Tag Archives: NXB Văn học

[Ghi chú] Các kiểu tuyển tập truyện ngắn các tác giả được giải Nobel văn học

Năm 1997, NXB Văn học ra cuốn Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không biết có phải là tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của nhiều tác giả được giải Nobel văn học ở Việt Nam hay không. Năm kế đó, tức 1998, NXB này ra tiếp quyển tuyển tập như thế nữa, gọi là tập II, giới thiệu các tác giả khác và/hoặc các tác phẩm khác.

“Để xây dựng tập sách này chúng tôi phải gom góp những truyện ngắn của các tác giả được giải Nobel đã được công bố trên nhiều báo, tạp chí, đã được in trong các sách phát hành trong nhiều năm. Điều kiện đó không cho phép chúng tôi gửi lời xin phép trước tới tất cả các dịch giả có tác phẩm in trong tập sách này. Chúng tôi thành thật cáo lỗi!”

Trích “Lời người tuyển chọn” trong ấn bản năm 1997.

Nhẽ ra nên có một lời đề nghị các dịch giả liên hệ với nhà xuất bản để nhận nhuận bút – tôi đã từng đọc những cuốn sách được in mà “không có điều kiện xin phép các dịch giả” với một lời nhắn như vậy. Từ đó tới nay, là gần chục năm, đã có hơn chục cuốn tuyển tập kiểu như vậy ra đời, nhiều truyện được in đi in lại trong nhiều cuốn khác nhau, chẳng biết các nhà xuất bản đã có điều kiện xin phép các dịch giả chưa.

Dưới đây tôi kê ra những cuốn mà tôi biết, kèm một vài ghi chú. Hơn nửa trong số đó là của NXB Văn học, còn lại thì là vài quyển của NXB Hội nhà văn và một bộ ba tập của NXB Công an nhân dân. Những cuốn mỏng nhất cũng hơn 300 trang, cuốn dày nhất trên 700 trang, hầu hết đều khổ 14,5 x 20,5 cm, cuốn thì bìa cứng cuốn thì bìa mềm.

Nhà xuất bản Văn học

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 1997.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập II, 1998.

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, 2004.

~ Cuốn này giới thiệu 37 truyện của 37 tác giả, nhưng có 2 “truyện” thực ra không phải truyện ngắn mà là trích đoạn của tiểu thuyết (“Tôi mù” trích từ Bệnh mù [Ensaio sobre a cegueira] của José Saramago và “Thế kỷ của tôi” thực ra là “Năm 1991” trong tiểu thuyết Thế kỷ của tôi [Mein Jahrhundert] của Günter Grass).

Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel (thêm một số truyện mới), 2006. (Bìa cứng, 622 trang.)

~ Cuốn này cơ bản là tái bản của cuốn năm 2004 kể trên với thêm 5 truyện của 5 tác giả đã giới thiệu trong cuốn cũ (nghĩa là 37 tác giả, 42 truyện). Văn tiếng Việt của các truyện dịch trong cuốn này đọc khá xuôi. Chỉ buồn cười là nội có vài trang mục lục mà đã thấy vài lỗi: viết sai tên tác giả (mục lục sai thế nào thì trong sách sai y thế), không thống nhất giữa việc giữ nguyên tên tác giả (và nhân vật) hay viết theo phiên âm tiếng Việt, ghi thiếu tên dịch giả, thiếu dấu (phẩy hoặc gạch ngang gì đó) giữa tên tác giả và giải thưởng của ổng/bả, và truyện đầu tiên ghi nhầm năm tác giả được giải, 1903 thành 1930. Tóm lại với tôi thế là làm sách ẩu.

Đông Joăng thanh minh: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa cứng, 496 trang.)

~ “Đông Joăng thanh minh” chỉ là một truyện ngắn trong tuyển tập này, được đưa lên làm tít chắc là để câu khách. Cái bìa trông rất rẻ tiền. Và được làm cực ẩu. Mặc dù trên bìa ghi rất to hai chữ “Nobel prize” của The Nobel prize collected best short stories, kèm cả tiếng Việt, Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, nhưng bên trong có cả các tác giả không có giải Nobel (dù cũng được các giải khác). Dòng cuối cùng trên trang bìa – O’Henry, Pen, Malamud… – chắc là để ám chỉ “các giải khác” ấy. (Nhân tiện thì PEN/Malamud là một giải thưởng, nằm trong hệ thống giải PEN, chứ không có giải “Pen” hay giải “Malamud”.) Mục lục nhìn vào đã thấy tên vài nhà văn bị viết sai be bét, truyện không theo thời gian đã đành, truyện của cùng một tác giả cũng chẳng được quần tụ một chỗ. Tóm lại là cuốn này có cho cũng không thèm lấy.

Gái hai chồng: Tuyển truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, O’Henry, Sách quốc gia Mỹ…, 2008. (Bìa cứng, 476 trang.)

~ Tương tự quyển trên, “Gái hai chồng” cũng là một truyện ngắn được đưa lên làm tít câu khách, với cái hình minh họa khêu gợi chả liên quan qué gì đến nội dung truyện này cả. Thật kỳ lạ, NXB năm 2008 đó làm sao mà lại đi xuất bản những hai cuốn từa tựa nhau, số trang cũng same same nhau, cùng là bìa cứng, và cùng mang hai cái bìa vớ vẩn như nhau vậy.

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Nhà xuất bản Văn học, 2012. (Bìa cứng, 358 trang.)

Nhà xuất bản Hội nhà văn

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, Tập 1 & 2, 2004. (Bìa cứng, 574 & 724 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 2008. (Bìa mềm, 460 trang.)

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, không rõ năm. (Bìa cứng, 556 trang.)

Nhà xuất bản Công an nhân dân

Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, 3 tập, 2007. (Bìa mềm, mỗi cuốn hơn 300 trang.)

~ Các cuốn còn lại chưa được nhìn sách giấy nên không bình luận gì ngoài việc các bìa hầu hết đều xấu cả. Nếu mục lục các cuốn đúng như trên một số trang web đưa thì tôi thấy có khá nhiều truyện đã được in đi in lại trong nhiều cuốn, như là kiểu xào xáo vậy.

Để kết lại bài này tôi nêu ra vài điểm mình mong muốn ở một cuốn sách dạng tuyển tập:

  1. Cần có một lời giới thiệu rõ ràng từ phía những người làm sách: tại sao chọn các tác giả này? tại sao chọn các tác phẩm này? Nhất là trong bối cảnh không còn là tuyển tập đầu tiên mang tính giới thiệu nữa, thì tuyển tập này đóng góp gì thêm vào “kho tàng” tuyển tập đã có, hay chỉ đơn giản là tiện thì tái bản lại? Tốt nhất cần nói rõ một hoặc một nhóm người lựa chọn các truyện đưa vào tuyển tập này là ai. Ít nhất cũng phải có cái tên cho người ta google xem có đáng tin cậy không, còn lịch sự thì phải giới thiệu vắn tắt luôn về những người ấy.
  2. Cần ghi rõ mỗi truyện được dịch từ ngôn ngữ nào sang, bản quyền của ai, bản quyền tiếng Việt của ai. Nếu được thì viết cả tên truyện nguyên gốc hoặc từ ngôn ngữ được dịch sang, để những độc giả quan tâm có thể tra cứu thêm, nếu muốn.
  3. Nếu truyện đã được dịch và đăng ở đâu đó trước khi được đăng vào tuyển tập này thì cần ghi rõ các nguồn đó.
  4. Viết tên tác giả cho đúng, ít ra cũng phải tôn trọng cái tên người ta một tí. Những tên nào viết theo tiếng của họ khó đọc với độc giả Việt thì thêm phiên âm cách đọc.
  5. Giới thiệu sơ lược về từng tác giả, nếu là tuyển tập của nhiều tác giả.

Một ví dụ về một cuốn tuyển tập được làm cẩn thận như thế là Great stories by Nobel prize winners do Leo Hamalian và Edmond Volpe biên soạn, xuất bản lần đầu năm 1959, tái bản lần gần nhất năm 2012. (Có thể click vào “look inside” ở đường link đính kèm để nhìn qua các phần Acknowledgements, Preface, và vài dòng giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm ở đầu mỗi truyện.)

Nói chung là tôi thấy tiếc cho các bản dịch truyện tốt mà bị đem in tuyển tập lôm côm. Khi đọc bản in của NXB Văn học năm 2006 tôi cảm thấy các dịch giả đã dịch cẩn thận. Nhẽ ra các cuốn sách đã phải được làm cẩn thận hơn.

Đã đính chính lại thông tin về giải PEN/Malamud so với bản viết đầu.

2 Comments

Filed under Ghi chú

Nỗi cô đơn của các số nguyên tố

Khi đã đọc kha khá sách, bạn sẽ hầu như không kỳ vọng gì nhiều ở một cuốn sách. Bởi bạn biết rằng mỗi một cuốn sách mở ra có thể là bất kỳ điều gì: làm bạn ngạc nhiên, làm bạn chán ngấy, làm bạn bật cười, hoặc làm bạn ghê sợ. Bất kể đó là cuốn sách chẳng ai đọc hay hàng triệu người đọc. Cuốn của một tác giả đình đám, một tác giả vô danh, hay một tác giả bạn thích. Một cái tựa thú vị hay một cái tựa tầm thường. Không có gì có thể làm chỉ dấu cho bạn biết bạn sẽ cảm thấy như thế nào sau khi đọc xong một cuốn sách. Bạn chỉ có thể tự mình đọc sách và tự mình cảm nhận.

Và đôi khi, trong lúc chẳng trông đợi gì mà chỉ làm một việc đơn giản mà bấy lâu bạn vẫn làm – đọc sách, tự dưng bạn thấy mình phải lòng một cuốn sách. Ngỡ ngàng như một tia nắng quệt ngang qua cuộc đời bạn.

Tôi đọc gần như một lèo hết Nỗi cô đơn của các số nguyên tố của Paolo Giordano, một điều tôi rất hiếm khi làm. Thường tôi đọc sách nhẩn nha, vừa đọc vừa nghĩ ngợi và tưởng tượng gì đó. Đôi khi còn vừa đọc vừa viết. Còn cuốn sách này, nó như cùng một nhịp đập với tôi, tôi cứ đi theo dòng chảy của nó như đi theo một dòng chảy tự nhiên nào đó của chính mình, không cần nghĩ ngợi gì thêm, không cần thêm thắt điều gì. Cả tiết tấu của lời văn cũng như những ý tưởng mà nó mang theo, những tình cảm mà nó gợi lên gần như trùng khít với một khoảng trống mênh mông vô hình nào đó ở bên trong tôi bấy lâu nay.

Tôi chưa bao giờ đọc một cuốn sách nào có nhiều nỗi cô độc đến như thế. Mười cuốn sách của Murakami, một tác giả mà tôi yêu thích, cũng không có cuốn nào cô độc như cuốn này. Khởi sinh của cô độc cũng không cô độc như cuốn này. Ở đây tất cả các nhân vật đều cô độc. Tất cả, chứ không chỉ có cặp số nguyên tố sinh đôi Mattia và Alice. Cô độc trong toàn bộ cuộc đời mà họ đã sống. Truyện gần như không có tình tiết nào mang tính bùng nổ, là nơi mà người ta, dù là trong khoảnh khắc, giải phóng được hết sự cô độc trong con người mình. Một vài chi tiết có một chút ấm nóng cũng chỉ như một que diêm lóe lên giữa một trời băng tuyết rồi vụt tắt trước khi người ta kịp nhận ra sự tồn tại của nó. Một màu cô độc băng giá bao phủ lên toàn bộ cuốn sách, từ những dòng đầu tiên cho tới những dòng cuối cùng.

Một cuốn sách như thế hiển nhiên làm nhiều người khó chịu. Không ai thích sự cô độc cả, kể cả khi nó chỉ là một câu chuyện tưởng tượng trên giấy. Nhưng với một số người khác, nó chỉ đơn giản như một tấm chân dung gần gũi nhất với cuộc đời bình thường mà trước tới nay họ sống và trải nghiệm.

Khác với nhiều cuốn sách khác viết về những con người cô độc, trong cuốn này Paolo Giordano không dựng lên những bức tranh quá chi tiết về nội tâm của nhân vật. Rất ít nước mắt. Không cần tới những cái chết. Tất cả các nhân vật của anh đều bằng cách này hay cách khác kiềm chế những lời nói và hành động của mình, dù biết rằng lựa chọn mà họ đưa ra vào lúc này đây sẽ để lại kết quả làm thay đổi toàn bộ cuộc đời họ kể từ đó trở về sau. Không ít lần các nhân vật trong truyện đã mường tượng chi tiết trong đầu họ sẽ nói những gì, sẽ làm những gì, và rồi sau đó họ lại bất động. Như thể nỗi cô độc từ bên trong đã phong tỏa con người họ, khiến họ tê liệt trước cuộc đời.

Sự thức giấc chỉ phá hủy một phần các cấu trúc ý nghĩ. Alice dậy khi không thể làm khác được nữa và sự lộn xộn của giấc ngủ mơ dần dần giảm đi, để lại trong đầu cô những vết rơi rớt, giống như những ký ức ngắt quãng trộn lẫn với những ký ức khác và không có vẻ gì là không thật cả. Cô lang thang trong căn hộ vắng lặng như bóng ma của chính mình đang chậm chạp bám theo sự minh mẫn của bản thân. Đôi khi cô nghĩ mình đang phát điên. Nhưng cô cũng chẳng lấy làm tiếc về điều đó. Ngược lại, nó khiến cô mỉm cười, bởi cuối cùng cô chính là người chọn lựa.

Tác giả cố gắng để truyện kết thúc một cách sáng sủa, bằng cách để Mattia cho tay vào túi và tìm thấy miếng giấy ghi số điện thoại của Nadia, còn Alice thì nghĩ rằng “[v]ới một chút khó khăn mệt nhọc, cô đã biết tự đứng dậy một mình.” Tuy thế, nếu lắp hai cái chi tiết ấy vào toàn bộ câu chuyện mà cuốn sách vẽ ra, tôi thấy nó cũng lại giống như hai que diêm được đốt lên giữa một trời tuyết trắng, như “[d]òng sông tạo tiếng xào xạc yếu ớt và mơ màng”.

Bên cạnh hình ảnh cặp số nguyên tố sinh đôi “cô độc và mất mát, tuy rất gần mà không đủ để thật sự đến được với nhau” được sử dụng làm biểu tượng đặt ở trung tâm của cuốn sách, một chất liệu đã góp phần quan trọng tạo nên hình hài và màu sắc cho tác phẩm chính là những mô tả ngắn gọn và khô khốc của tác giả về thế giới vật chất xung quanh các nhân vật của anh. Các kiến thức khoa học được đưa vào trong những dòng mô tả ấy khá tự nhiên và vừa phải, không bị phô phang và có phần sến sẩm như trong một cuốn sách cũng thuộc hàng bestseller của một anh tiến sĩ một ngành kỹ thuật đi viết văn khác là Cô đơn trên mạng. Có nhiều đoạn trong cuốn sách tôi đã nghĩ nhân vật sẽ nói thêm điều gì đó, làm thêm điều gì đó thì tác giả thay vào đó là một đoạn mô tả không tô vẽ. Tôi không cảm thấy thất vọng vì những chỗ đó mà ngược lại, nhờ đó tôi cảm nhận được rõ hơn sự đóng băng của nhân vật.

“Cậu thích học thật à?”

Mattia gật đầu.

“Tại sao?”

“Đó là điều duy nhất mình biết làm.” Cậu trả lời chậm rãi. Cậu muốn nói cậu thích học vì cậu có thể làm điều đó một mình, bởi vì tất cả những gì phải học đều đã chết rồi, lạnh lẽo và cứng ngắc máy móc. Cậu muốn nói với Alice rằng những trang sách ở trường đều có nhiệt độ giống nhau, chúng sẵn sàng cho bạn thời gian để chọn lựa, chẳng bao giờ gây đau đớn và bạn cũng chẳng thế khiến chúng thấy đau. Nhưng cậu chỉ im lặng.

Sự cô độc của các số nguyên tố có thể mang lại cảm xúc gì cho bạn, tôi không biết, nhưng chắc chắn nó là một cuốn sách đã mô tả được một cách chân thực một lát cắt của cuộc sống ngày nay như nó đang là.

Cuốn sách được dịch bởi Lê Thúy Hiền, bản quyền tiếng Việt © Nhã Nam 2009. Bản dịch căn bản là ổn và cẩn thận, chỉ một vài chỗ tôi sẽ ưng cách sử dụng đại từ khác đi một chút.

2 Comments

Filed under Tiểu thuyết

Kẻ ích kỷ lãng mạn

Bản dịch tiếng Việt bởi Phùng Hồng Minh, © Nhã Nam, 2013. Bản tiếng Pháp © Éditions Grasset & Fasquelle, 2005.

Liệu có cuốn tiểu thuyết nào lại giống một cuốn nhật ký hơn Kẻ ích kỷ lãng mạn của Frédéric Beigbeder không nhỉ? Tôi thì tôi chưa được biết. Hoặc là tôi đọc hồi ký hoặc là tôi đọc tiểu thuyết. Nhật ký duy nhất mà tôi đọc là nhật ký của chính mình :D.

Trang Wikipedia tiếng Anh về tác giả có viết: Frédéric Beigbeder’s work can be organised in three main categories. [Trong đó,] Autobiographical novels: This style of book is about the author’s life although he does not explicitly describe them as an autobiography.

Tạm dịch: Các tác phẩm của Frédéric Beigbeder có thể chia làm ba loại. [Trong đó,] Tiểu thuyết tự truyện: Dạng sách này nói về cuộc đời của tác giả mặc dù anh ta không công khai gọi chúng là tự truyện.

Vậy Kẻ ích kỷ lãng mạn là nhật ký hay tiểu thuyết?

“’Nhật ký’ là gì? Là một cuốn tiểu thuyết.”

– Jacques AUDIBERTY,

Ngày Chủ nhật đang đợi tôi, 1965.

(Trích dẫn của tác giả ở trang đầu của cuốn sách.)

Điều tôi thấy thú vị ở cuốn sách này là định dạng của nó – dường như nằm lập lờ giữa hai khái niệm ‘nhật ký’ và ‘tiểu thuyết hư cấu’ (fiction). Tôi nghĩ đây bản chất là một cuốn tiểu thuyết hư cấu được viết dưới dạng nhật ký (là nhật ký của Oscar Dufresne và là tiểu thuyết của Frédéric Beigbeder). Có điều, nó giống một cuốn nhật ký thông thường tới nỗi người ta dễ nghĩ tới nó như một cuốn nhật ký hơn là như một cuốn tiểu thuyết hư cấu. Để so sánh, khi nhắc tới một tác phẩm tương tự là Bridget Jones’s Diary: a novel (Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết, đã được dịch sang tiếng Việt với cái tên Nhật ký tiểu thư Jones – cho cả phim và sách, mà dường như là tựa sách bắt chước tựa phim) người ta dễ nghĩ tới nó như là một cuốn tiểu thuyết hư cấu nhiều hơn là một cuốn nhật ký. Có thể đây là lý do vì sao Bridget Jones – nhân vật hư cấu của Helen Fielding – lại nổi tiếng hơn tác giả trong khi Frédéric Beigbeder – ông nhà văn có thật tạo ra Oscar Dufresne – lại nổi tiếng hơn nhân vật hư cấu của mình.

Như với mọi cuốn tiểu thuyết khác, có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ biết đoạn nào là thật, đoạn nào là bịa đặt.

“Thứ Năm.

Để nói thêm những gì mình nghĩ về các hiểu lầm và nguy hiểm của nhật ký, tôi muốn dẫn ra đây trích đoạn từ cuốn Sa đọa của Camus: “Các tác giả của những lời tự thú thường viết để không phải tự thú, để chẳng phải nói gì về những điều họ biết. Khi họ bảo mình đang thú nhận thì đó là lúc cần phải cảnh giác, họ sẽ hóa trang cho xác chết. Tin tôi đi, tôi thành thợ rồi mà.” Cảm giác kỳ lạ đúng thời điểm Guy Georges rốt cuộc cũng thú nhận các tội ác của hắn trước tòa Đại hình Paris. Chúng ta những muốn các nhà văn ai nấy đều phải là Guy Georges, bị đẩy vào tận phòng tuyến của họ cho tới khi khai ra mọi chuyện. “Đúng vậy, chính tôi làm việc đó, đúng vậy, đúng vậy, đúng vậy, chính tôi, xin lỗi, tôi sẽ không bao giờ nói dối nữa, tôi xin hứa.” Nhưng các nhà văn là những tên tội phạm chẳng bao giờ chịu thú nhận.”

(Tr. 123-124)

Sự phân thân nhập nhèm một cách công khai giữa tác giả và nhân vật, mà ở đây là Frédéric Beigbeder và Oscar Dufresne, không phải là một sự lạ trong văn chương. Phân thân đôi vẫn còn là nhẹ. Bạn có thể tìm đọc The New York Trilogy của Paul Auster (đã được dịch sang tiếng Việt với cái tựa mà cứ nhắc tới là tôi thấy kỳ – Trần trụi với văn chương) để biết bác này phân thành mấy thân như thế nào.

Tính chất tiểu thuyết của cuốn sách này còn có thể được nhận dạng bởi những sự sắp đặt tinh vi của tác giả chứ không phải trá hình một cách công khai như Helen Fielding trong Nhật ký của Bridget Jones: một cuốn tiểu thuyết (tôi không có ý chê cuốn này nhé, nó cũng rất là hài, đọc thú vị hơn xem phim đấy). Không ít bạn nhận xét là Kẻ ích kỷ lãng mạn chả có nội dung gì cả. Để “đổ thêm dầu vào lửa”, ngay từ những dòng đầu tiên của cuốn nhật ký, tác giả đã (để Oscar) tuyên bố:

“Thứ Hai.

Anh tưởng tôi có điều gì đó để nói ư? Anh tưởng tôi từng trải nghiệm điều gì đó trọng đại ư? Có lẽ là không đâu, có lẽ là không đâu. Tôi chỉ là một gã đàn ông. Tôi cũng có một câu chuyện như bao kẻ khác. Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ, tôi có cảm giác như mình là một ẩn dụ.”

Bạn có nhận ra đây là một lời giới thiệu không thể thẳng thắn hơn cho toàn bộ những gì bạn đọc tiếp sau đó không? “Lúc tập trên máy chạy bộ trong suốt một giờ đồng hồ” chỉ là một động tác giả.

Vậy có nên tin anh chàng tinh quái này rằng có lẽ anh ta không có điều gì để nói mà chỉ viết một cuốn nhật ký vu vơ kể những chuyện lăng nhăng tạp nham của một anh chàng rất giống chính bản thân anh ta không? Có lẽ là không đâu :D. Nếu bạn thật sự tin rằng Oscar/Frédéric chỉ muốn nói những chuyện và triết lý vụn vặt không đầu không cuối thì bạn đã đánh giá quá thấp những anh chàng Xử Nữ :D.

Nếu không tin tôi, bạn có thể mở trang đầu tiên của cuốn sách, nơi anh chàng bày đặt trích dẫn hai câu tưởng chừng như rất vu vơ vô hại như người ta post một cái status cá nhân trên mạng xã hội ngày nay. Câu trích dẫn đầu tiên chính là câu hỏi chủ đạo xuyên suốt hai năm nhật ký của Oscar – và toàn bộ cuốn sách là để trả lời câu hỏi đó. Ngay cái tựa sách cũng là một trả lời cho câu hỏi này. Câu trích dẫn thứ hai chính là lấp lửng về nghệ thuật viết cuốn sách này. Đối với tôi, trang trích dẫn này là một cách tuyên ngôn giấu mình hoàn hảo của Kẻ ích kỷ lãng mạn.

Cuốn nhật ký là một nỗ lực của Oscar Dufresne nhằm tự định nghĩa và tự định vị mình trong cuộc đời mà anh ta đang sống, bằng cách đặt lên bàn tất cả những giằng co nội tâm, những lo lắng, những ẩn ức, những suy nghĩ, những tình cảm cứ liên tục nảy sinh và chồng chất lên nhau trong những guồng quay không ngừng của một xã hội bên ngoài quá phức tạp, quá ồn ào, quá nhiều giả tạo, quá nhiều điều tréo ngoe, và quá nhiều sự lố bịch.

“…tôi muốn được ‘đau đầu căng thẳng’: bóc trần cái tồi tệ khập khiễng trong cuộc sống khốn kiếp của tôi và tái dựng toàn bộ thế giới xung quanh. Cần phải ‘đau đầu căng thẳng’ không ngừng nếu ta muốn tồn tại. Ngày nay hẳn Descartes sẽ nói: Tôi đau đầu căng thẳng [tức là tôi tồn tại].”

(Tr. 101)

“Từ nay ta chỉ còn được lựa chọn giữa thái độ vô liêm sỉ và chứng cuồng ám mà thôi. Một mặt là những kẻ nghĩ rằng kệ đời nó chứ, chừng nào còn sống thì còn phải lấy lại những gì đã đặt cược: các thương gia, các nhà tài chính, các hoạt náo viên truyền hình, các nhà quảng cáo, các nhà hoan lạc chủ nghĩa, các nhà hư vô chủ nghĩa. Mặt khác là những người sợ đến ngày tận thế và tìm cách bảo vệ tất cả những gì còn chưa bị phá hủy: các tiểu thuyết gia, các nhà hoạt động chống toàn cầu hóa, các nhà sinh thái, các nhà thơ, những kẻ rầy rà và những người hay càu nhàu. Từ ngày bức tường Berlin sụp đổ, tình trạng lưỡng phân này đã thay thế cho sự phân chia cánh tả/cánh hữu. Chứng liệt thần nọ đánh đuổi chứng liệt thần kia. Ích kỷ chủ nghĩa hay lãng mạn chủ nghĩa thì cũng đều phải chọn phe cho mình.”

(Tr. 145)

(Trong ngoặc vuông [ ] là tôi sửa lại theo phiên bản tiếng Việt phổ biến hơn của câu nói của Descartes: Tôi suy nghĩ, tức là tôi tồn tại. Bản tiếng Anh của câu này là: I think, therefore I exist. Bản dịch trong sách là: Tôi đau đầu căng thẳng vì vậy mà tôi hiện hữu.)

Bằng những đoạn viết ngắn rời rạc chứ không liền mạch và dài hơi như trong nhật ký của Bridget Jones, nhật ký của Oscar Dufresne dần dần làm hiện hình cả thế giới nội tâm bên trong và thế giới bên ngoài, theo cái cách mà những quyển nhật ký cá nhân không tựa đề của các cá nhân vô danh vẫn làm trong suốt lịch sử viết nhật ký của nhân loại.

Chẳng phải là cuộc sống hàng ngày của chúng ta cũng là tập hợp của những chuyện vụn vặt, không đầu không cuối hay sao? Chẳng phải những câu chuyện phiếm giữa chúng ta với bạn bè cũng là đủ thứ trên trời dưới biển, có lúc nhố nhăng, có lúc hài hước, có lúc sến sẩm, có lúc lại rất triết lý hay sao? Chẳng phải mỗi chúng ta vừa phải lo những chuyện rất thực vừa phải nghĩ ngợi về những thứ rất mơ hồ hay sao?

Chẳng phải là phần nào đó của Oscar Dufresne cũng chính là chúng ta, những thị dân của thời kỳ hậu hiện đại đa dạng, hỗn loạn, và liên tục biến động, hay sao?

Cuốn sách nhắc tới nhiều chủ đề/lĩnh vực, từ tiệc tùng, du lịch, sự kiện, ăn uống, ma túy, gái gú cho tới điện ảnh, âm nhạc, văn học, phê bình văn học, truyền hình cho tới gia đình, con cái, chính trị, và toàn cầu hóa. Dĩ nhiên không thể thiếu hai chủ đề chẳng bao giờ cũ: tình yêu và sự cô đơn. Nếu bạn đặc biệt quan tâm tới một vài chủ đề/lĩnh vực trong số đó nhiều hơn những chủ đề/lĩnh vực khác, bạn có thể có một cách đọc cuốn sách này rất thú vị là bạn đọc từ đầu tới cuối sách chỉ những gì liên quan tới chủ đề/lĩnh vực mà mình quan tâm thôi, bỏ qua những thứ còn lại.

Với tôi đây là một cuốn sách phải đọc chậm, nếu không thì tôi cảm thấy quá tải. Giọng văn châm biếm của tác giả tuy hài hước và tinh tế nhưng chứa đựng nhiều bất mãn và bế tắc trong khi cũng như tác giả, tôi cũng “đã chán ngấy mấy bài báo đả kích”. Nhất là khi chính mình cũng không tránh khỏi việc càu nhàu và mỉa mai nhiều thứ, có thể là bởi tôi cũng hay để tâm và nghĩ ngợi nhiều chuyện, từ chính trị cho tới thời trang, từ lịch sử cho tới mạng xã hội, từ chủ nghĩa tiêu dùng cho tới các talk show truyền hình, đại khái là cũng gồm nhiều thứ được nhắc tới trong cuốn sách này. Trên thực tế, tôi đã vừa đọc cuốn sách vừa viết (đi viết lại) bài review này.

Về nội dung, những câu chuyện tiệc tùng, sự kiện hào nhoáng của giới văn nghệ sĩ và giới thượng lưu kể ra trong cuốn sách thỉnh thoảng cũng làm tôi thấy quá tải. Xét cho cùng, thế giới ấy khá xa lạ với những người đọc thường dân áo vải. Kể cả có những lúc tọc mạch soi mói vào cái thế giới ấy qua những tờ báo, trang tin lá cải thì việc soi mói ấy với tôi nó cũng như một thứ giải trí rẻ tiền chứ tôi không quan tâm lắm bên dưới những thứ hào nhoáng ấy là gì. Hay nói đúng hơn, tôi có định kiến là nó cũng bảy phần thối nát.

Và có lẽ như một số độc giả nữ khác, tôi cũng thấy phát mệt với những câu chuyện giường chiếu của nhân vật chính. Oscar, “anh sẽ chết trong cô đơn như một tên khốn!” (Tôi không biết đây là một trò tự nhạo bản thân hay có một cô nàng (hoặc một gã bạn) nào đó thực sự đã phải hét lên với Frédéric Beigbeder như vậy :D.)

Mở ngoặc, phân trần của Oscar: “Nhưng ngoài thế ra, tôi còn là một kẻ bị ám ảnh đa cảm, một tên khốn biết yêu nữa.” (Tr. 210), đóng ngoặc. 😛

Truyện càng về cuối càng trầm xuống, và rồi kết thúc hơi hụt hẫng và có phần chóng vánh khi Oscar tuyên bố ngừng viết nhật ký để biến mất mãi mãi sau khi cô nàng đã làm anh phát rồ trong gần như suốt cuốn nhật ký tuyên bố bỏ anh. Lời thú nhận về người cha ở những dòng cuối cùng không được khớp lắm với nội dung cuốn nhật ký vì toàn bộ phần trước đó hầu như chẳng nhắc gì tới ông.

Kẻ ích kỷ lãng mạn dường như chia người đọc làm hai phe: hoặc thích cuốn sách hoặc ghét nó. Tôi nghiêng về phần thích nhiều hơn. Bỏ đi những thứ bên ngoài như nghề nghiệp, tiền bạc, địa vị xã hội, và những hoạt động cụ thể trong cuộc sống của Oscar Dufresne (mà những người ghét cuốn sách này lên án) thì tôi thấy anh ta đơn giản là một người luôn cố gắng sống thật với chính mình.

Bao nhiêu người trong chúng ta đang sống vì người khác, sống cho người khác, sống theo người khác, sống bằng giấc mơ của người khác và từ chối làm một kẻ ích kỷ rất biết mình là ai?

1 Comment

Filed under Tiểu thuyết

Chị Bridget và anh Oscar

Bridget Jones và Oscar Dufresne. Chị người Anh còn anh người Pháp. Chị làm sách còn anh viết sách. Mỗi người có một cuốn nhật ký để đời.

(Thật ra chị có tới ba cuốn nhật ký, nhưng có lẽ chỉ có cuốn đầu tiên mới là cuốn để đời. Bài này chỉ nói tới cuốn ấy.)

Nhật ký của chị đề tên chị – Nhật ký của Bridget Jones – với chú thích: một cuốn tiểu thuyết. Nhật ký của anh không đề tên anh mà đề một lời tự mô tả bản thân bằng chữ nghĩa thực ra đi mượn của người khác: Kẻ ích kỷ lãng mạn. Chẳng chú thích gì thêm.

“Một số người khẳng định tôi tên là Oscar Dufresne; số khác lại nghĩ tên thật của tôi là Frédéric Beigbeder. Đôi khi tôi khó mà nhận ra được mình qua cái tên.” 

Bridget Jones nổi tiếng kinh hoàng trong khi chả mấy ai nhớ tên người tạo ra chị, Helen Fielding. Ngược lại, Oscar Dufresne khó mà nổi tiếng hơn Frédéric Beigbeder, người tạo ra anh.

Nhật ký của chị được công bố năm 1996. Của anh năm 2005. Đều được viết trong những ngày tháng loạng choạng của tuổi ba mươi cộng cộng (chị ba hai, anh ba tư và ba lăm).

Nhật ký của chị dài một năm, bắt đầu từ mùa đông. Nhật ký của anh dài hai năm, bắt đầu từ mùa hè.

Thật ra chị không chia nhật ký theo mùa, mà chia theo tháng, mỗi tháng đi kèm với một cái tựa mà tựa ngắn nhất là “Huh” và dài nhất là “Severe birthday-related thirties panic”, chả có cái tựa nào ướt át. Anh thì chia nhật ký theo mùa, mỗi mùa cũng đi kèm với một cái tựa, một nửa số tựa ấy là ướt át, ví dụ, “Sự yên lặng tinh khiết của làn nước lung linh”.

Ngày nào viết nhật ký thì chị ghi thứ, ngày cụ thể, nhiều khi còn có cả giờ giấc nữa. Ngày nào viết nhật ký thì anh chỉ ghi thứ, không ghi ngày cụ thể, trừ ngày cuối cùng – thứ Hai ngày 9 tháng Chín năm 2002. À, trừ thêm cả ngày 11 tháng Chín năm mà ai cũng biết là năm nào đấy nữa.

Nhật ký của chị bắt đầu từ một ngày Chủ nhật, kết thúc bằng một ngày thứ Ba. Của anh bắt đầu từ một ngày thứ Hai, kết thúc cũng bằng một ngày thứ Hai.

Nhật ký của chị thật ra bắt đầu bằng hai trang New Year’s Resolutions liệt kê những gì chị hạ quyết tâm sẽ không làm và sẽ làm trong năm mới. Nhật ký của anh thật ra bắt đầu với một trang trích dẫn hai câu của hai ông nhà văn.

Nhật ký của chị đề tặng mẹ. Nhật ký của anh đề tặng gái.

Trong nhật ký của anh có nhắc tới chị. Nhật ký của chị dĩ nhiên chẳng có chỗ nào nhắc tới anh vì ngày chị viết nhật ký anh còn chưa hiện hồn.

Nhật ký của chị là một câu chuyện rõ ràng. Nhật ký của anh rõ ràng là có rất nhiều chuyện.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

[Ghi chú] Những giấc mơ từ cha tôi

Quyết định bổ sung thêm category “Ghi chú” cho blog này. Ghi chú không phải là review về nội dung sách như thường lệ, mà là ghi lại một vài điều gì đó về cuốn sách để những người đọc sách khác biết, ví dụ như chuyện làm sách cẩu thả.

Không phải là tôi muốn bới móc, nhưng những quyển sách được dịch, biên tập, hay làm gì đó cẩu thả không xứng đáng để người đọc tiếp tục bỏ tiền ra mua. Tôi cũng rất thông cảm với ngành xuất bản nhưng quả thực hiện chỉ biết làm phần việc của một người đọc: đòi hỏi những sản phẩm tốt hơn.

Nạn nhân đầu tiên: Những giấc mơ từ cha tôi. Bản dịch tiếng Việt do Youbooks thực hiện và xuất bản năm 2008. Youbooks thuộc Mekongcom Corp. Đơn vị liên đới xuất bản: Nhà xuất bản Văn học.

Cuốn này bìa đẹp, in ấn đẹp, chữ to dễ đọc, ảnh tác giả Barack Obama đẹp lol. Tôi đã đọc hết phần Lời tựa cho ấn bản 2004, phần Giới thiệu, và chục trang đầu của phần một. Thực ra hai phần râu ria đầu thì không vấn đề gì nhưng sang phần chính mới đọc chục trang đã thấy khá nhiều lỗi rất không đáng có, mà tôi nghĩ đó chủ yếu là lỗi người biên tập. Ví dụ, viết hoa tùy tiện, viết sai chính tả, thường xuyên lẫn giữa dấu hỏi với dấu ngã.

Bên cạnh đó, dịch cũng không được tốt. Ví dụ, “…một phần của ranh giới chưa được đặt tên ngăn cách Hướng Đông Harlem và phần còn lại của Manhattan.” ‘Hướng Đông Harlem’ là cái gì?? Đúng ra phải dịch là ‘khu Đông Harlem’, vì ‘East Harlem‘ là một khu dân cư (neighborhood).

Hoặc thế này:

…anh bạn của tôi hét lên với sự giận dữ thật ấn tượng, và chúng tôi cười nhạo vào mặt của tên chủ và con chó, thật ác nghiệt và chẵng một lời xin lỗi và cứ thế họ bỏ đi.

Tôi vui thú với những khoảnh khắc này – nhưng chỉ trong thoáng chốc. Nếu sự việc lan ra hoặc vượt đường ranh giới thì tôi sẽ sớm tìm ra lý do để bào chữa cho chính mình.

Vậy nên tôi chịu không thể đọc tiếp cuốn sách này được. Kính mong các bác làm sách cẩn thận tí cho em nhờ. Bác nào cần dịch sách thì nhắn em 😀

Leave a comment

Filed under Ghi chú

[Ghi chú] Ngay sau hoàng hôn

Just after sunset của Stephen King (xuất bản lần đầu năm 2008) có phần lời nói đầu như một lời chia sẻ của tác giả vì sao ông viết ra tập truyện ngắn này, và ông đã kết thúc như sau:

“And now, let me get out of your way. But before I go, I want to thank you for coming. Would I still do what I do if you didn’t? Yes, indeed I would. Because it makes me happy when the words fall together and the picture comes and make-believe people do things that delight me. But it’s better with you, Constant Reader.

Always better with you.”

Trong bản dịch tiếng Việt của cuốn sách – Ngay sau hoàng hôn, do Nhà sách Huy Hoàng liên kết với NXB Văn học phát hành năm 2010 – đoạn này có một lỗi dịch sai cần sửa: “better with you” đã bị dịch thành “tốt hơn cho bạn”. Đúng ra phải dịch thành “tốt hơn khi có bạn“, hoặc ít nhất cũng phải là “tốt hơn với bạn“.

Ví dụ tôi sẽ dịch đoạn viết trên như sau:

Và bây giờ tôi sẽ tránh đường cho bạn đọc sách. Nhưng trước khi tôi đi, tôi muốn cảm ơn bạn vì bạn đã đến với tôi và cuốn sách này. Nếu không có bạn liệu tôi có làm những việc mà tôi vẫn làm không? Có, thực ra thì tôi vẫn sẽ làm. Bởi vì tôi cảm thấy hạnh phúc khi những từ ngữ được ghép lại với nhau, tạo ra một bức tranh, và các nhân vật tưởng tượng làm những việc khiến tôi thấy vui vẻ. Nhưng có bạn thì tốt hơn, Độc giả Thường xuyên ạ.

Luôn luôn tốt hơn khi có bạn.

Nhân tiện cũng muốn nói thêm rằng việc gọi độc giả của mình là Constant Reader (Độc giả Thường xuyên) là một “đặc sản” của King. Ông không phải là người “chế” ra cụm từ này nhưng đó là cách mà ông “nịnh nọt” các độc giả của mình – ông thường xuyên gọi họ như vậy, và chắc là chẳng bao giờ quên viết hoa. Riêng việc ấy đã làm cho các fan của ông rất phấn khích: nhiều người luôn luôn tự hào khoe ra mình là một Constant Reader của King. Ví dụ thế này.

Trước đó đọc vài truyện trong cuốn này tôi cảm thấy rất khó hiểu, dù trước đây đọc hai cuốn khác của King tôi thấy rất thích. Bởi vậy, sau khi phát hiện ra cái lỗi trên tôi đã thẳng tay ném cuốn sách vào thùng rác, dù là một lỗi dịch ngớ ngẩn không có nghĩa là toàn bộ cuốn sách bị dịch ẩu. Tuy nhiên, khi viết bài này tôi có thấy một phản hồi về chuyện dịch cuốn sách này ở đây. Tôi copy lại phòng trường hợp có ngày đường link kia bị hỏng :D.

Bởi Nguyễn Lê Minh Nhựt 03/08/2010 11:44:57
Bản dịch có thể nói là quá tồi, quá nhiều lỗi – đôi lúc rất ngô nghê, khiến cho câu cú trở nên tối nghĩa, rối rắm. Sự ẩu tả của khâu biên dịch có thể thấy rõ. Không nên mua, vì có thể bạn đọc sẽ chẳng hiểu gì cả.

Leave a comment

Filed under Ghi chú