đầu tiên chính là câu hỏi chủ đạo xuyên suốt hai năm nhật ký của Oscar – và toàn bộ cuốn sách là để trả lời câu hỏi đó. Ngay cái tựa sách cũng là một trả lời cho câu hỏi này. Câu trích dẫn thứ hai chính là lấp lửng về nghệ thuật viết cuốn sách này. Đối với tôi, trang trích dẫn này là một cách tuyên ngôn giấu mình hoàn hảo của Kẻ ích kỷ lãng mạn.

Cuốn nhật ký là một nỗ lực của Oscar Dufresne nhằm tự định nghĩa và tự định vị mình trong cuộc đời mà anh ta đang sống, bằng cách đặt lên bàn tất cả những giằng co nội tâm, những lo lắng, những ẩn ức, những suy nghĩ, những tình cảm cứ liên tục nảy sinh và chồng chất lên nhau trong những guồng quay không ngừng của một xã hội bên ngoài quá phức tạp, quá ồn ào, quá nhiều giả tạo, quá nhiều điều tréo ngoe, và quá nhiều sự lố bịch.

“…tôi muốn được ‘đau đầu căng thẳng’: bóc trần cái tồi tệ khập khiễng trong cuộc sống khốn kiếp của tôi và tái dựng toàn bộ thế giới xung quanh. Cần phải ‘đau đầu căng thẳng’ không ngừng nếu ta muốn tồn tại. Ngày nay hẳn Descartes sẽ nói: Tôi đau đầu căng thẳng [tức là tôi tồn tại].”

(Tr. 101)

“Từ nay ta chỉ còn được lựa chọn giữa thái độ vô liêm sỉ và chứng cuồng ám mà thôi. Một mặt là những kẻ nghĩ rằng kệ đời nó chứ, chừng nào còn sống thì còn phải lấy lại những gì đã đặt cược: các thương gia, các nhà tài chính, các hoạt náo viên truyền hình, các nhà quảng cáo, các nhà hoan lạc chủ nghĩa, các nhà hư vô chủ nghĩa. Mặt khác là những người sợ đến ngày tận thế và tìm cách bảo vệ tất cả những gì còn chưa bị phá hủy: các tiểu thuyết gia, các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa, các nhà sinh thái, các nhà thơ, những kẻ rầy rà và những người hay càu nhàu. Từ ngày bức tường Berlin sụp đổ, tình trạng lưỡng phân này đã thay thế cho sự phân chia cánh tả/cánh hữu. Chứng liệt thần nọ đánh đuổi chứng liệt thần kia. Ích kỷ chủ nghĩa hay lãng mạn chủ nghĩa thì cũng đều phải chọn phe cho mình.”

(Tr. 145)

(Trong ngoặc vuông [ ] là tôi sửa lại theo phiên bản tiếng Việt phổ biến hơn của câu nói của Descartes: Tôi suy nghĩ, tức là tôi tồn tại. Bản tiếng Anh của câu này là: I think, therefore I exist. Bản dịch trong sách là: Tôi đau đầu căng thẳng vì vậy mà tôi hiện hữu.)

Bằng những đoạn viết ngắn rời rạc chứ không liền mạch và dài hơi như trong nhật ký của Bridget Jones, nhật ký của Oscar Dufresne dần dần làm hiện hình cả thế giới nội tâm bên trong và thế giới bên ngoài, theo cái cách mà những quyển nhật ký cá nhân không tựa đề của các cá nhân vô danh vẫn làm trong suốt lịch sử viết nhật ký của nhân loại.

Chẳng phải là cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng là tập hợp của những chuyện vụn vặt, không đầu không cuối hay sao? Chẳng phải những câu chuyện phiếm giữa chúng ta với bạn bè cũng là đủ thứ trên trời dưới biển, có lúc nhố nhăng, có lúc hài hước, có lúc sến sẩm, có lúc lại rất triết lý hay sao? Chẳng phải mỗi chúng ta vừa phải lo những chuyện rất thực vừa phải nghĩ ngợi về những thứ rất mơ hồ hay sao?

Chẳng phải là phần nào đó của Oscar Dufresne cũng chính là chúng ta, những thị dân của thời kỳ hậu hiện đại đa dạng, hỗn loạn, và liên tục biến động, hay sao?

Cuốn sách nhắc tới nhiều chủ đề/lĩnh vực, từ tiệc tùng, du lịch, sự kiện, ăn uống, ma túy, gái gú cho tới điện ảnh, âm nhạc, văn học, phê bình văn học, truyền hình cho tới gia đình, con cái, chính trị, và toàn cầu hóa. Dĩ nhiên không thể thiếu hai chủ đề chẳng bao giờ cũ: tình yêu và sự cô đơn. Nếu bạn đặc biệt quan tâm tới một vài chủ đề/lĩnh vực trong số đó nhiều hơn những chủ đề/lĩnh vực khác, bạn có thể có một cách đọc cuốn sách này rất thú vị là bạn đọc từ đầu tới cuối sách chỉ những gì liên quan tới chủ đề/lĩnh vực mà mình quan tâm thôi, bỏ qua những thứ còn lại.

Với tôi đây là một cuốn sách phải đọc chậm, nếu không thì tôi cảm thấy quá tải. Giọng văn châm biếm của tác giả tuy hài hước và tinh tế nhưng chứa đựng nhiều bất mãn và bế tắc trong khi cũng như tác giả, tôi cũng “đã chán ngấy mấy bài báo đả kích”. Nhất là khi chính mình cũng không tránh khỏi việc càu nhàu và mỉa mai nhiều thứ, có thể là bởi tôi cũng hay để tâm và nghĩ ngợi nhiều chuyện, từ chính trị cho tới thời trang, từ lịch sử cho tới mạng xã hội, từ chủ nghĩa tiêu dùng cho tới các talk show truyền hình, đại khái là cũng gồm nhiều thứ được nhắc tới trong cuốn sách này. Trên thực tế, tôi đã vừa đọc cuốn sách vừa viết (đi viết lại) bài review này.

Về nội dung, những câu chuyện tiệc tùng, sự kiện hào nhoáng của giới văn nghệ sĩ và giới thượng lưu kể ra trong cuốn sách thỉnh thoảng cũng làm tôi thấy quá tải. Xét cho cùng, thế giới ấy khá xa lạ với những người đọc thường dân áo vải. Kể cả có những lúc tọc mạch soi mói vào cái thế giới ấy qua những tờ báo, trang tin lá cải thì việc soi mói ấy với tôi nó cũng như một thứ giải trí rẻ tiền chứ tôi không quan tâm lắm bên dưới những thứ hào nhoáng ấy là gì. Hay nói đúng hơn, tôi có định kiến là nó cũng bảy phần thối nát.

Và có lẽ như một số độc giả nữ khác, tôi cũng thấy phát mệt với những câu chuyện giường chiếu của nhân vật chính. Oscar, “anh sẽ chết trong cô đơn như một tên khốn!” (Tôi không biết đây là một trò tự nhạo bản thân hay có một cô nàng (hoặc một gã bạn) nào đó thực sự đã phải hét lên với Frédéric Beigbeder như vậy :D.)

Mở ngoặc, phân trần của Oscar: “Nhưng ngoài thế ra, tôi còn là một kẻ bị ám ảnh đa cảm, một tên khốn biết yêu nữa.” (Tr. 210), đóng ngoặc. 😛

Truyện càng về cuối càng trầm xuống, và rồi kết thúc hơi hụt hẫng và có phần chóng vánh khi Oscar tuyên bố ngừng viết nhật ký để biến mất mãi mãi sau khi cô nàng đã làm anh phát rồ trong gần như suốt cuốn nhật ký tuyên bố bỏ anh. Lời thú nhận về người cha ở những dòng cuối cùng không được khớp lắm với nội dung cuốn nhật ký vì toàn bộ phần trước đó hầu như chẳng nhắc gì tới ông.

Kẻ ích kỷ lãng mạn dường như chia người đọc làm hai phe: hoặc thích cuốn sách hoặc ghét nó. Tôi nghiêng về phần thích nhiều hơn. Bỏ đi những thứ bên ngoài như nghề nghiệp, tiền bạc, địa vị xã hội, và những hoạt động cụ thể trong cuộc sống của Oscar Dufresne (mà những người ghét cuốn sách này lên án) thì tôi thấy anh ta đơn giản là một người luôn cố gắng sống thật với chính mình.

Bao nhiêu người trong chúng ta đang sống vì người khác, sống cho người khác, sống theo người khác, sống bằng giấc mơ của người khác và từ chối làm một kẻ ích kỷ rất biết mình là ai?

1 Comment

Filed under Tiểu thuyết

Chị Bridget và anh Oscar

Bridget Jones và Oscar Dufresne. Chị người Anh còn anh người Pháp. Chị làm sách còn anh viết sách. Mỗi người có một cuốn nhật ký để đời.

(Thật ra chị có tới ba cuốn nhật ký, nhưng có lẽ chỉ có cuốn đầu tiên mới là cuốn để đời. Bài này chỉ nói tới cuốn ấy.)

Nhật ký của chị đề tên chị – Nhật ký của Bridget Jones – với chú thích: một cuốn tiểu thuyết. Nhật ký của anh không đề tên anh mà đề một lời tự mô tả bản thân bằng chữ nghĩa thực ra đi mượn của người khác: Kẻ ích kỷ lãng mạn. Chẳng chú thích gì thêm.

“Một số người khẳng định tôi tên là Oscar Dufresne; số khác lại nghĩ tên thật của tôi là Frédéric Beigbeder. Đôi khi tôi khó mà nhận ra được mình qua cái tên.” 

Bridget Jones nổi tiếng kinh hoàng trong khi chả mấy ai nhớ tên người tạo ra chị, Helen Fielding. Ngược lại, Oscar Dufresne khó mà nổi tiếng hơn Frédéric Beigbeder, người tạo ra anh.

Nhật ký của chị được công bố năm 1996. Của anh năm 2005. Đều được viết trong những ngày tháng loạng choạng của tuổi ba mươi cộng cộng (chị ba hai, anh ba tư và ba lăm).

Nhật ký của chị dài một năm, bắt đầu từ mùa đông. Nhật ký của anh dài hai năm, bắt đầu từ mùa hè.

Thật ra chị không chia nhật ký theo mùa, mà chia theo tháng, mỗi tháng đi kèm với một cái tựa mà tựa ngắn nhất là “Huh” và dài nhất là “Severe birthday-related thirties panic”, chả có cái tựa nào ướt át. Anh thì chia nhật ký theo mùa, mỗi mùa cũng đi kèm với một cái tựa, một nửa số tựa ấy là ướt át, ví dụ, “Sự yên lặng tinh khiết của làn nước lung linh”.

Ngày nào viết nhật ký thì chị ghi thứ, ngày cụ thể, nhiều khi còn có cả giờ giấc nữa. Ngày nào viết nhật ký thì anh chỉ ghi thứ, không ghi ngày cụ thể, trừ ngày cuối cùng – thứ Hai ngày 9 tháng Chín năm 2002. À, trừ thêm cả ngày 11 tháng Chín năm mà ai cũng biết là năm nào đấy nữa.

Nhật ký của chị bắt đầu từ một ngày Chủ nhật, kết thúc bằng một ngày thứ Ba. Của anh bắt đầu từ một ngày thứ Hai, kết thúc cũng bằng một ngày thứ Hai.

Nhật ký của chị thật ra bắt đầu bằng hai trang New Year’s Resolutions liệt kê những gì chị hạ quyết tâm sẽ không làm và sẽ làm trong năm mới. Nhật ký của anh thật ra bắt đầu với một trang trích dẫn hai câu của hai ông nhà văn.

Nhật ký của chị đề tặng mẹ. Nhật ký của anh đề tặng gái.

Trong nhật ký của anh có nhắc tới chị. Nhật ký của chị dĩ nhiên chẳng có chỗ nào nhắc tới anh vì ngày chị viết nhật ký anh còn chưa hiện hồn.

Nhật ký của chị là một câu chuyện rõ ràng. Nhật ký của anh rõ ràng là có rất nhiều chuyện.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P2)

Cầu nguyện có lẽ là việc chúng ta ít muốn làm nhất trong ba việc ăn, cầu nguyện, và yêu :D. Bởi thế, tôi cứ ngại và lần lữa mãi việc đọc lại phần này. Lần đầu đọc cuốn này cách đây nhiều năm, ấn tượng duy nhất của tôi về phần “cầu nguyện” này là những mô tả về trải nghiệm của tác giả là một người vốn ưa sống ồn ào khi phải làm cái việc tập yên lặng và thiền – đại khái là cũng là lạ và thú vị. Lần này đọc lại, tôi đã hiểu nhiều hơn về một vài “khổ đau tinh thần căn bản của nhân loại” 😀 nên có lẽ cũng hiểu hơn về tiến trình Liz Gilbert học cách tự hàn gắn những vết thương lòng thông qua việc học cách cầu nguyện.

Cầu nguyện mà cũng phải học cách? Phải đó, nếu như bạn muốn làm việc này một cách có ý nghĩa, chứ không phải nói một lời bâng quơ xin một đấng tối cao nào đó ban phước lành cho bạn – đây là điều tôi hiểu ra sau khi đọc lại phần hai của cuốn sách này hôm nay. Hy vọng khi đọc cuốn sách này, các bạn đã không bỏ qua đoạn viết sau:

Cầu nguyện là một mối liên hệ; một nửa công việc đó là của tôi. Nếu tôi muốn sự biến đổi, mà thậm chí không buồn nêu rõ chính xác tôi muốn điều gì, thì làm sao nó có thể xảy ra? Một nửa ích lợi của cầu nguyện nằm trong chính việc hỏi, trong việc nêu ra rõ ràng và có cân nhắc một mục đích. Không có điều đó, tất cả những cầu xin và mong muốn của ta đều là không xương, mềm, trơ; chúng cuộn dưới chân ta thành đám sương mù lạnh và không bao giờ tan. Vậy nên sáng nay tôi dành thời gian tìm kiếm ở chính mình cụ thể cái tôi thật sự mong cầu. Tôi quỳ ở đó, trong đền, úp mặt xuống nền đá cẩm thạch lạnh cho đến khi nào tôi hình thành được một lời cầu nguyện đích thực. Nếu tôi không cảm thấy mình thành tâm, tôi sẽ ở đó trên sàn, cho đến khi tôi cảm thấy mình thành tâm. Điều đúng cho ngày hôm qua không phải luôn đúng cho hôm nay. Những lời cầu nguyện có thể trở nên cũ rích và đều đều đến nhàm chán, thậm chí sáo rỗng nếu ta để sự chuyên chú của mình tù đọng. Khi cố gắng giữ mình tỉnh giác, tôi đang đảm nhận trách nhiệm canh giữ cưu mang linh hồn của chính mình.

Câu chuyện cầu nguyện, hay chính xác hơn là câu chuyện học cách tự hàn gắn thông qua việc học cách cầu nguyện, của Liz đã được kể rất khéo. Đó không phải là một câu chuyện bạn quẳng mình đến một nơi tu thiền trong vài tháng, bạn ngoan ngoãn cầu nguyện như một tín đồ ngoan đạo, rồi những nỗi buồn của bạn cứ theo những lời cầu nguyện mà vợi dần đi cho tới khi bạn thấy lòng mình nhẹ nhõm, bạn thu dọn va-li rồi trở về với thế giới thực của cuộc đời bạn. Không phải thế. Hành trình tự hàn gắn cuộc đời mình bao giờ cũng là một cuộc vật lộn, một cuộc đấu tranh với chính mình, rồi thì may ra cuối cùng bạn hiểu ra được một điều gì đó từ cõi lòng tan nát của mình.

Hành trình của Liz cũng vậy, cũng là những khoảng thời gian khủng hoảng, liên tục đối diện và đối thoại – với những người chị gặp ở Ashram và với chính mình – về những vết thương từ quá khứ mãi không khép miệng, để rồi chị dần dần hiểu ra một vài điều, trước khi có thể thực sự yên lặng mà úp mặt xuống sàn đá lạnh để cầu nguyện như chị có nhắc đến trong đoạn trích trên. Nếu có biết một chút về bản chất của việc tự hàn gắn chính mình theo tâm lý học hiện đại, bạn sẽ thấy những gì Liz đã trải qua như chị kể lại trong cuốn sách này chính xác là những gì các nhà tâm lý học sẽ khuyên bạn nên làm. Có điều, thực hiện một quá trình như vậy quả là mệt nhọc, cô đơn, và quá nhiều điều có thể khiến ta nản chí mỗi ngày. Thế nên, biết đâu đọc về một trải nghiệm của một người khác – mà ở đây là Liz – lại có thể mang lại cho bạn một chút động viên?

Điều tôi đã muốn từ lâu là có một cuộc trò chuyện thật sự với chồng cũ của mình, nhưng rõ ràng chuyện này không bao giờ xảy ra. Điều tôi vẫn mong muốn là một giải pháp, một hội nghị thượng đỉnh hòa bình, từ đó chúng tôi có thể bước ra với một sự thấu hiểu hòa hợp về những gì đã xảy ra trong hôn nhân của chúng tôi, và tha thứ cho nhau về sự tồi tệ trong vụ ly dị của chúng tôi. Nhưng nhiều tháng tư vấn và hòa giải chỉ làm chúng tôi thêm chia rẽ, và biến chúng tôi thành hai người tuyệt đối không thể giải thoát cho người kia. …Vậy nên tôi hỏi Thượng Đế tối đó trên mái Ashram là – dựa trên thực tế là có lẽ tôi sẽ không bao giờ nói chuyện với chồng cũ của mình nữa – có thể có một tầng bậc nào đó ở đấy chúng tôi có thể tương thông? Tầng bậc nào đó ở đấy chúng tôi có thể tha thứ?

…Vẫn tham thiền, tôi nhìn hai linh hồn xanh lạnh này đi vòng quanh nhau, hợp nhất, lại tách ra và xem xét độ hoàn hảo cũng như tương đồng của nhau. Họ biết tất cả. Họ đã biết tất cả mọi điều từ rất lâu từ trước và họ sẽ luôn biết mọi thứ. Họ không cần phải tha thứ cho nhau; họ sinh ra đã tha thứ cho nhau.

…Cho phép tôi nói rõ – không phải là tôi sẽ không bao giờ nghĩ về chồng cũ của mình nữa, hay không bao giờ có cảm xúc nào gắn liền với ký ức về anh ấy. Chỉ là cái nghi thức trên mái nhà này cuối cùng đã cho tôi một nơi để tôi có thể đón tiếp những ý nghĩ và cảm xúc mỗi khi chúng trỗi dậy sau này – chúng sẽ luôn trỗi dậy. Nhưng mỗi khi chúng xuất hiện trở lại, tôi có thể chỉ cần gửi trả chúng về đây, về mái nhà ký ức này, trả lại cho hai linh hồn xanh lạnh đó chăm nom, những người đã và luôn luôn hiểu mọi điều.

Điều mà hầu như ai cũng nghĩ đến khi đọc cuốn sách này của Liz là: làm sao mình lại có thể có những một năm đi du lịch vòng quanh thế giới, đến nơi mà mình muốn, mỗi nơi sống vài tháng, để mà tận hưởng đồ ăn ngon, học cách cầu nguyện, rồi lại còn – giả dụ như – học được cách yêu thêm lần nữa mà không phải lo lắng gì đến chuyện tiền bạc, con cái, công việc, và trăm ngàn thứ khác như cái chị này? Hiển nhiên là ai cũng có những điều kiện và hạn chế khác nhau, nên có lẽ nếu cứ chết tắc ở câu hỏi đó thì việc đọc cuốn sách này sẽ giảm hiệu quả đi đáng kể. Có lẽ thay vì việc cảm thấy bất lực vì không thể là Liz thì mỗi độc giả có thể tự hỏi mình xem mình có thể học được gì từ câu chuyện của Liz. Hãy nhớ rằng chị ấy chỉ có thể sống cuộc đời của chị ấy và kể lại nó chứ không phải chủ ý viết cuốn sách này để đưa ra lời khuyên gì cho ai cả. Hy vọng là đọc xong cuốn sách này một số người đọc ít nhất cũng bắt đầu quan tâm nghiêm túc hơn đến việc học cách đối diện chân thành với nội tâm của chính mình.

Ta có một quyết định to lớn trọng đại nào đó về điều ta cần phải làm, hay ta phải là ai, và rồi các tình huống nảy sinh sẽ ngay lập tức hé lộ cho ta thấy là ta hiểu biết quá ít về mình ra sao. Tôi không biết Swamiji đã nói điều đó bao nhiêu lần trong đời mình, và tôi không biết [Guru] mình đã lặp lại không biết bao nhiêu lần nữa điều đó từ khi ông chết, nhưng dường như tôi vẫn chưa hấp thụ được hoàn toàn chân lý trong phát biểu kiên trì nhất của họ:

“Thượng Đế ngự trị trong ta, cũng như ta.”

Nhân tiện, tôi không thích cách dịch “Guru” thành “Sư phụ” trong cuốn sách bản tiếng Việt này (© 2009 Nhã Nam), vì theo như giải thích ở trang 208-209 thì “[t]rong tiếng Phạn, từ [Guru] bao gồm hai âm tiết. Âm tiết đầu nghĩa là ‘sự tối tăm’, âm tiết thứ hai là ‘ánh sáng’. Ra khỏi bóng tối và bước vào ánh sáng”. Đối với tôi từ “sư phụ” gốc Tàu này mang tính phân biệt giới tính và không thể hiện được ý nghĩa của từ “guru” như giải thích ở trên, trong khi từ này cũng đã tương đối phổ biến và được giữ nguyên trong nhiều ngôn ngữ khác, tốt nhất ta cũng nên để nguyên thế mà xài.

8 Comments

Filed under Du ký

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P3)

Yêu

Khác với hai câu chuyện về ăn và cầu nguyện, câu chuyện tình yêu của Liz thực ra nằm xuyên suốt trong toàn bộ cuốn sách. Câu chuyện ấy không chỉ là câu chuyện tìm thấy một tình yêu mới ở cuối cuộc hành trình mà, có lẽ còn quan trọng hơn, là câu chuyện đi qua những đau khổ của một cuộc hôn nhân tan vỡ và của cả một mối tình điên cuồng chóng vánh sau đó. Ví dụ, phần đầu của cuốn sách Liz đã viết khá nhiều về cuộc hôn nhân đổ vỡ và vụ ly dị kinh hoàng mà chị phải trải qua, mà tôi đã viết ở phần Trầm cảm trước khi ăn ở post trước. Từ những kinh nghiệm đó, Liz đã tự nhìn nhận lại bản thân mình như sau:

Hơn nữa, tôi có vấn đề về ranh giới với đàn ông. Hay có lẽ nói vậy không hợp lý. Để có vấn đề về ranh giới, đầu tiên người ta phải ranh giới, đúng không? Nhưng tôi tan biến vào người tôi yêu. Tôi là một màng thấm. Nếu tôi yêu anh, anh có thể có tất cả. …tất cả mọi thứ. Nếu tôi yêu anh, tôi sẽ mang giùm anh tất cả đớn đau của anh, tôi sẽ gánh tất cả nợ nần giùm anh (trong mọi nghĩa của từ này), tôi sẽ che chở anh khỏi bất an của chính anh, tôi sẽ phóng chiếu lên anh tất cả những phẩm chất tốt đẹp anh chưa từng thực sự vun trồng trong anh và tôi sẽ mua quà Giáng Sinh cho cả gia đình anh. Tôi sẽ cho anh cả nắng và mưa, và nếu không được, tôi sẽ xin khất lại lần sau. Tôi sẽ cho anh tất cả những thứ này và còn nhiều nữa, cho đến khi tôi trở nên kiệt sức và suy yếu đến nỗi cách duy nhất để nạp lại năng lượng là mê đắm một người khác.

Tôi không nói những thực tế về bản thân này với niềm tự hào, nhưng luôn là vậy đấy.

Sang đến phần hai của cuốn sách, Liz hiển nhiên lại phải viết về những mối quan hệ đổ vỡ của cuộc đời chị vì xét cho cùng đó là nguyên nhân chính đã khiến cuộc sống của chị trở nên tồi tệ, là vấn đề chính mà công việc thiền tập và cầu nguyện của chị đang hướng tới để giải quyết. Dĩ nhiên, ẩn dưới những vấn đề bề nổi ấy là những vấn đề sâu hơn về bản thể, về sự kết nối và mất kết nối với nội tâm của chính mình.

Nhưng thiền tập và cầu nguyện không phải là điều duy nhất giúp Liz hàn gắn lại được tâm hồn tan vỡ của mình. Một người bạn chị gặp ở Ashram tu thiền của chị ở Ấn Độ đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc giúp chị dần dần tháo gỡ và cởi bỏ những gì còn đang rối loạn và không rõ ràng ở trong lòng chị. Người bạn ấy chính là Richard đến từ Texas. Đó có lẽ là người quan trọng nhất trong số những người mà Liz gặp. Anh mang đến cho Liz những cách nhìn mới về những chuyện đã qua của chị cũng như về chính bản thân chị. Thật ra thì những gì mà anh nhận xét cũng không hẳn là đúng, nhưng thôi ít nhất chúng cũng làm cho Liz phải bứt ra khỏi những suy nghĩ lối mòn đã dẫn chị tới bế tắc.

“…Nên nhả nó ra đi.”

“Nhưng tôi yêu anh ta.”

“Vậy yêu anh ta đi.”

“Nhưng tôi nhớ anh ta.”

“Vậy nhớ anh ta đi. Gửi đến anh ta ít tình yêu và ánh sáng mỗi khi cô nghĩ về anh ta, và rồi quên nó đi. Cô chỉ ngại buông những mẩu David cuối cùng ra vì rồi cô sẽ thật sự cô đơn, và Liz Gilbert sợ muốn chết chuyện sẽ xảy ra nếu cô thực sự cô đơn.”

Rồi tôi hỏi Richard, “Vậy bao lâu thì tất cả những buồn đau này mới qua đi?”

“Cô muốn một ngày cụ thể à?”

“Đúng vậy.”

“Thứ gì đó để cô khoanh tròn trong lịch sao?”

“Đúng.”

“Để tôi nói với cô điều này, Hàng Tạp Hóa – cô có một số vấn đề nghiêm trọng về kiểm soát.”

Nhiều khi tôi cảm thấy Liz như cố ép mình phải thoát ra khỏi những khổ đau mà chị phải chịu đựng. Một mặt nào đó, điều này là hiển nhiên vì chẳng ai lại thích sống trong đau khổ cả. Nhưng mặt khác, tôi vẫn luôn nghĩ rằng thời gian có những giá trị nhất định của nó mà không gì thay thế được. Dục tốc thì bất đạt. Richard đến từ Texas cũng nghĩ như tôi.

“Và tệ nhất là, tôi không thể thôi ám ảnh về David. Tôi tưởng mọi chuyện đã xong xuôi rồi, nhưng giờ tất cả lại trỗi dậy.”

Anh nói, “Cho nó thêm sáu tháng nữa, cô sẽ cảm thấy khá hơn.”

“Nhưng tôi đã cho nó mười hai tháng rồi, Richard.”

“Vậy thì thêm sáu tháng nữa. Cứ quẳng cho nó thêm sáu tháng nữa cho đến khi nó cút ra chỗ khác. Mấy chuyện như vậy cần có thời gian.”

Dù sao thì cuối cuộc hành trình Liz đã có được tình yêu lý tưởng ở Bali (đến thời điểm này thì họ đã kết hôn và vẫn sống với nhau). Tôi cũng chẳng biết là câu chuyện trên thực tế có lý tưởng như là Liz đã viết ra hay không, chỉ biết là với những câu chuyện lý tưởng như vậy thì tôi chẳng có gì để mà bình luận cả.

Một cái kết đẹp cho Liz nhưng lại làm cho không ít độc giả – và cả các nhà phê bình – phải đặt ra một câu hỏi là, nếu như Liz không may mắn mà có được một cái kết đẹp như vậy thì liệu những quá trình tìm lại bản thân mình trước đó có thực sự có ý nghĩa không? Dĩ nhiên là nó có những ý nghĩa nhất định, nhưng khi ấy tôi nghĩ cô ấy sẽ kết lại câu chuyện một năm phiêu lưu của mình không thể hấp dẫn như là câu chuyện thực tế mà cô đã trải qua, và khi ấy, chưa chắc đã ai thèm đoái hoài đến cuốn sách của cô :D. (Thật ra thì đọc về chuyện khủng hoảng tình cảm của Liz cũng hữu ích phần nào cho các độc giả, tôi cho là vậy)

Thôi, dù sao Liz cũng có được cái kết đẹp. Còn với những độc giả (nữ) đang hoang mang của Liz, tôi xin giới thiệu một bộ phim để các bạn được trải nghiệm một hành trình tương tự với một cái kết hơi khác: Under the Tuscan Sun.

Leave a comment

Filed under Du ký

Ăn, Cầu nguyện, Yêu (P1)

Ăn, Cầu nguyện, Yêu. Thiên Nga dịch từ bản tiếng Anh © 2006, Elizabeth Gilbert. Bản quyền bản tiếng Việt © Công ty Nhã Nam, 2009.

Tôi thích đọc các cuốn hồi ký vì chúng dẫn tôi vào thế giới nội tâm “bí mật” của những người khác, nhưng tôi thường tránh xa các cuốn du ký đơn thuần vì tôi nghĩ trải nghiệm của mỗi người với cùng một chốn là rất khác nhau. Trải nghiệm của những người khác về một vùng đất mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới thì tôi lại càng không quan tâm. Thực ra các cuốn du ký đơn thuần cũng là một dạng hồi ký, vì xét cho cùng chúng cũng không phải chỉ nói về các vùng đất mà nói về các trải nghiệm khác, nhưng tôi vẫn hơi định kiến với dạng sách này. Một dạng định kiến cá nhân chứ không phải tôi có ý muốn nói rằng sách du ký là không đáng đọc.

Ăn, Cầu nguyện, Yêu là một cái tựa hay vì nó thu hút sự chú ý của người ta vào linh hồn của những câu chuyện chứ không phải là vào tính chất du hành của chuyến hành trình (vì đã gạt tên địa danh ra khỏi cái tựa, không phải như kiểu Anh chồng Stockholm, người tình Paris, và cậu bạn thân Bangkok, ngoài ra cũng không có những từ như con đường, hành trình, đi… – all of these words really turn me off). Có lẽ vì vậy mà tôi đã mua và đã đọc quyển này (là tôi đoán vậy chứ cũng không nhớ ấn tượng khi nhìn thấy nó lần đầu ở hiệu sách ra sao). Đọc nó lần đầu, tôi thích, nhưng không nghĩ đến chuyện sẽ đọc lại. Thế nhưng giữa những ngày hay nghĩ ngợi về chính bản thân mình, tôi đã đọc nó lần thứ hai.

Trầm cảm trước khi Ăn

Khi lần đầu tiên đọc quyển sách này, “trầm cảm” với tôi còn là một khái niệm xa lạ, có lẽ chỉ tương đương với “quá buồn”. Tôi đã quên hoàn toàn về chứng trầm cảm của Liz. Tôi chỉ nhớ đại khái là chị có một cuộc hôn nhân khiến chị thấy mệt mỏi và cũng mãi mới thoát được khỏi nó. Nhưng ngày ấy tôi không cảm nhận được nhiều lắm về việc tại sao người ta lại có thể trở nên mệt mỏi với một cuộc hôn nhân như thế, lại càng không hiểu tại sao ly dị lại có thể là một việc khó khăn. Đúng là có những cuốn sách khi ba mươi tuổi đọc sẽ thấy hiểu hơn khi hai mươi tuổi.

“Tôi cũng sẽ không thảo luận ở đây tất cả những lý do tại sao tôi vẫn đã rất muốn là vợ anh, hay tại sao tôi yêu anh, tại sao lại cưới anh và tại sao không thể hình dung nổi một cuộc sống thiếu anh. Tôi sẽ không thổ lộ bất kỳ điều gì hết. Hãy cứ biết là, vào đêm đó, anh ấy vẫn là ngọn hải đăng và cũng là con chim hải âu lớn của tôi. Điều duy nhất khó nghĩ hơn ra đi là ở lại; điều duy nhất bất khả hơn ở lại là ra đi. Tôi không muốn phá hoại bất kỳ điều gì hay bất kỳ ai. Tôi chỉ muốn lẳng lặng lẻn ra cửa sau, không làm ầm ĩ hay gây ra một hậu quả nào, và rồi chạy một mạch tới khi đến được Greenland.”

Tôi có nhớ chuyện chị đã khóc trong nhà tắm những năm về trước đó nhưng lại không mảy may nhớ gì về một phần nguyên nhân đã làm chị khóc – chuyện chị khi đã đến cái mốc ba mươi tuổi “thần thánh” và phát hiện ra là mình hoàn toàn không muốn có con. Không chỉ là không muốn mà là “khiếp đảm cực độ”, nguyên văn lời của chị đã được dịch lại.

“Chừng nào mình chưa thể cảm thấy sướng rơn [khi nghĩ] về chuyện có con như mình đã cảm thấy [khi nghĩ] về chuyến đi đến New Zealand tìm loài mực to [đùng] thì mình chưa thể có con được.”

(Những chỗ trong ngoặc vuông là tôi tự thêm vào hoặc sửa lại so với bản dịch gốc cho rõ nghĩa và chính xác hơn theo ý tôi. Các trích dẫn sau này cũng vậy.)

Nhưng khi Liz cơ bản kết thúc câu chuyện trầm cảm của mình trên những trang sách – trong khoảng 100 trang đầu – tôi cảm thấy tốc độ của câu chuyện là quá nhanh. Tôi bắt đầu cảm thấy những dòng chảy trên những trang viết như một dòng nước thiếu chiều sâu, mặc dù chính tôi khi bắt đầu đọc lại đã rất say sưa đi theo những gì chị viết. Bản thân Liz là một người say sưa sống – “tôi đã hăng hái tham gia vào mỗi phút giây tạo nên cuộc sống này” – một điều có thể truyền cảm hứng tới cho người khác. Nhưng mặt trái của nó, theo tôi, là những người như vậy khi đau khổ cũng sẽ rất “say sưa” – “Hãy hình dung anh ấy ngạc nhiên ra sao khi khám phá ra rằng người phụ nữ hạnh phúc nhất, tự tin nhất anh từng gặp đã thật sự – khi ta để cô ấy một mình – là một lỗ hổng âm u của sầu muộn thăm thẳm.

Trên thực tế, sau 100 trang đầu tôi đã gấp sách lại và nghĩ rằng có lẽ mình không cần phải đọc lại tiếp nữa. Nhưng rồi những ngày sau đó, tôi lại cảm thấy mình muốn đọc lại phần Cầu nguyện. Bởi vì thực ra câu chuyện trầm cảm của Liz mới chỉ tạm lắng xuống ở đoạn tôi đã dừng lại chứ toàn bộ cuộc hành trình này mới thực sự là cả một hành trình vượt qua trầm cảm của Liz. Có lẽ cảm giác không thích của tôi là do cách chị ấy viết – hay mô tả quá nhiều thứ lên – và một số độc giả khác có thể cũng không thích điều này. Nhưng trước khi nói về Cầu nguyện, tôi nói một chút về chuyện Ăn của Liz.

Ăn

Khi Liz tóm gọn lại câu chuyện về trải nghiệm của chị ở Ý bằng một từ “ăn” thì có vẻ như chị ấy muốn chọn câu chuyện về ẩm thực Ý để đại diện cho quá trình tự hàn gắn lại một cái tôi vừa trải qua nhiều tổn thương – nói theo tiếng Anh sẽ là putting herself together. Nhưng thật ra Liz đã “ăn” hai thứ: đồ ăn Ý và tiếng Ý – thứ ngôn ngữ mà theo chị là “đẹp hơn cả hoa hồng” – và quả thực chị đã chèn tiếng Ý vào khắp nơi khắp chốn.

Tôi nhận ra rằng tất cả những gì mình thật sự muốn là ăn những món ăn đẹp mắt và nói càng nhiều tiếng Ý đẹp đẽ càng tốt.

…Cuối cùng, khi đã hấp thụ đủ đầy vẻ xinh tươi của bữa ăn rồi, tôi đến ngồi trong một khoảng nắng trên sàn gỗ sạch sẽ của mình và bốc ăn hết sạch trong lúc đọc bài trên [một tờ nhật báo] tiếng Ý. Hạnh phúc đang ở trong từng phân tử của tôi.

Nhưng hai thứ ấy cũng chỉ là một phần trong cái đời sống văn hóa buông thả mà Liz đã hòa mình vào đó.

Tuy nhiên, nói chung, người Mỹ không có khả năng thả lỏng mình trong những thú vui thuần túy. Người Mỹ chúng tôi là một dân tộc mưu cầu giải trí, nhưng không hẳn là một dân tộc tìm kiếm thú vui. Người Mỹ chi bạc tỷ để mua vui bằng tất cả từ sách báo khiêu dâm đến công viên giải trí đến chiến tranh, nhưng điều đó không đúng hoàn toàn là thưởng thức sự yên tĩnh. Người Mỹ ngày càng làm nhiều giờ cật lực hơn, dài hơn và căng thẳng hơn bất kỳ ai trên thế giới ngày nay. Nhưng như Luca Spaghetti chỉ ra, dường như chúng tôi thích vậy. Người Mỹ thật sự không biết làm sao để không làm gì cả. …được nghỉ phép nhưng không thể thư giãn.

Một lần tôi hỏi Luca Spaghetti người Ý đi nghỉ có gặp vấn đề đó không. Anh cười dữ đến nỗi gần như đâm xe vào một đài phun nước.

“Ồ không!” anh nói. “Chúng tôi là những bậc thầy của bel far niente.”

Đây là một thành ngữ ngọt ngào. Bel far niente [nghĩa] là “cái đẹp của [việc] không làm gì cả”.

Dĩ nhiên, cái gì cũng có giá của nó. Với một nền văn hóa điên rồ như Ý thì đất nước cũng khá hỗn loạn. Ở cuối phần này Liz viết về điều đó. Và tôi cũng chỉ muốn bổ sung thêm là một số ít người Ý mà tôi biết chẳng có ai là không dramatic cả :D.

Nhìn chung về hành trình cá nhân thì tôi nghĩ tôi thích phần viết về trải nghiệm của Liz ở nước Ý nhất vì nó có đủ mọi thứ, từ trầm cảm cho đến hoang mang cho đến khám phá và cuối cùng là hàn gắn. (Có một ít chi tiết trong phần này liên quan nhiều hơn đến chữ Yêu mà Liz lấy làm tựa cho phần thứ ba, nên tôi sẽ đề cập ở phần đó sau.)

Cuộc sống của tôi đã tan thành từng mảnh và tôi không thể nhận ra chính mình nữa… Nhưng tôi đã cảm nhận một tia hạnh phúc lấp lánh khi bắt đầu học tiếng Ý, và khi cảm thấy niềm hạnh phúc tiềm tàng mong manh sau những giai đoạn âm u như thế, ta phải bám chặt lấy mắt cá chân của nó và không buông ra cho đến khi nó kéo ta ngẩng mặt lên khỏi cát bụi…

1 Comment

Filed under Du ký

1Q84

Tôi đọc ba cuốn 1Q84 (bản tiếng Việt) cũng khá cách quãng, tuy nhiên khi gần đây lật lại cả ba cuốn để chuẩn bị viết bài review này, tôi vẫn muốn bảo lưu cảm nhận của mình khi đọc xong bộ này, ấy là thất vọng. Nhưng tôi lại cảm thấy có nhiều điều đáng nói xung quanh sự thất vọng này.

Nhìn chung, tôi cho rằng đây là một thất bại của Murakami. Trước hết, hai nhân vật chính rất mờ nhạt. Không biết họ có phải là nguồn cảm hứng để sau này ông nghĩ ra cái nhãn “không màu” cho nhân vật chính của một cuốn sách khác của mình hay không nữa. Hai nhân vật chính ngoài chút tài năng ra tôi không thấy họ có gì đặc biệt đáng chú ý cả. Vậy hãy đọc chính Murakami viết gì về tài năng trong chính cuốn sách “không màu” của ông mà tôi cảm thấy như là khi đó ông đang review chính hai nhân vật trong 1Q84 của mình vậy:

“À, tài năng ấy à, nó đôi khi rất dễ chịu. …Nhưng cậu Haida này, tài năng chỉ phát huy vai trò khi được nâng đỡ bởi sự tập trung mạnh mẽ, dẻo dai của thể xác và ý thức mà thôi. Chỉ cần một con vít nằm đâu đó trong óc rơi ra, hoặc một mạch nối nào đó trong cơ thể đứt cái phựt, thì sức tập trung hoặc bất cứ thứ gì cũng sẽ tiêu biến như làn sương sớm. …Thể xác con người yếu đuối như vậy đấy. Nó là một hệ thống có cấu tạo phức tạp và tinh vi khủng khiếp, nên hỏng hóc là chuyện thường. Và trong phần lớn các trường hợp, một khi đã hỏng hóc thì khó lòng mà khôi phục được. Sâu răng hay mỏi vai có lẽ vẫn còn chữa được, chứ có nhiều thứ khác không chữa nổi đâu. Được xây dựng trên một nền móng bất trắc và thiếu tin cậy như thế thì thử hỏi tài năng có ý nghĩa đến mức độ nào?”

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương

Hình như đây là lần đầu Murakami đẩy nhân vật nữ chính lên một tầm mới, trở thành một nhân vật chính thực sự chứ không chỉ còn là một “phương tiện” để cho nhân vật nam chính thực hiện các chuyến hành trình tìm kiếm chính mình (nguyên văn ông dùng “medium” ở bài phỏng vấn siêu dài này). Nhưng cô nhân vật nữ chính này chẳng qua chỉ là một bản sao phiên bản nữ của nhân vật nam chính – tính cách khá tương đồng – chỉ thêm một ít gia vị để người đọc biết rằng đó là phụ nữ thôi. Tôi thì thấy nhạt nên không để ý lắm, nhưng một nhà phê bình đã phê phán việc Murakami đã xây dựng một nhân vật nữ chính quá ám ảnh về bộ ngực của mình như là để thể hiện sự nữ tính của nhân vật. Bài viết khá dài, moi móc ra từng đoạn Murakami đã mô tả sự ám ảnh ấy như thế nào, xem thêm ở đây.

Còn về tình yêu của hai nhân vật này, không rõ có ai thấy cảm động không mà tôi chả có cảm xúc tẹo nào hết trơn!? Hai cô cậu cô đơn cầm tay nhau năm mười tuổi để rồi chỉ vì vậy mà sau này sống chết cũng phải tìm nhau cho bằng được – tôi không cảm thấy thuyết phục lắm.

Về nhân vật nam chính, một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời cậu này là mối quan hệ với người cha, nhưng tôi cảm thấy Murakami như copy lại câu chuyện cha con của Paul Auster nên không có gì đáng nói cả, mà thực ra cũng không hay bằng câu chuyện của Auster. Ai chưa biết câu chuyện cha con của Auster có thể đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace của bác này (cuốn sau cũng là tiếng Việt).

Nhân vật phản diện Ushikawa thực ra cũng chỉ là một bản sao méo mó của hai nhân vật chính – y cũng có tài năng riêng, và cũng có ý chí sắt đá và lối sống kỷ luật, như rất nhiều nhân vật chính khác trong những cuốn sách khác của Murakami. Rất có thể đây là dụng ý của Murakami, nhưng tôi cho là việc mô tả một nhân vật phản diện có bề ngoài xấu xí đến dị thường và khó ưa là một lối xây dựng nhân vật rất chán. Khi đọc những phần về nhân vật này, tôi có cảm giác như Murakami dựa khá nhiều vào những hiểu biết của ông về những thành viên giáo phái Aum – được mô tả hay và kỹ hơn nhiều trong cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Ví dụ trong cuốn ấy, ông có viết những đoạn mà tìm đỏ mắt trong 1Q84 cũng không thấy có gì hay được bằng, chứ đừng nói là hay hơn những gì ông đã viết ra cách đây nhiều năm:

Nó [Aum] cho chúng ta thấy một hình ảnh của chính chúng ta bị bóp méo theo cách thức mà không ai trong chúng ta có thể lường tới trước. …trên thực tế, những lần chạm trán có thể đánh thức mạnh mẽ nỗi ác cảm hay ghê sợ thường lại là hình ảnh phóng chiếu của chính các lỗi lầm và nhược điểm của chúng ta. …trong sự tồn tại của họ, chắc chắn phải có gì đó cũng có trong chúng ta… Hay đúng hơn, “bọn chúng” là tấm gương phản chiếu của “chúng ta”!

Tương tự như Ushikawa, giáo phái trong 1Q84 hẳn cũng là một sự hư cấu của Aum. Aum trên thực tế được thành lập vào năm 1984. Tôi không thực sự hiểu câu chuyện về cái năm 1Q84 này và sự trốn thoát của hai nhân vật chính khỏi không gian này để trở về “không gian thực” (1984?). Có lẽ Murakami muốn ước rằng giáo phái ấy đã chỉ tồn tại trong một không gian ảo là 1Q84, để cho giáo chủ bị giết và hệ thống còn lại không có cách nào để tự tái tạo lại được? Dù sao thì câu chuyện quá dài và quá thiếu hấp dẫn nên chắc tôi không thể đọc lại để mà theo đuổi câu hỏi này được.

Nhìn chung, tôi thấy đây là một tác phẩm tham vọng của Murakami nhưng ông đã chưa phát triển được cho chín các ý tưởng của mình. Mà với một người kỷ luật như ông thì chắc là khi đến hẹn với các nhà xuất bản thì kiểu gì ông cũng phải kết thúc câu chuyện mà xuất bản nó ra – cái này tôi đoán mò thôi.

Dù sao thì cá nhân tôi là một người đọc Murakami cũng kha khá lại cảm thấy thú vị trước 1Q84 ở chỗ Murakami đã bò ra khỏi vùng an toàn (comfort zone) của ông để thử nghiệm, nên dù ông có thất bại tôi vẫn thích hơn là nhìn thấy ông cứ quanh quẩn với những câu chuyện và những nhân vật quen thuộc. Không biết liệu sau này ông có dám tiếp tục thử nghiệm nữa không, vì cuốn “không màu” ra sau bộ 1Q84 đã lại thấy ông rút về vùng an toàn rồi.

Một lần, tôi nói với một bạn độc giả của Murakami chưa đọc cuốn này là nếu muốn bạn ấy có thể bỏ qua vì cuốn này dài mà chán, nhưng giờ tôi lại nghĩ lại. Tôi nghĩ là đây là một phép thử rất hay với những độc giả thường xuyên của Murakami – những người đã quen với thành công của ông giờ sẽ nhìn nhận thất bại này của ông như thế nào? Họ sẽ muốn ông tiếp tục thử nghiệm và chấp nhận thất bại hay muốn ông quay về vùng an toàn? Hay là họ cũng chẳng quan tâm nữa vì như một số độc giả nói, họ đang falling out of love với ông rồi?

Tôi cũng tạm chia tay Murakami từ đây, không phải vì bộ 1Q84 này mà vì tôi đã hẹn hò ông này quá lâu rồi và giờ thì muốn dành thời gian đi hẹn hò những người khác. Tương lai có quay lại với Murakami hay không thì tôi phó mặc cho duyên số. 🙂

10 Comments

Filed under Tiểu thuyết