Tag Archives: NXB Hội Nhà Văn

Con đường Hồi giáo

Cuốn sách thứ hai trong series “Lên đường với trái tim trần trụi” của tác giả Nguyễn Phương Mai, do Nhã Nam & NXB Hội nhà văn phát hành năm 2016.

“Con đường Hồi giáo theo chân các chiến binh Ả Rập xuất phát từ Mecca tỏa ra hai hướng Á Âu. Cánh cung sang phía Tây… là quãng đường tôi đã vượt qua trong năm 2012 sau Mùa xuân Ả Rập.”

(Chú thích trên tấm bản đồ ở đầu cuốn sách)

Một ý tưởng rất thú vị và lãng mạn đã được tác giả hiện thực hóa thành một chuyến phiêu lưu đáng ngưỡng mộ, dù tôi nghĩ là người đọc có lẽ chỉ có thể hình dung và cảm nhận được một phần nhỏ của chuyến đi ấy trong khuôn khổ 300 trang của cuốn sách.

Tuy nhiên, tác giả chỉ lần theo con đường Hồi giáo ấy một cách cơ học, tức là chỉ đi qua đúng các quốc gia mà các chiến binh Ả Rập ngày xưa đã đi tới. Cuốn sách không nhắc chút gì tới lịch sử của các chuyến chinh phạt hay du cư ngày xưa, thành thử đôi khi tôi cảm thấy cái tựa của cuốn sách như một chiếc áo hơi rộng với nội dung bên trong. Bên trong chỉ là một lát cắt qua khu vực tại thời điểm năm 2012.

Như nhiều cuốn sách du ký khác, cuốn sách này là một sự pha trộn của những dữ kiện sách vở cùng những quan sát và cảm nhận mắt thấy tai nghe của tác giả trong chuyến đi. Tuy nhiên, tôi cho rằng dung lượng thông tin sách vở mà cuốn sách này cung cấp là khá đáng nể với một cuốn sách du ký thông thường. Rồi các thông tin sách vở vốn tương đối khô khan đó được pha trộn khéo léo với những trải nghiệm độc đáo trên đường đi dưới ngòi bút hài hước của một người có thâm niên làm báo cũng như gõ đầu sinh viên. Kết quả là cuốn sách trở nên dễ đọc, hấp dẫn, và giúp mở mang đầu óc.

“Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu [Islam và Islamism]. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.”

(Trích phần “Thưa cùng bạn đọc”)

Thật ra không biết người khác thế nào chứ tôi đọc xong chả mấy mà quên gần hết những thông tin sách vở mà tác giả đưa vào. 😀 Ấn tượng về những trải nghiệm lăn lê trên đường của tác giả thì sâu sắc hơn với tôi. Những chuyện kể mắt thấy tai nghe ấy rất sống động và khiến tôi cảm giác mình có thể mường tượng ra những con người thực ở đó đang sống một cuộc sống bình thường hàng ngày như thế nào. Có lẽ đó chính là lý do vì sao tác giả nhất định phải khăn gói quả mướp lê la cho kỳ được qua ngần ấy nước để xem hiện thực cuộc sống có giống như báo đài ti vi sách vở vẫn nói hay không.

Về tổng thể cuốn sách mang tới cho tôi một cảm nhận chung về sự đa dạng ở Trung Đông nhưng hầu như không có cảm nhận cụ thể về một quốc gia cụ thể nào trong số đó, mặc dù với mỗi một quốc gia tác giả đã chọn lọc và rút ra một vài nét chấm phá đặc sắc về quốc gia đó. Ví dụ đột nhiên bây giờ có ai hỏi tôi vậy cuốn sách ấy viết gì về Yemen, tôi chịu thua liền.

Một chút về lịch sử, một chút về chính trị, nhiều chút về văn hóa và xã hội, đây là một cuốn sách nhập môn về Trung Đông tốt. Và dĩ nhiên, nó cũng thích hợp với những kẻ luôn nghe thấy tiếng gọi của những con đường. 🙂

“Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.

Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.

Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.

Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi.”

Leave a comment

Filed under Du ký

Nhật ký Anne Frank

Trước khi tháng Song Tử qua đi (chỉ còn 10 ngày nữa), nếu có thể bạn hãy đọc một cuốn sách của một tác giả Song Tử: Anne Frank.

Hồi đầu mình có hơi ngại đọc cuốn này vì ai cũng biết nó viết về cuộc sống dưới thời Đức quốc xã, một thời kỳ mà chỉ cần nhắc tới tên mình đã cảm thấy ớn. Mua về là bởi biết nó là cuốn kinh điển nhiều người đọc nên nghĩ là cũng nên đọc. Và rồi thì cũng đọc thật. Thật ra nó là một cuốn sách rất dễ đọc bởi nó là nhật ký của một cô bé 13-14 tuổi và Anne Frank thì kể chuyện rất tài, ban đầu đọc cảm giác giống như đọc tiểu thuyết vậy.

Quả thật là mình nghĩ ở góc độ một người viết tiểu thuyết (hoặc làm phim) thì có lẽ họ thường muốn tạo ra một bối cảnh, một câu chuyện hơi khác thường một chút, để trong đó các nhân vật tự nhiên bộc lộ được hết những tâm tư, tình cảm, và cá tính của họ ra, để rồi đến cuối câu chuyện người đọc (hoặc người xem) cảm nhận được một điều gì đó cho chính mình về nhân tình thế thái. Bối cảnh của câu chuyện có thực này, dù chẳng ai muốn nó xảy ra, có những tính chất “khác thường” kiểu như thế: hai gia đình bình thường đang yên đang lành phải dọn vào sống chung với nhau một cách bí mật, trốn tránh sự tìm bắt của chính quyền phát xít, hàng ngày phải nín thở lắng nghe mọi động tĩnh từ bên ngoài, nương tựa vào sự giúp đỡ của những người bạn Hà Lan tốt bụng, luôn phải đối mặt với khả năng bị phát hiện và bắt vào trại tập trung bất cứ lúc nào xen lẫn với những hy vọng mong manh rằng cuộc sống lẩn trốn bất thường này một ngày nào đó sẽ kết thúc.

Het Achterhuis, tên nguyên bản tiếng Hà Lan của cuốn sách này, muốn nhắc tới phần phụ bí mật của ngôi nhà đã dùng làm nơi ẩn náu của hai gia đình Do Thái từ năm 1942 đến 1944. Achter nghĩa là “đằng sau” hay “ở sau của”, còn huis tiếng Hà Lan nghĩa là “tòa nhà”. Trong những căn nhà cổ của Amsterdam, căn hộ nhìn xuống vườn hay sân sau có thể tách biệt hẳn với phần mặt phố, do đó có thể chia thành hai căn hộ hoàn toàn độc lập trong chung một ngôi nhà. Het Achterhuis – nghĩa đen là “ngôi nhà ở đằng sau”…

Để đơn giản hóa tên gọi bằng tiếng Anh, chúng tôi dịch tên phần này của tòa nhà là Chái nhà bí mật [The Secret Annex], mặc dù đó không phải là một chái nhà theo nghĩa đen của từ này.

(Phần chú thích đầu cuốn sách, theo bản dịch tiếng Việt của Đặng Kim Trâm. Phần trong ngoặc vuông [ ] là chú thích của người viết bài này.)

Trong bối cảnh bất thường đó, cuộc sống bình thường vẫn phải tiếp tục. Mọi người vẫn phải chuẩn bị các bữa ăn, dọn dẹp nhà cửa, người lớn làm việc, trẻ con phải tự học, cùng nghe tin thời sự rồi bàn luận, tổ chức các buổi sinh nhật một cách đơn giản, cho đến việc cùng đối phó khi nhà có trộm hay khi việc nhờ mua lương thực trở nên khó khăn. Những căng thẳng về tinh thần. Va chạm giữa hai gia đình với nhau, giữa bố mẹ và con cái. Chuyện tình cảm nảy sinh giữa Anne Frank và Peter. Tất tật những chuyện đó hiện lên sống động qua ngòi bút của tác giả.

Qua câu chuyện hiện lên trong cuốn nhật ký, mình rất ấn tượng với Otto Frank – cha của Anne Frank và cũng là người duy nhất sống sót trong tám người (ông mất năm 1980), cũng là người đã tìm thấy cuốn nhật ký và cho xuất bản. Điều đầu tiên mà mình ấn tượng là ông dường như là người duy trì nếp đọc sách và tự học cho bản thân mình và hai cô con gái trong hoàn cảnh sống rất éo le đó. Đọc đến những đoạn đó mình không tránh khỏi tự hỏi, nếu mình rơi vào hoàn cảnh ấy liệu có còn tâm trạng để đọc sách nữa hay không. Và dựa trên những gì Anne Frank nhắc tới về việc đọc và học của hai chị em hay Peter, mình cảm thấy quả là gia đình đó từ thời cách đây hơn nửa thế kỷ đã có một nền tảng học vấn và văn hóa thật đáng nể. Dĩ nhiên họ cũng thuộc tầng lớp ưu tú trong xã hội của họ thời bấy giờ, không đại diện cho mặt bằng chung. Nếu bạn nào tò mò giống mình có thể tự tìm đọc thêm các thông tin về dòng họ Frank ấy cũng như về ông Otto Frank nói riêng.

Ngoài ra, qua những suy nghĩ của Anne Frank mười ba tuổi bộc lộ trong cuốn nhật ký, mình nghĩ là cô gái này đã được lớn lên trong một sự giáo dục rất cởi mở của gia đình nên mới có những nhận xét và suy nghĩ rất tự do, phóng khoáng như thế. Không biết có phải do tình cảm của Anne Frank nghiêng về người cha nhiều hơn hay không mà mình cảm giác rằng ảnh hưởng của người cha trong chuyện này cũng đóng vai trò quan trọng. (Dĩ nhiên không phải cha mẹ nào cũng thích con mình tự do “quá trớn”, nhất là ở mấy nước Á Đông ảnh hưởng đậm đà chất Nho Khổng giáo.)

Một điểm ấn tượng nữa của mình về câu chuyện được kể trong cuốn nhật ký là về những người Hà Lan phi Do Thái sống dưới thời Đức quốc xã chiếm đóng đó. Một số lựa chọn trở thành bạn của những người Do Thái, che giấu họ, giúp họ sống trong thời loạn, như những người bạn của hai gia đình được nhắc tới; và dĩ nhiên một số khác lựa chọn con đường sẵn sàng trở thành người chỉ điểm cho quân quốc xã để đổi lấy những món tiền thưởng hay gì gì đó. Đặc biệt ấn tượng là về người bán rau cho người bạn Hà Lan vẫn giúp hai gia đình mua thực phẩm khi ông này nói đại ý rằng ông biết thừa người mua rau của ông đang che giấu một gia đình Do Thái nhưng dĩ nhiên ông chẳng nói ra cho ai biết hết. Bản thân ông cũng đang che giấu cho vài người Do Thái và sau đó bị bắt khi quân quốc xã phát hiện ra.

Nói chung nếu chỉ đọc cuốn nhật ký thì không có gì ảm đạm mấy, vì những gì thật sự ảm đạm xảy ra sau đó. Phần Lời bạt của cuốn sách cung cấp thêm những thông tin để người đọc hiểu thêm về bối cảnh xã hội thời đó cũng như số phận của những người đã sống trong Chái nhà bí mật đó sau khi họ bị phát hiện và bị bắt vào trại tập trung, dựa trên những nghiên cứu và phỏng vấn với các nhân chứng sau này. Trong đó có số phận của chính Anne Frank. Phần này đọc rất xúc động. Nhất là khi những người này đã bị bắt trong những đợt càn quét cuối cùng của quân quốc xã ở Hà Lan, và họ cũng bị giết trong những đợt thảm sát cuối cùng tại các trại tập trung mà họ được đưa đến trước khi các trại này được giải phóng và chính quyền quốc xã sụp đổ.

Một điều mình khá ngạc nhiên là một số bạn, có vẻ như ở các nước phương Tây, phản ứng khá dữ dội về việc cuốn sách này được đưa vào danh mục sách bắt buộc phải đọc trong chương trình lịch sử ở trường. Một số nói là cuốn sách thật ra không nói được nhiều về thời kỳ đó và nó đã được thổi phồng lên quá mức. Dĩ nhiên, những người thích cuốn sách này cũng đã đáp trả khá nhiều về những nhận xét đó.

Cá nhân mình thì cho rằng đây là một cuốn sách sinh động về cuộc sống. Đúng là có thể nó không nói được nhiều về lịch sử, nhưng nó đã khiến bản thân mình cũng như nhiều người khác quan tâm hơn và vì thế mà tự đi tìm hiểu nhiều hơn về cái đoạn lịch sử đáng buồn ấy của nhân loại. Mình nghĩ đó cũng là một khía cạnh rất có giá trị của cuốn sách.

Bản tiếng Việt mình đọc do Đặng Kim Trâm dịch từ nguyên bản tiếng Anh của Bantam Books 1993, NXB Hội nhà văn và Đông A xuất bản năm 2007.

Leave a comment

Filed under Nhật ký

[Ghi chú] Các kiểu tuyển tập truyện ngắn các tác giả được giải Nobel văn học

Năm 1997, NXB Văn học ra cuốn Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không biết có phải là tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của nhiều tác giả được giải Nobel văn học ở Việt Nam hay không. Năm kế đó, tức 1998, NXB này ra tiếp quyển tuyển tập như thế nữa, gọi là tập II, giới thiệu các tác giả khác và/hoặc các tác phẩm khác.

“Để xây dựng tập sách này chúng tôi phải gom góp những truyện ngắn của các tác giả được giải Nobel đã được công bố trên nhiều báo, tạp chí, đã được in trong các sách phát hành trong nhiều năm. Điều kiện đó không cho phép chúng tôi gửi lời xin phép trước tới tất cả các dịch giả có tác phẩm in trong tập sách này. Chúng tôi thành thật cáo lỗi!”

Trích “Lời người tuyển chọn” trong ấn bản năm 1997.

Nhẽ ra nên có một lời đề nghị các dịch giả liên hệ với nhà xuất bản để nhận nhuận bút – tôi đã từng đọc những cuốn sách được in mà “không có điều kiện xin phép các dịch giả” với một lời nhắn như vậy. Từ đó tới nay, là gần chục năm, đã có hơn chục cuốn tuyển tập kiểu như vậy ra đời, nhiều truyện được in đi in lại trong nhiều cuốn khác nhau, chẳng biết các nhà xuất bản đã có điều kiện xin phép các dịch giả chưa.

Dưới đây tôi kê ra những cuốn mà tôi biết, kèm một vài ghi chú. Hơn nửa trong số đó là của NXB Văn học, còn lại thì là vài quyển của NXB Hội nhà văn và một bộ ba tập của NXB Công an nhân dân. Những cuốn mỏng nhất cũng hơn 300 trang, cuốn dày nhất trên 700 trang, hầu hết đều khổ 14,5 x 20,5 cm, cuốn thì bìa cứng cuốn thì bìa mềm.

Nhà xuất bản Văn học

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 1997.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập II, 1998.

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, 2004.

~ Cuốn này giới thiệu 37 truyện của 37 tác giả, nhưng có 2 “truyện” thực ra không phải truyện ngắn mà là trích đoạn của tiểu thuyết (“Tôi mù” trích từ Bệnh mù [Ensaio sobre a cegueira] của José Saramago và “Thế kỷ của tôi” thực ra là “Năm 1991” trong tiểu thuyết Thế kỷ của tôi [Mein Jahrhundert] của Günter Grass).

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel (thêm một số truyện mới), 2006. (Bìa cứng, 622 trang.)

~ Cuốn này cơ bản là tái bản của cuốn năm 2004 kể trên với thêm 5 truyện của 5 tác giả đã giới thiệu trong cuốn cũ (nghĩa là 37 tác giả, 42 truyện). Văn tiếng Việt của các truyện dịch trong cuốn này đọc khá xuôi. Chỉ buồn cười là nội có vài trang mục lục mà đã thấy vài lỗi: viết sai tên tác giả (mục lục sai thế nào thì trong sách sai y thế), không thống nhất giữa việc giữ nguyên tên tác giả (và nhân vật) hay viết theo phiên âm tiếng Việt, ghi thiếu tên dịch giả, thiếu dấu (phẩy hoặc gạch ngang gì đó) giữa tên tác giả và giải thưởng của ổng/bả, và truyện đầu tiên ghi nhầm năm tác giả được giải, 1903 thành 1930. Tóm lại với tôi thế là làm sách ẩu.

Đông Joăng thanh minh: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa cứng, 496 trang.)

~ “Đông Joăng thanh minh” chỉ là một truyện ngắn trong tuyển tập này, được đưa lên làm tít chắc là để câu khách. Cái bìa trông rất rẻ tiền. Và được làm cực ẩu. Mặc dù trên bìa ghi rất to hai chữ “Nobel prize” của The Nobel prize collected best short stories, kèm cả tiếng Việt, Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, nhưng bên trong có cả các tác giả không có giải Nobel (dù cũng được các giải khác). Dòng cuối cùng trên trang bìa – O’Henry, Pen, Malamud… – chắc là để ám chỉ “các giải khác” ấy. (Nhân tiện thì PEN/Malamud là một giải thưởng, nằm trong hệ thống giải PEN, chứ không có giải “Pen” hay giải “Malamud”.) Mục lục nhìn vào đã thấy tên vài nhà văn bị viết sai be bét, truyện không theo thời gian đã đành, truyện của cùng một tác giả cũng chẳng được quần tụ một chỗ. Tóm lại là cuốn này có cho cũng không thèm lấy.

Gái hai chồng: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, O’Henry, Sách quốc gia Mỹ…, 2008. (Bìa cứng, 476 trang.)

~ Tương tự quyển trên, “Gái hai chồng” cũng là một truyện ngắn được đưa lên làm tít câu khách, với cái hình minh họa khêu gợi chả liên quan qué gì đến nội dung truyện này cả. Thật kỳ lạ, NXB năm 2008 đó làm sao mà lại đi xuất bản những hai cuốn từa tựa nhau, số trang cũng same same nhau, cùng là bìa cứng, và cùng mang hai cái bìa vớ vẩn như nhau vậy.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Nhà xuất bản Văn học, 2012. (Bìa cứng, 358 trang.)

Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập 1 & 2, 2004. (Bìa cứng, 574 & 724 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa mềm, 460 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không rõ năm. (Bìa cứng, 556 trang.)

Nhà xuất bản Công an nhân dân

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 3 tập, 2007. (Bìa mềm, mỗi cuốn hơn 300 trang.)

~ Các cuốn còn lại chưa được nhìn sách giấy nên không bình luận gì ngoài việc các bìa hầu hết đều xấu cả. Nếu mục lục các cuốn đúng như trên một số trang web đưa thì tôi thấy có khá nhiều truyện đã được in đi in lại trong nhiều cuốn, như là kiểu xào xáo vậy.

Để kết lại bài này tôi nêu ra vài điểm mình mong muốn ở một cuốn sách dạng tuyển tập:

  1. Cần có một lời giới thiệu rõ ràng từ phía những người làm sách: tại sao chọn các tác giả này? tại sao chọn các tác phẩm này? Nhất là trong bối cảnh không còn là tuyển tập đầu tiên mang tính giới thiệu nữa, thì tuyển tập này đóng góp gì thêm vào “kho tàng” tuyển tập đã có, hay chỉ đơn giản là tiện thì tái bản lại? Tốt nhất cần nói rõ một hoặc một nhóm người lựa chọn các truyện đưa vào tuyển tập này là ai. Ít nhất cũng phải có cái tên cho người ta google xem có đáng tin cậy không, còn lịch sự thì phải giới thiệu vắn tắt luôn về những người ấy.
  2. Cần ghi rõ mỗi truyện được dịch từ ngôn ngữ nào sang, bản quyền của ai, bản quyền tiếng Việt của ai. Nếu được thì viết cả tên truyện nguyên gốc hoặc từ ngôn ngữ được dịch sang, để những độc giả quan tâm có thể tra cứu thêm, nếu muốn.
  3. Nếu truyện đã được dịch và đăng ở đâu đó trước khi được đăng vào tuyển tập này thì cần ghi rõ các nguồn đó.
  4. Viết tên tác giả cho đúng, ít ra cũng phải tôn trọng cái tên người ta một tí. Những tên nào viết theo tiếng của họ khó đọc với độc giả Việt thì thêm phiên âm cách đọc.
  5. Giới thiệu sơ lược về từng tác giả, nếu là tuyển tập của nhiều tác giả.

Một ví dụ về một cuốn tuyển tập được làm cẩn thận như thế là Great stories by Nobel prize winners do Leo Hamalian và Edmond Volpe biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1959, tái bản lần gần nhất năm 2012. (Có thể click vào “look inside” ở đường link đính kèm để nhìn qua các phần Acknowledgements, Preface, và vài dòng giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm ở đầu mỗi truyện.)

Nói chung là tôi thấy tiếc cho các bản dịch truyện tốt mà bị đem in tuyển tập lôm côm. Khi đọc bản in của NXB Văn học năm 2006 tôi cảm thấy các dịch giả đã dịch cẩn thận. Nhẽ ra các cuốn sách đã phải được làm cẩn thận hơn.

Đã đính chính lại thông tin về giải PEN/Malamud so với bản viết đầu.

2 Comments

Filed under Ghi chú

1Q84

Tôi đọc ba cuốn 1Q84 (bản tiếng Việt) cũng khá cách quãng, tuy nhiên khi gần đây lật lại cả ba cuốn để chuẩn bị viết bài review này, tôi vẫn muốn bảo lưu cảm nhận của mình khi đọc xong bộ này, ấy là thất vọng. Nhưng tôi lại cảm thấy có nhiều điều đáng nói xung quanh sự thất vọng này.

Nhìn chung, tôi cho rằng đây là một thất bại của Murakami. Trước hết, hai nhân vật chính rất mờ nhạt. Không biết họ có phải là nguồn cảm hứng để sau này ông nghĩ ra cái nhãn “không màu” cho nhân vật chính của một cuốn sách khác của mình hay không nữa. Hai nhân vật chính ngoài chút tài năng ra tôi không thấy họ có gì đặc biệt đáng chú ý cả. Vậy hãy đọc chính Murakami viết gì về tài năng trong chính cuốn sách “không màu” của ông mà tôi cảm thấy như là khi đó ông đang review chính hai nhân vật trong 1Q84 của mình vậy:

“À, tài năng ấy à, nó đôi khi rất dễ chịu. …Nhưng cậu Haida này, tài năng chỉ phát huy vai trò khi được nâng đỡ bởi sự tập trung mạnh mẽ, dẻo dai của thể xác và ý thức mà thôi. Chỉ cần một con vít nằm đâu đó trong óc rơi ra, hoặc một mạch nối nào đó trong cơ thể đứt cái phựt, thì sức tập trung hoặc bất cứ thứ gì cũng sẽ tiêu biến như làn sương sớm. …Thể xác con người yếu đuối như vậy đấy. Nó là một hệ thống có cấu tạo phức tạp và tinh vi khủng khiếp, nên hỏng hóc là chuyện thường. Và trong phần lớn các trường hợp, một khi đã hỏng hóc thì khó lòng mà khôi phục được. Sâu răng hay mỏi vai có lẽ vẫn còn chữa được, chứ có nhiều thứ khác không chữa nổi đâu. Được xây dựng trên một nền móng bất trắc và thiếu tin cậy như thế thì thử hỏi tài năng có ý nghĩa đến mức độ nào?”

Tazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương

Hình như đây là lần đầu Murakami đẩy nhân vật nữ chính lên một tầm mới, trở thành một nhân vật chính thực sự chứ không chỉ còn là một “phương tiện” để cho nhân vật nam chính thực hiện các chuyến hành trình tìm kiếm chính mình (nguyên văn ông dùng “medium” ở bài phỏng vấn siêu dài này). Nhưng cô nhân vật nữ chính này chẳng qua chỉ là một bản sao phiên bản nữ của nhân vật nam chính – tính cách khá tương đồng – chỉ thêm một ít gia vị để người đọc biết rằng đó là phụ nữ thôi. Tôi thì thấy nhạt nên không để ý lắm, nhưng một nhà phê bình đã phê phán việc Murakami đã xây dựng một nhân vật nữ chính quá ám ảnh về bộ ngực của mình như là để thể hiện sự nữ tính của nhân vật. Bài viết khá dài, moi móc ra từng đoạn Murakami đã mô tả sự ám ảnh ấy như thế nào, xem thêm ở đây.

Còn về tình yêu của hai nhân vật này, không rõ có ai thấy cảm động không mà tôi chả có cảm xúc tẹo nào hết trơn!? Hai cô cậu cô đơn cầm tay nhau năm mười tuổi để rồi chỉ vì vậy mà sau này sống chết cũng phải tìm nhau cho bằng được – tôi không cảm thấy thuyết phục lắm.

Về nhân vật nam chính, một trong những điểm nổi bật trong cuộc đời cậu này là mối quan hệ với người cha, nhưng tôi cảm thấy Murakami như copy lại câu chuyện cha con của Paul Auster nên không có gì đáng nói cả, mà thực ra cũng không hay bằng câu chuyện của Auster. Ai chưa biết câu chuyện cha con của Auster có thể đọc Khởi sinh của cô độcMoon Palace của bác này (cuốn sau cũng là tiếng Việt).

Nhân vật phản diện Ushikawa thực ra cũng chỉ là một bản sao méo mó của hai nhân vật chính – y cũng có tài năng riêng, và cũng có ý chí sắt đá và lối sống kỷ luật, như rất nhiều nhân vật chính khác trong những cuốn sách khác của Murakami. Rất có thể đây là dụng ý của Murakami, nhưng tôi cho là việc mô tả một nhân vật phản diện có bề ngoài xấu xí đến dị thường và khó ưa là một lối xây dựng nhân vật rất chán. Khi đọc những phần về nhân vật này, tôi có cảm giác như Murakami dựa khá nhiều vào những hiểu biết của ông về những thành viên giáo phái Aum – được mô tả hay và kỹ hơn nhiều trong cuốn Ngầm: Thảm kịch sarin và sự trống rỗng giữa lòng thịnh vượng. Ví dụ trong cuốn ấy, ông có viết những đoạn mà tìm đỏ mắt trong 1Q84 cũng không thấy có gì hay được bằng, chứ đừng nói là hay hơn những gì ông đã viết ra cách đây nhiều năm:

Nó [Aum] cho chúng ta thấy một hình ảnh của chính chúng ta bị bóp méo theo cách thức mà không ai trong chúng ta có thể lường tới trước. …trên thực tế, những lần chạm trán có thể đánh thức mạnh mẽ nỗi ác cảm hay ghê sợ thường lại là hình ảnh phóng chiếu của chính các lỗi lầm và nhược điểm của chúng ta. …trong sự tồn tại của họ, chắc chắn phải có gì đó cũng có trong chúng ta… Hay đúng hơn, “bọn chúng” là tấm gương phản chiếu của “chúng ta”!

Tương tự như Ushikawa, giáo phái trong 1Q84 hẳn cũng là một sự hư cấu của Aum. Aum trên thực tế được thành lập vào năm 1984. Tôi không thực sự hiểu câu chuyện về cái năm 1Q84 này và sự trốn thoát của hai nhân vật chính khỏi không gian này để trở về “không gian thực” (1984?). Có lẽ Murakami muốn ước rằng giáo phái ấy đã chỉ tồn tại trong một không gian ảo là 1Q84, để cho giáo chủ bị giết và hệ thống còn lại không có cách nào để tự tái tạo lại được? Dù sao thì câu chuyện quá dài và quá thiếu hấp dẫn nên chắc tôi không thể đọc lại để mà theo đuổi câu hỏi này được.

Nhìn chung, tôi thấy đây là một tác phẩm tham vọng của Murakami nhưng ông đã chưa phát triển được cho chín các ý tưởng của mình. Mà với một người kỷ luật như ông thì chắc là khi đến hẹn với các nhà xuất bản thì kiểu gì ông cũng phải kết thúc câu chuyện mà xuất bản nó ra – cái này tôi đoán mò thôi.

Dù sao thì cá nhân tôi là một người đọc Murakami cũng kha khá lại cảm thấy thú vị trước 1Q84 ở chỗ Murakami đã bò ra khỏi vùng an toàn (comfort zone) của ông để thử nghiệm, nên dù ông có thất bại tôi vẫn thích hơn là nhìn thấy ông cứ quanh quẩn với những câu chuyện và những nhân vật quen thuộc. Không biết liệu sau này ông có dám tiếp tục thử nghiệm nữa không, vì cuốn “không màu” ra sau bộ 1Q84 đã lại thấy ông rút về vùng an toàn rồi.

Một lần, tôi nói với một bạn độc giả của Murakami chưa đọc cuốn này là nếu muốn bạn ấy có thể bỏ qua vì cuốn này dài mà chán, nhưng giờ tôi lại nghĩ lại. Tôi nghĩ là đây là một phép thử rất hay với những độc giả thường xuyên của Murakami – những người đã quen với thành công của ông giờ sẽ nhìn nhận thất bại này của ông như thế nào? Họ sẽ muốn ông tiếp tục thử nghiệm và chấp nhận thất bại hay muốn ông quay về vùng an toàn? Hay là họ cũng chẳng quan tâm nữa vì như một số độc giả nói, họ đang falling out of love với ông rồi?

Tôi cũng tạm chia tay Murakami từ đây, không phải vì bộ 1Q84 này mà vì tôi đã hẹn hò ông này quá lâu rồi và giờ thì muốn dành thời gian đi hẹn hò những người khác. Tương lai có quay lại với Murakami hay không thì tôi phó mặc cho duyên số. 🙂

10 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Rừng Na Uy, lần thứ ba

Entry for 27 December 2010

Lần thứ ba tôi viết về Rừng Na Uy. Có lẽ với tôi nó là cuốn tiểu thuyết nhiều ám ảnh nhất. Cầm sách đọc thì tôi đã đọc Rừng Na Uy chừng ba bốn lần, nhưng tôi “đọc” lại nó rất nhiều lần trong đầu mình. Các chi tiết, các câu thoại, các bức thư, không gian của các cuộc trò chuyện… Mỗi một lần đọc lại “thấy” được nhiều hơn.

Lần thứ nhất đọc, thấy như một người không sành rượu mà uống phải một thứ rượu nặng, ngon nhưng cái chất lỏng ấy đi xuống quá nhanh, đốt cháy bên trong một chút, nhưng chưa thể nói được một cách đầy đủ hương vị của nó như thế nào. Nhân vật ấn tượng nhất là Midori. Phạm trù được nhắc đến trong truyện ấn tượng nhất là cái chết. Cảm giác chung sau khi đọc xong là nhìn cuộc sống tích cực. Ba ấn tượng này là hoàn toàn logic với nhau và hình như là trái với cảm nhận của rất nhiều người.

Thứ nhất, mọi người nhìn cái chết như một cái gì đó buồn thảm. Thực ra cuộc đời đôi khi còn buồn thảm hơn cả cái chết. Trong rất nhiều tôn giáo, cái chết là một sự giải thoát. Khi một ai đó chết đi, cái buồn thực ra ở lại với người còn sống. Chết nhiều khi không khó, sống mới là khó. Hơn nữa, đã là người ai cũng sẽ chết. Một người bạn của tôi nói, mỗi người sinh ra là đã đeo sẵn một cái án tử hình rồi. Nghe thì “ghê” nhưng thực tế cuộc sống là như vậy. Tôi đồng ý với bác Trịnh Lữ, cái chết thực ra là một phần của sự sống. Không có cái chết thì cũng chẳng có sự sống.

Thứ hai, khi đọc Rừng Na Uy nhiều người đi đếm cái chết. Trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết chẳng có ai chết cả. Trong Rừng Na Uy thì có bốn người chết. Lại toàn là người trẻ. Thế là đủ để làm cho người ta kinh hãi. Nhưng chẳng phải Toru và Reiko cuối cùng lựa chọn con đường sống hay sao? Kể cả Naoko, trước khi tự tử không phải là cô ấy đã rất cố gắng để sống hay sao? Tác giả đã cố gắng “cứu” những nhân vật của mình khỏi đau khổ và tuyệt vọng. Ông để một số nhân vật thất bại có lẽ là vì cuộc sống này đâu có đơn giản. Muốn vượt qua nỗi buồn người ta phải nỗ lực. Những gì ông có thể làm là tạo ra một Reiko mạnh mẽ biết tự cứu mình (dĩ nhiên với sự hỗ trợ của Naoko và Toru). Với Toru, ông tạo ra Midori. Midori là một nhân vật sống mãnh liệt. Ít nhất trong truyện cũng không có một lời nào cho thấy cô ấy từng nghĩ đến cái chết, mặc dù cô cũng có những nỗi buồn của riêng mình. “Tớ là một đứa con gái có thực và đang sống, với dòng máu sinh động có thực đang chảy ào ạt trong người.” Bởi thế, Midori thích nói về những gì có thể nhìn thấy, cầm nắm, và cảm nhận được cụ thể bằng giác quan. Khi nào cần, cô ấy hỏi Toru về những thứ trừu tượng hơn. Midori được tạo ra không chỉ để cứu Toru. Cô ấy còn “cứu” cả người đọc. Khó mà có thể không thích nhân vật Midori. Tôi tin là trong vô thức mọi người đều mong có nhiều Midori ở quanh mình.

Cuối cùng, như nhiều khái niệm khác, cái chết chỉ là “phương tiện” để Murakami bắt người đọc phải suy nghĩ. Ông để các nhân vật của mình suy nghĩ về sự sống và cái chết và lựa chọn những giải pháp khác nhau, bởi vậy khi đọc người đọc cũng bị cuốn theo và phải suy nghĩ, trừ những người đơn giản coi việc tự tử của người trẻ là điều mọi người đều cần phải tự thân mà tránh mà không chịu dừng lại vài bước để nghĩ xem vì sao có những người không thể tránh được nó. Cái chết xảy ra trong truyện nhưng đối với tôi nó có thể như một sự giả định. Tôi thích cái cuộc trò chuyện cuối cùng của Toru và Hatsumi, khi Toru đưa cô gái ấy về, họ nói chuyện và uống với nhau một chút. Lời cuối cùng mà Toru nói với Hatsumi ngày hôm đó là “mình thích có một người chị gái như cậu.” Đó cũng là lời cuối cùng mà cậu nói với Hatsumi, vì sau đó họ không gặp lại nhau nữa và cô gái này cuối cùng cũng tự tử. Chẳng ai nói trước được khi nào mình chết hoặc khi nào mình sẽ mất đi một người mà mình yêu quý. Khi Hatsumi còn sống, Toru đã nói được với cô ấy một điều cần nói, và đó là một điều có ý nghĩa trong cuộc sống ngắn ngủi của Hatsumi.

Nói chung tôi không mất nhiều thời gian để “đọc” cái sự chết trong Rừng Na Uy nhưng lại mất nhiều thời gian với những khía cạnh khác của tác phẩm, như các tuyến nhân vật, cái tôi, nỗi buồn, văn hóa, tính đại diện… Gần đây đạo diễn Trần Anh Hùng khi chuyển thể câu truyện này lên màn ảnh có chia sẻ một vài góc nhìn của anh về tác phẩm văn học gốc tôi cho là cũng khá thú vị. Ví dụ như anh nói trong mỗi người phụ nữ đều có cả Naoko và Midori. Quả thực điều này tôi cũng chưa nghĩ đến bao giờ, nhưng nghe cũng khớp với cách xây dựng nhân vật thường thấy của Murakami. Các nhân vật của Murakami thường được xây dựng để phản ánh một nét nào đó của con người thay vì là đại diện cho một cá thể nào đó mà chúng ta vẫn gặp cuộc đời thật, và qua những nhân vật ấy ta có những góc nhìn khác nhau về cuộc đời. Ý này quả thật chưa biết diễn đạt thế nào cho đúng nhưng lấy một ví dụ từ một tác phẩm khác của Murakami là ông già Nakata nói chuyện được với mèo trong Kafka bên bờ biển. Ông Nakata sau một cú sốc đã bị mất hoàn toàn ký ức hồi còn nhỏ và gặp vấn đề về tư duy trí tuệ (nên không hiểu được những gì phức tạp), đổi lại thì ông nói chuyện được với mèo. Một nhân vật như Nakata thì ngoài đời không có, nhưng ta có thể nhìn cuộc đời thông qua đôi mắt Nakata, đơn giản nhưng chân thực đến tận bản chất vấn đề.

Trở lại với Rừng Na Uy và Trần Anh Hùng, tôi cứ suy nghĩ mãi về diễn giải của vị đạo diễn này về Naoko và Midori. Cái cảm giác nhiều nhất về Naoko mà tôi có, thực ra là cô ấy là một bản sao của Toru và luôn luôn là quá khứ của Toru. Toru yêu cô ấy như thương cho chính bản thân mình. Còn Midori tôi nhìn theo một góc hơi khác như đã chia sẻ ở trên. Tôi không nhìn thấy được Naoko và Midori trong bản thân mình và cũng chưa hình dung được sự tồn tại hài hòa của cả hai nhân vật này trong một con người. Về cơ bản tôi thấy mình là Toru Watanabe. Tôi thiên hướng về tư duy trừu tượng hơn là những gì thực thể, nên cũng tương đối vất vả để “sống thực” 😛. Tôi lui vào thế giới của riêng mình nhiều hơn nhưng tôi cũng vẫn cố gắng sống cho “bình thường.” Tôi quan sát cuộc sống và cũng có thể giải thích vài điều kiểu như vì sao lại cần học ngữ pháp tiếng Anh. Tôi cũng hay (một cách vô thức) “bắt cuộc đời phải vừa khít theo cách sống của mình” (Reiko nói về Toru). Nói chung, tôi cố gắng giải thích cuộc đời và cố gắng làm những gì có thể để giải quyết các vấn đề rắc rối, nhưng cũng bởi thế với những nỗi buồn thì chỉ có cách duy nhất là  lặng lẽ đem ra gặm cho hết, bởi vì nỗi buồn chẳng có gì để giải thích nữa. Kêu ca hay chia sẻ không giải quyết được nỗi buồn một cách triệt để, mà chỉ tạo ra một cảm giác đánh lừa nhất thời mà thôi. Tình dục, cách mà Toru, Nagasawa, và các nhân vật khác lựa chọn, cũng chẳng phải là giải pháp cho sự trống rỗng trong lòng. Quay đi quay lại thì chỉ có cách duy nhất là đối diện với nó và đối diện với chính mình.

Thực ra lần đầu tiên đọc tôi không cảm nhận được sâu sắc nỗi buồn của Toru. Tôi đã không hiểu được tại sao trong một bức thư gửi Midori cậu ấy lại viết về “những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của mình.” Tôi đã nghĩ Toru là người biết giải quyết vấn đề, biết cách tự cứu mình, nên những nỗi buồn đã không giết chết cậu ấy. Thực ra sự chết không nhất thiết là một cái chết có thực, mà đôi khi một lúc nào đó một góc trong tâm hồn người ta cũng có thể chết đi. Tôi thích cách Trần Anh Hùng để Toru ngồi trên đỉnh một ngọn núi tuyết giữa một không gian núi đá trắng xóa và gào lên đầy đau khổ. Đó là một cách giải thoát cho Toru. Và có lẽ cũng là giải thoát cho người xem và người đọc của Murakami.

Dù nỗi buồn thấm đẫm trong từng lời văn của Murakami và cá nhân tôi thì càng đọc càng cảm nhận được nỗi buồn ấy một cách rõ nét hơn, các nhân vật của Rừng Na Uy cũng vẫn có một điểm tựa để bám vào cuộc sống, đó là tình yêu, tình bạn, hay là tình cảm nói chung giữa con người với nhau. Đó là điểm mà tôi thích ở các tác phẩm của Murakami. Dịch giả Trịnh Lữ cũng chia sẻ rằng sau khi đọc xong Rừng Na Uy thì cảm thấy muốn nói với những người thân yêu của mình như những gì mà các nhân vật của Rừng Na Uy đã nói với nhau. Còn Trần Anh Hùng thì nói với khán giả Việt Nam là sau khi xem phim xong thì nên nói chuyện với người mình yêu chứ đừng nói chuyện với đạo diễn nữa.

Một người bạn có lần hỏi, các nhân vật của Murakami về một phương diện nào đó đều vô dụng và yếu đuối, nhưng tại sao HA vẫn yêu? Đến giờ tôi vẫn chưa bao giờ trả lời được một cách trọn vẹn câu hỏi ấy cả. Có thể vì bản thân tôi về một phương diện nào đó cũng rất vô dụng và yếu đuối 😀.

Columbus, một ngày mà nỗi buồn lại một lần nữa chạm được tới tôi.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời

Sau khi “giam mình” 3 tuần ở nhiều-nơi-xa-nhà, tôi trở về với những trải nghiệm mới, những tư duy mới và những xáo trộn mới. Những trang viết tự bạch về chuyện đời mình của Garcia Marquez làm tôi nhớ ra cuộc sống còn có cả chất thơ nữa. Dường như đã có lúc tôi quên đi điều đó. Tôi chỉ làm việc, tìm hiểu và đọc sách khoa học. Vậy nên tôi đã nghĩ, về Hà Nội mình phải đi mua một quyển sách văn học để đọc. Với những cảm xúc có được từ Rừng Na Uy vẫn còn vương vất, tôi đã quyết định tiếp tục với Haruki Murakami. Lần này thì là Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời.

Một trăm trang đầu tôi đọc thật vất vả, vì nó là quãng đời gần bốn mươi năm sống nhàn nhạt của nhân vật chính. Và Murakami kiên nhẫn viết một cách nhàn nhạt như thế. Tôi cảm thấy mệt mỏi với những trang viết ấy, có lẽ giống như những gì Hajime cảm thấy với quãng đời đó của mình. Hình như nhờ thế, người đọc hiểu được nhân vật hơn, hiểu bằng trải nghiệm.

Khi Hajime gặp lại Shimamoto-san thì cũng là lúc tôi nhận ra một Murakami mà mình đã đọc. Tôi bắt đầu gấp sách liên tục. (Đây là thói quen của tôi khi đọc sách, để đánh dấu những đoạn hay.)

Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời không mang nhiều màu sắc trẻ trung như Rừng Na Uy, nhưng vẫn đậm chất Murakami, tức là nhạc jazz, là cocktail, là mưa, là cái tôi trong sâu thẳm mỗi con người.

“Nhóm tam tấu vừa chơi xong một bản blues độc đáo, và đàn piano bắt đầu chơi đoạn dạo đầu bản “Star-Crossed Lovers”. Khi tôi có ở quán, người chơi dương cầm thường chơi bản ballad mà tôi rất thích này. Đó không phải là một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của Ellington, và không có kỷ niệm riêng tư nào của tôi đặc biệt gắn kết với nó nhưng, kể từ lần đầu tiên nghe, lúc nào nó cũng làm tôi bị mê hoặc. Khi tôi còn là sinh viên, hay ngay cả sau đó khi đã làm nghề biên tập sách giáo khoa, tối đến, tôi lại đặt đĩa nhạc Such Sweet Thunder của Duke Ellington vào máy và nghe đi nghe lại bản nhạc và bài solo lừng danh của Johnny Hodges, một sự kết hợp tinh tế và khéo léo kỹ thuật. Khi nghe giai điệu đẹp và nhẹ nhàng của nó, tôi luôn nhớ đến giai đoạn đó của đời mình. Không thể nói rằng khi đó tôi hạnh phúc. Thế nhưng, ký ức về thời ấy lại làm tôi thấy ngập tràn tiếc nuối. Tôi trẻ hơn, đói khát hơn, cô độc hơn hiện nay. Nhưng tôi thật sự là mình. Thời đó tận sâu trong tim tôi cảm nhận được từng nốt nhạc mà tôi nghe, từng dòng chữ trong sách mà tôi đọc, như thể chúng đi vào thật sâu trong tôi. Những sợi dây thần kinh của tôi chĩa lên tua tủa như những đầu đinh, mắt tôi tràn ngập một thứ ánh sáng xuyên suốt qua những người trò chuyện với tôi. Và từ đó, mỗi lần nghe bản “Star-Crossed Lovers”, tôi lại nhớ đến cái ánh mắt mà tôi có vào thời đó, như thể đang nhìn hình phản chiếu của mình trong gương.”

Phía Nam biên giới có gì? Phía Tây mặt trời có gì? Trong một cuộc đối thoại ở gần cuối cuốn sách có giải thích về các phrases này, nhưng câu trả lời dành cho mỗi người đọc. Cũng giống như Rừng Na Uy, nhân vật chính trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời cũng phải đi đến tận cùng của cái tôi trong sâu thẳm của chính bản thân mình, bằng tình yêu, tình dục, những mối quan hệ, những thực tại xã hội, sự trống rỗng và sự đau khổ; để cuối cùng rũ bỏ được tất cả những dằn vặt, những gì thuộc về quá khứ, để đi tiếp vào tương lai.

Một câu chuyện khác, một nhân vật khác với tính cách khác, cuộc sống khác, và trong một khung cảnh cũng rất khác nhưng Murakami tiếp tục đào sâu vào mảnh đất của nội tâm con người. Bằng cách đó, người đọc cảm nhận được, dễ dàng hơn, những giá trị mà triết học vẫn luôn cố truyền tải. Và lần này, tôi cảm nhận ngôn ngữ của Murakami (mặc dù chỉ là bản dịch) có phần mềm mại hơn, lãng mạn hơn.

Khi anh nhìn em, đôi khi anh có cảm giác đang ngắm nhìn một ngôi sao rất xa. Một ngôi sao rất sáng, nhưng ánh sáng thực ra đến từ cách đây hàng nghìn năm ánh sáng. Có thể là anh đang ngắm nhìn một thiên thể đã không còn tồn tại vào lúc này nữa, nhưng trong mắt anh nó thực hơn bất kỳ điều gì khác.

Không có những phá cách, những nhân vật gai góc và mạnh mẽ, nhưng Murakami vẫn khắc họa được một cuộc sống có chiều sâu, cuộc sống mà đa số chúng ta không có cơ hội để được nhìn thấy ở người khác (chúng ta chỉ được thấy cuộc-sống-xã-hội của những người khác thông qua những gì họ thể hiện và chia sẻ). Trong cuộc sống xã hội, tức là bề nổi, người ta thường ít biết thông cảm với nhau, vì không hiểu được những gì đằng sau nó.

Nhưng trong cuộc sống xã hội của Hajime, tôi không thể vì cái nội tâm của anh ta mà thông cảm được với những tổn thương mà anh ta gây ra cho những người khác (mặc dù trường hợp của Izumi cũng hơi cường điệu quá.) Dù sao thì, Murakami cũng đã rất khéo léo để Yukiko đóng một vai phụ hợp lý để giải quyết cái nỗi bực tức của tôi. Và bản thân Hajime cũng đã xử sự, trước tội lỗi của mình, không phải quá tồi tệ. Biết đâu, những gì Hajime phạm phải là một thực tế ở đâu đó giữa vô vàn điều trong cuộc sống này mà tôi chưa thực sự hiểu. Nhưng phải khẳng định một điều, đó là một thực tế mà tôi từ chối chấp nhận.

Một cuốn truyện đọc được dành cho những ai thích Murakami. Mặc dù vẫn thích Rừng Na Uy hơn, nhưng phải nói rằng, đọc xong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, tôi biết rằng mình sẽ còn tiếp tục tìm đọc Murakami (cũng giống như với Jack London và Mark Twain ngày trước.) Chỉ tiếc, tôi không nghe nhạc jazz nên có lẽ đã không cảm nhận được hết sự thi vị của tác phẩm.

“Pretend you’re happy when you’re blue

It isn’t very hard to do…”

(“Pretend” – Nat King Cole)

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Lại viết về “Rừng Na Uy”

Trong khi trên giá vẫn còn những quyển sách đã mua mà chưa đọc, hoặc đã đọc mà chưa xong, thì thi thoảng tôi vẫn thấy mình lật giở đọc lại một đoạn trong “Rừng Na Uy”, nhất là khi tôi cảm thấy lúng túng với chính mình và bối rối trước cuộc đời. Cũng có những quyển sách tôi đọc vài ba lần, nhưng trên thực tế, tôi cũng không có đủ thời gian để đọc-lại những gì mình thích. Không-có-thời-gian bao giờ cũng là một lý do tốt để biện hộ. Thực ra thì không phải là không có đủ thời gian, mà là thích-không-đủ!

Cũng giống như nhiều quyển sách khác, nhất là những quyển sách được nhiều người đọc (vì nhiều lý do khác nhau), thì cảm nhận về cùng ngần ấy câu chữ là vô cùng đa dạng. (Ở đây không bàn đến yếu tố ngôn ngữ – tức là bản mà bạn đọc là bản gốc hay bản dịch ra thứ tiếng nào, và trình độ ngôn ngữ của bạn đến đâu.) Vì thế, lần này tôi lại viết tiếp về Rừng Na Uy, với những cảm nhận đi sâu hơn vào cái thế giới mà Murakami đã dựng nên. Hay đúng hơn, là viết về những gì mà cuốn sách (và một số review) đã gợi lên, và buộc tôi phải suy nghĩ.

Rừng Na Uy viết nhiều về cái chết. “Ba người chết, ba người vẫn sống, nhưng tôi không biết cụ thể ai sẽ sống còn ai sẽ chết.” (Murakami, trong một bài trả lời phỏng vấn). Cái chết được đặt cạnh sự sống, để người ta hiểu cái chết hơn; cũng như sự sống được đặt cạnh cái chết, để người ta hiểu sự sống hơn. Nhiều bạn đọc coi cái chết là một sự ảm đạm, bởi vì tự kết liễu đời mình thường được liên hệ đến “cô đơn”, “bế tắc” và “tuyệt vọng”. Nhưng sống và chết làm sao tách rời ra được! Những năm 1990s, tôi tuyên bố với chính mình “Không việc gì phải chết cả, dù cho có rơi vào hoàn cảnh bi đát đến đâu!” Cũng rùng mình khi nhớ đến những mảnh đời bị cuộc sống dồn vào chân tường mà tôi đã đọc được trên rất nhiều trang báo. Năm 22 tuổi, tôi lại xác định: “Chết lúc nào cũng được!” Vì khi thế giới quan được mở ra, tôi tự thấu hiểu được ý nghĩa của những ngày đang sống. Tôi đang sống chứ không chỉ đang tồn tại, vậy là ổn.

Ngày trước nghe U2 hát “I’m not afraid to die. I’m not afraid to live…”, tôi đã thấy hay. Nay đọc Rừng Na Uy, tôi thấy phải.

Cái chết là có thực, nó không phải là đối nghịch của cuộc sống, mà là một phần của cuộc sống.

Nói ra như vậy nghe thật sáo mòn, nhưng đã có thời tôi cảm thấy cái hình hài ấy không phải bằng lời mà như một cục khí vón lại ở trong tôi. Cái chết là có thực – trong một cục chặn giấy, trong bốn trái bóng đỏ và trắng trên mặt bàn bi-a – và chúng ta tiếp tục sống và hít thở nó vào phổi như những làn bụi mịn.

Trước đó, tôi đã hiểu cái chết như một cái gì hoàn toàn tách biệt và độc lập với sự sống. Bàn tay của sự chết nhất định sẽ túm lấy chúng ta, tôi cảm thấy thế, nhưng cho tới ngày nó tìm đến ta, nó vẫn để ta được yên thân. Điều đó dường như là một chân lý đơn giản và hợp logic đối với tôi. Sự sống ở đây, sự chết thì ở kia. Tôi đang còn ở đây, chưa phải ở đó.

Tuy nhiên, đêm hôm Kizuki chết, tôi đã mất khả năng nhìn nhận sự chết (và sự sống) một cách giản dị như vậy. Chết không phải là đối nghịch của sống. Nó đã đang ở đây rồi, ngay bên trong tôi, nó đã luôn luôn ở đây, và không có gì có thể cho phép tôi quên được điều đó. Khi nó lấy đi Kizuki mới mười bảy tuổi đầu trong cái đêm tháng Năm ấy, sự chết đã túm được cả tôi.

Tôi sống qua mùa xuân sau đó, ở tuổi mười tám, với cục khí vón trong ngực mình, nhưng không lúc nào ngưng tranh đấu chống lại sự hồi sinh của thái độ coi trọng mọi sự ở đời. Coi trọng sự đời không phải là cách tiếp cận chân lý, tôi cảm thấy như vậy, cho dù vẫn mơ hồ. Nhưng sự chết là một thực tế, một thực tế nghiêm cẩn, dù ta có nhìn nhận nó kiểu gì đi nữa. Mắc kẹt trong mối mâu thuẫn nghẹt thở ấy, tôi luẩn quẩn trong một vòng tròn vô tận. Bây giờ nhìn lại, những ngày ấy thật lạ lùng. Ở đoạn giữa của cuộc đời, mọi thứ đều xoay quanh sự chết.

Trên bìa sau của cuốn sách có viết thế này, mà tôi chẳng thích tí nào cả:

“Trong nỗi ưu tư và cô đơn như một định mệnh đã cài đặt nơi những người mới lớn, trong sự tuyệt vọng của những tâm hồn trong sáng sẵn sàng hy sinh thân mình để khỏi thỏa hiệp với cuộc sống thế gian.”

Đọc thấy toát lên một sự yếu đuối ẩn dưới một danh từ mĩ miều có tên là sự-cô-đơn. Mà đó thì không phải là những gì tôi cảm thấy khi đọc truyện!

Tôi thích những chia sẻ sau của bác Trịnh Lữ hơn, vì nó thể hiện một sự rung động và đồng cảm chân thực thay vì một sự chắp nối đơn thuần của những từ ngữ bóng bẩy!!! (What if the above writing was also by Trinh Lu ?!?! – My goodness!!!)

Con chim sắp chết, tiếng hót bi thương; con người hấp hối, lời nói chân thành. Tại sao vậy? Chỉ có sự chết mới cứu vãn được loài người khỏi nghiệp chướng dối trá hay chăng? Đọc Rừng Na Uy tôi thấm thía được một chân lý giản đơn, rằng “sự chết không phải là đối nghịch của sự sống, mà là một phần của sự sống”. Sống, tức là nuôi dưỡng. Chết. Sự chết không phải là chấm dứt, cũng chẳng phải là bắt đầu. Nó ở ngay đây rồi, được chính sự sống nuôi dưỡng. Và tôi hiểu được tại sao chỉ những nhân vật trung thực trong trắng và dũng cảm trong Rừng Na Uy mới tự kết liễu cuộc đời mình. Họ còn quá trẻ và không đủ kiên nhẫn để hy vọng cuộc đời này sẽ nuôi dưỡng được một cái chết tự nhiên xứng đáng. (Lời người dịch)

Người ta bảo, những người chết đi vào quá khứ, những người sống đi vào tương lai. Tôi thì thấy rằng, những người chết tiếp tục sống trong một thứ mơ hồ được gọi là ký ức, ký ức của những người còn sống. Thời gian mà họ từng sống đã góp phần hình thành nên hiện tại của những người đang sống. Bằng cách đó, họ ở lại thế giới này.

Toru Watanabe không phải, và thực tế cũng đã không lựa chọn giữa quá khứ và tương lai, hoặc cô gái này hay cô gái kia. Quá khứ tạo nên hiện tại và tương lai. Khi quá khứ đã làm tròn bổn phận của nó, quá khứ sẽ dừng lại. Khi con người đã sống đủ, con người sẽ chết đi. (Điều đó càng dễ dàng hơn trong các cuốn tiểu thuyết!)

Tôi gật đầu. “Và tôi sẽ viết thư cho chị.”

“Tôi rất thích những bức thư của cậu. Naoko đã đốt hết cả. Những bức thư hay đến thế!”

“Thư chỉ là giấy thôi mà chị,” tôi nói. “Cứ đốt chúng đi, và những gì còn lại trong lòng mình thì vẫn còn mãi; mà có giữ chúng thì những gì sẽ phai nhạt rồi cũng sẽ cứ nhạt phai.”

“Cậu biết không, Watanabe, sự thật là tôi thấy sợ phải đi Asahikawa một mình như thế này. Nên cậu nhớ viết cho tôi nhé. Hễ được đọc thư cậu, tôi sẽ thấy như cậu đang ở ngay cạnh mình.”

“Nếu chị muốn thế, tôi sẽ viết cho chị suốt. Nhưng chị đừng lo. Tôi biết chứ, đi đâu thì chị cũng ổn thôi mà.”

“Còn một việc nữa. Tôi cứ cảm thấy có cái gì vẫn còn mắc kẹt ở trong mình. Có phải đó chỉ là tưởng tượng không?”

“Là ký ức còn lại thôi mà,” tôi nói và mỉm cười. Reiko cũng mỉm cười theo.

“Đừng quên tôi,” chị nói.

“Tôi sẽ không quên chị,” tôi nói. “Không bao giờ.”

“Chúng ta có thể sẽ không bao giờ gặp lại, nhưng dù có đi đâu về đâu, tôi cũng sẽ không bao giờ quên cậu và Naoko.”

“Đừng quên!” – đấy là lời nhắn nhủ mà các nhân vật nói với nhau. Vì họ chỉ biết bấu víu vào những tình cảm trong sáng, chân thành mà họ có với nhau. Những cái đó là thật nhất và đáng trân trọng nhất trong cuộc sống này. Đọng lại trong các ký ức, quan hệ giữa con người với con người không còn phụ thuộc vào thời gian: chúng tồn tại trong cả quá khứ, hiện tại, và tương lai.

Vậy mà ký ức của tôi đã ngày càng mờ nhạt đi, và tôi đã quên nhiều thứ mất rồi. Viết bằng hồi ức như thế này, tôi thường có những cơn sợ đến thắt lòng. Nếu tôi đã quên mất điều gì quan trọng nhất thì sao? Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ở đâu đó trong tôi có một bến lú tăm tối nơi tất cả những ký ức thực sự quan trọng bị chất đống lại và từ từ biến thành bùn đất?

Tôi cũng đã biết vì sao nàng xin tôi đừng quên nàng. Bản thân Naoko biết điều đó, tất nhiên rồi. Nàng biết rằng ký ức của tôi về nàng sẽ phôi pha. Và chính thế mà nàng xin tôi đừng bao giờ quên nàng, hãy nhớ rằng nàng đã từng tồn tại.

Đọc Rừng Na Uy cũng là để nhớ rằng, mình đang tồn tại, “vì bạn đang sống, vì tình yêu là có thực”.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Rừng Na Uy

Entry for 23 February 2007

Ngày mồng năm Tết. Thay vì phải tranh thủ đi thăm bạn bè cho hết, tôi lại chọn chúi mũi vào một quyển truyện. Tựa lưng vào chiếc gối mỏng, chăn đắp xộc xệch, xung quanh là bánh, kẹo, vỏ bánh, vỏ kẹo cùng vài thứ vật dụng khác vương vãi trên giường, tôi đã ngồi lỳ từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều, lật giở từng trang sách và chăm chú đọc. Với mái tóc rối chưa chải từ sau khi gội đầu buổi sáng được túm lên một cách cầu thả, tôi nghĩ rằng mình đã có một hình ảnh hoàn hảo về sự bê tha trong một kỳ nghỉ dài ngày. Và điều đó làm tôi dễ chịu.

Và giờ đây, vẫn cái đầu tóc rối, tôi đang ngồi uống nốt cốc sữa đậu nành từ sáng, 10 ngón tay dính chặt vào bàn phím với hy vọng rằng có thể viết ra bằng hết những gì nhảy múa trong đầu tôi sau khi đọc xong quyển truyện mà trong đó có một đoạn viết thế này:

“Và đó chính là lý do vì sao tôi viết cuốn sách này. Để suy nghĩ. Để hiểu. Chẳng qua là cái tạng tôi nó thế. Tôi phải viết hết mọi thứ ra giấy để cảm thấy rằng mình thực thấu hiểu chúng.”

Rừng Na Uy không phải cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc, nhưng là cuốn đầu tiên mà tôi kết thúc (finish reading), trong năm mới này. Thế đấy, tôi trang bị cho mình một loạt sách (gọi là) để “cải thiện” nhân dịp được nghỉ dài ngày thế này; để rồi bắt đầu với một quyển sách mà tôi vô tình phát hiện đã bị bỏ rơi trên tủ trong phòng làm việc của mẹ tôi (O Zahir) và rồi nhảy phắt sang một quyển khác khi mới đọc xong có 2 chương. Và tôi đã đọc một lèo, nếu trừ đi những sự gián đoạn do phải trả lời điện thoại, nói chuyện với một người-bạn-lớn qua điện thoại chừng 10 phút, và bị con em ỉ eo đòi đưa đi lượn phố. Chen ngang vào giữa còn có một ít gió, một cơn mưa, và những bài tình ca ướt át của Lê Hiếu!

Vào cái thời buổi “đọc sách không kịp này”, có lẽ mỗi một quyển sách mà mỗi người đọc đều có những sự tình cờ đưa đẩy thế nào ấy. Không phải là tôi muốn thi vị hóa, nhưng rõ ràng là giữa hàng trăm cuốn sách mà cuốn nào cũng có đủ hàng tá lý do để bạn-phải-đọc thì thường rất khó để chọn cho mình lấy một vài quyển vào một lúc nào đấy hứng chí lên và rủng rỉnh tiền bạc dạo quanh các nhà sách. Tự dưng trong thời điểm đầu năm mới này, tôi vô cớ cho rằng mình sẽ gặp may mắn khi cuốn sách đầu tiên đọc (hết) là Rừng Na Uy – một cuốn truyện về danh nghĩa tôi mua cho con em, và đã tự nhiên quyết định đọc nó chỉ vì cảm thấy mệt mỏi với một O Zahir phức tạp.

Rừng Na Uy không phải là cuốn sách được ưu tiên của tôi trong số những cuốn sách có tiếng được giới thiệu là hấp dẫn và có mặt trong hầu hết các cửa hàng sách. Một tác giả Nhật Bản, một tựa đề gợi sự u ám (“rừng”) và vài từ giới thiệu mà tôi loáng thoáng nghe thấy kiểu “cô đơn” hay “ưu tư” khiến tôi gạt cuốn sách ra một bên. Giờ không phải lúc thích hợp để tôi đọc những thứ ảm đạm! Ấy thế mà tôi đã đọc. Và hoàn toàn ngược lại với những gì tôi nghĩ, cuốn sách là một sự sáng sủa cho cả những tâm hồn ốm yếu!

Hơn 500 trang sách, Rừng Na Uy là một thứ dung dịch đặc nhưng có hương vị dễ chịu. Nó dày đặc chữ nhưng tiết tấu thư thái, nhẹ nhàng. Ngôn ngữ vừa trần trụi vừa lãng mạn, y như những gì hiện ra qua những từ ngữ ấy. Tình bạn, tình yêu, tình dục, cái chết, nội tâm, âm nhạc, những bức thư, mưa, rượu, thức ăn, buổi tối, di chuyển, tìm kiếm, đối mặt – đó là những gì có thể bắt gặp trong Rừng Na Uy. Tựa như một thứ cocktail mà Haruki Murakami đã pha một cách hoàn hảo đến từng giọt.

Ở tuổi 23, đọc một tiểu thuyết được viết cách đây đúng 20 năm, tự dưng tôi không biết mình bao nhiêu tuổi. Tôi vẫn còn non trẻ nếu so về những kinh nghiệm cảm nhận cuộc sống so với những con người mới mười tám, đôi mươi trong truyện. Nhưng tôi cũng cảm thấy mình già cỗi vì không có được sự trẻ trung như thế – “Tớ là một đứa con gái có thực và đang sống, với dòng máu sinh động có thực đang chảy ào ạt trong người”. (Midori)

Midori như một dòng nước chảy ào ạt trong truyện. Một dòng nước chứ không phải một dòng suối, vì cảm giác như không có chiều sâu. Thế mà hình như tôi đang ghen tị với cái cách sống ấy.

“Tớ viết thư này trong lúc cậu đi mua nước uống. Đây là lần đầu tiên trong đời tớ viết thư cho một người ngồi ngay cạnh mình trên ghế công viên, nhưng có lẽ đó là cách duy nhất tớ có thể đến được với cậu. Tớ muốn nói là cậu đang chẳng để ý gì đến những lời tớ nói, đúng không nào?

Cậu có biết hôm nay cậu đã làm điều gì khủng khiếp lắm với tớ không? Cậu không hề thấy tớ đã đổi kiểu tóc khác, đúng không? Tớ đã loay hoay với nó mãi rồi, cố để cho nó dài ra, và cuối cùng thì tuần trước tớ đã làm được một kiểu mà cậu có thể gọi là tóc con gái, nhưng thậm chí cậu cũng chẳng để ý nữa. Trông nó cũng hay, nên tớ đã tưởng sẽ làm cho cậu choáng một tí sau khi bao nhiêu lâu cậu mới gặp lại tớ, nhưng cậu nào có thấy gì. Cậu bảo thế có chán không? Tớ cuộc là cậu chẳng biết tớ mặc gì hôm nay nữa kia. Ê, tớ vẫn là con gái mà! Ừ thì cậu vẫn đang bận chuyện gì đó trong đầu! Nhưng cứ nhìn người ta một cái tử tế thì đã làm sao! Cậu chỉ cần bảo “Tóc xinh đấy”, thì tớ sẽ tha thứ cho cậu vì đã mải chìm đắm trong một triệu thứ ý nghĩ kia, nhưng mà không!

Chính vì thế mà tớ sắp tặng cậu một lời nói dối đây. Không phải tớ đi gặp chị tớ ở Ginza đâu. Tớ đã định đến ngủ lại ở chỗ cậu. Thậm chí đã mang cả quần áo ngủ đi theo. Thật thế. Tớ đã có áo ngủ và bàn chải đánh răng ở trong túi rồi. Thế có ngu không! Đấy, cậu có hề mở mồm mời tớ đến thăm nhà mới của cậu đâu. Nhưng thôi, cần quái gì, rõ ràng là cậu muốn được một mình, nên tớ sẽ để cho cậu được một mình. Cứ việc nghĩ ngợi cho thỏa đi!

Nhưng đừng có hiểu sai tớ. Tớ không hoàn toàn phát điên vì cậu đâu. Tớ chỉ buồn thôi. Cậu đã tốt như thế với tớ khi tớ gặp rắc rối, còn bây giờ thì cậu đang gặp rắc rối và có vẻ là tớ chẳng làm gì được cho cậu cả. Cậu đang bị nhốt chặt trong cái thế giới nhỏ bé ấy của cậu, và khi tớ gõ cửa thì cậu chỉ ngẩng lên độ một giây rồi lại bổ vào trong đó ngay.

Bây giờ thì tớ thấy cậu đang mang đồ uống về kia kìa – vừa đi vừa nghĩ. Tớ đang mong cậu vấp ngã đây, nhưng cậu không vấp. Bây giờ thì cậu đang ngồi ngay cạnh và uống lon Coke của cậu. Tớ đang bám lấy tia hy vọng cuối cùng là cậu sẽ nhận thấy và nói “Ê, cậu đổi kiểu tóc rồi à!” nhưng mà không. Nếu cậu nói thế thì tớ đã xé bức thư này đi và bảo “Về nhà cậu chơi đi. Tớ sẽ nấu một bữa tối ngon lành. Và sau đó bọn mình có thể lên giường và ôm ấp nhau.” Nhưng cậu vẫn nhạy cảm như gỗ đá vậy. Tạm biệt.

Tái bút: Lần sau gặp thì đừng có nói gì với tớ đấy.”

Đó là ở trang 458-459. Còn ở trang 469 thì tác giả viết thế này:

Mùa xuân ấy tôi viết bao nhiêu là thư: mỗi tuần một lần cho Naoko, nhiều lần cho Reiko, và nhiều nữa cho Midori. Tôi viết thư trong giảng đường, tôi viết thư ở bàn học ở nhà với con Hải âu cuộn trong trong lòng, tôi viết thư ở giữa bàn chưa có khách trong tiệm ăn Ý khi nghỉ giải lao. Dường như tôi viết thư để cố giữ lại những mảnh vụn của cuộc đời đã tan vỡ của mình.

Tôi viết cho Midori: Tháng Tư, tháng Năm là hai tháng cô đơn đau khổ vì tớ không thể nói chuyện được với cậu. Tớ chưa bao giờ biết rằng mùa xuân lại có thể cô đơn và đau khổ đến thế. Thà có ba tháng Hai còn hơn một mùa xuân như thế này. Tớ biết nói bây giờ là quá muộn rồi, nhưng kiểu tóc mới của cậu hợp với cậu lắm. Thật là xinh. Hiện tớ đang làm ở một quán ăn Ý, và ông bếp dạy tớ một cách làm món mì ống rất ngon. Tớ thích được sớm làm món ấy cho cậu ăn.

Tôi thích Rừng Na Uy vì như thế. Giản dị, giản dị đến trần trụi, và nhờ đó mà nó đẹp! Đọc xong thấy đọng lại một sự xúc động về những mối quan hệ giữa con người với con người: người yêu với người yêu, bạn với bạn, con trai với con trai, con gái với con gái, với người yêu của bạn, với bạn của người yêu, bố con, chị em, người bình-thường và người bất-bình-thường, người sống và người chết …

“Cho tôi được bắt đầu bằng tin vui nhé. Naoko đã tiến bộ nhanh hơn mọi người tưởng rất nhiều. Tôi đã nói chuyện với cô ấy một lần qua điện thoại, và cô ấy nói năng rất rõ ràng rành mạch. Có thể chẳng mấy chốc nữa mà cô ấy sẽ lại trở về đây.

Còn bây giờ đến chuyện cậu.

Tôi nghĩ cậu quá nghiêm trọng với mọi chuyện đấy. Yêu một người khác là một chuyện tuyệt vời, và nếu tình yêu ấy là chân thành, không ai cuối cùng lại bị ném vào mê cung cả. Cậu phải có thêm lòng tin vào bản thân mới được.

Lời khuyên của tôi với cậu rất đơn giản. Trước hết, nếu cậu bị con người Midori thu hút mạnh đến thế, thì chuyện cậu yêu cô ấy chỉ là điều rất tự nhiên. Nó có thể tiến triển tốt, cũng có thể không. Nhưng tình yêu là thế. Khi ta yêu, tự nhiên nhất là hãy thả hết mình cho nó. Tôi nghĩ thế đấy. Cũng là một dạng chân thực thôi mà.

Thứ hai, về chuyện cậu có nên làm tình với Midori hay không, thì cậu phải tự quyết định thôi. Tôi không thể nói gì được. Hãy bàn với Midori và tự tìm lấy kết luận, cái nào là có lý nhất đối với cậu.

Thứ ba, đừng cho Naoko biết một tí gì về những chuyện này. Nếu mọi thứ tiến triển đến mức cậu bắt buộc phải nói với cô ấy, thì cậu và tôi sẽ cùng bàn cách làm sao cho tốt. Còn bây giờ thì đừng nói gì cả. Cứ để tôi lo.

Điều thứ tư tôi phải nói là cậu đã là một nguồn sức mạnh lớn lao cho Naoko, lớn đến mức ngay cả nếu cậu không còn những cảm xúc của một bạn tình đối với cô ấy nữa, cậu vẫn có thể làm được rất nhiều điều cho cô ấy. Cho nên đừng ấp ủ mọi chuyện theo kiểu siêu-nghiêm-trọng như thế nữa. Tất cả chúng ta (tôi muốn nói là tất cả chúng ta ấy, cả bình thường lẫn không bình thường) đều là những con người bất toàn sống trong một thế giới bất toàn. Chúng ta không sống với sự chính xác cơ khí của một chương mục ngân hàng hoặc bằng cách đo đắn mọi đường nét và góc cạnh của chúng ta với thước dây và máy ngắm. Tôi nói thế có đúng không nào?

Cảm giác riêng của tôi là Midori nghe chừng là một cô gái tuyệt vời đấy. Chỉ đọc thư của cậu thôi tôi cũng có thể hiểu tại sao cậu bị cô ấy hấp dẫn đến thế. Và tôi cũng hiểu cả chuyện tại sao Naoko cũng hấp dẫn cậu nữa. Chẳng có tí gì là tội lỗi trong chuyện đó cả. Những chuyện như thế lúc nào chả diễn ra trong cái thế giới mênh mông này của chúng ta. Cũng giống như ta lấy thuyền chèo ra một cái hồ đẹp trong một ngày đẹp trời và cả trời cả nước đều đẹp tuyệt vời vậy. Cho nên cậu đừng có tự ăn thịt mình như thế nữa đi. Mọi chuyện sẽ đến nơi chúng phải đến nếu ta để cho chúng tự đi theo đường của mình. Dù cậu có cố mấy thì người ta cũng bị đau khổ khi đã đến lúc họ phải đau khổ. Đời là vậy. Tôi biết có vẻ như mình đang lên giọng giảng đạo trên nhà thờ, nhưng cũng đã đến lúc cậu phải học sống như vậy rồi. Cậu đã cố quá sức để bắt cuộc đời phải vừa khít theo cách sống của cậu. Nếu không muốn phải vào nhà thương điên, cậu hãy cởi mở rộng rãi hơn một tí đi và hãy để cho mình trôi theo dòng chảy tự nhiên của cuộc đời. Tôi chỉ là một người đàn bà bất toàn bất lực, thế mà nhiều lúc tôi vẫn có thể tự nhủ rằng cuộc đời thật là tuyệt diệu biết bao! Tin tôi đi, điều đó là thực đấy! Cho nên ngay giờ phút này, cậu hãy dừng hết những việc đang làm và hãy hạnh phúc ngay đi. Có làm thì làm cho mình được hạnh phúc ấy!

Không cần nói cậu cũng biết là tôi buồn thế nào khi cậu và Naoko không thể cùng nhau đến được một bến bờ hạnh phúc. Nhưng có ai dám bảo chỉ thế mới là tốt đẹp nhất đâu! Cho nên cậu cần phải chộp lấy bất kỳ cơ hội hạnh phúc nào mà cậu có, và đừng áy náy vì người khác nhiều quá. Kinh nghiệm của tôi là chúng ta chỉ có độ hai hoặc ba cơ hội như thế trong đời, và nếu để lỡ thì sẽ phải ân hận cho đến chết vậy.

Ngày nào tôi cũng chơi ghi-ta mà chẳng có ai nghe. Có vẻ vô bổ quá. Tôi cũng chẳng thích những đêm mưa tối trời đâu. Hy vọng sẽ lại có cơ hội chơi ghi-ta và ăn nho với cậu và Naoko trong gian phòng này nữa.

A… thế đấy, hẹn thư sau.

Reiko Ishida.”

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết