Những nhân vật trong Harry Potter mà tôi thích

Phải bắt đầu hơi dài dòng một chút. Cách đây mấy năm, trong một lần tâm sự với một bạn về việc tôi lúc ấy đang tính đổi nghề trở thành nhà văn (giờ thì tôi cũng đã đổi nghề nhưng không phải là nhà văn), sau khi nói chuyện xong bạn ấy về có viết cho tôi một cái email, gửi cho tôi một tấm ảnh hay là một cái video gì đó của J. K. Rowling, và viết đại ý là ai thay đổi thế giới thì bạn ấy không biết, nhưng người phụ nữ này thì đã thay đổi cuộc đời của bạn ấy.

Tôi cũng thấy hơi bất ngờ. Dĩ nhiên Harry Potter là một bộ sách tuyệt vời. Tôi cũng rất thích bộ truyện này, chỉ là nó không có ảnh hưởng đến tôi một cách lớn lao đến như vậy nên tôi cũng chưa từng nghĩ đến việc nó có thể là bộ sách thay đổi cuộc đời của một ai đó. Nhưng sau thì chúng tôi không nói chuyện thêm và tôi cũng không nghĩ ngợi gì thêm về chuyện đó.

Tuần trước, tôi vô tình xem lại một tập phim Harry Potter, thế là lại nghĩ ngợi về bộ truyện rồi lục lọi trên mạng đọc thêm một vài thứ, trong đó có việc các nhân vật trong Harry Potter thuộc cung hoàng đạo nào. Thế rồi đột nhiên tôi nhớ lại câu chuyện năm xưa với người bạn và cũng nhớ ra rằng thằng bạn tôi nó thuộc cung Sư Tử! Bảo sao mà bộ truyện này ảnh hưởng tới nó mạnh mẽ như thế. Harry Potter thuộc cung Sư Tử, J. K. Rowling cũng thuộc cung Sư Tử. Hay chính xác hơn, Harry Potter chính là một phần nào đó trong tâm thức của Rowling. Thậm chí bà ấy đã lấy chính sinh nhật của mình làm sinh nhật cho cậu bé. 31/07 – definitely a Leo!

Và việc này có lẽ cũng có thể giải thích một phần lý do tại sao tôi thích bộ truyện này nói chung nhưng không cảm thấy gắn bó một cách đặc biệt với nó. Thông thường, chúng ta thích một cuốn sách, một câu chuyện nào đó là bởi chúng ta cảm thấy gần gũi với các nhân vật trong ấy, cảm thấy chúng ta rất giống họ ở nhiều điểm. Tôi thích cái thế giới pháp thuật vô cùng giàu có về chi tiết và lắt léo về cấu trúc mà Rowling vẽ ra, nhưng tôi lại không nhìn thấy mình nhiều lắm trong các nhân vật chính của bộ truyện này. (Nhân tiện, tôi thuộc cung Bảo Bình, cung của ông Weasley và Luna Lovegood.)

Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi không có các nhân vật yêu thích trong Harry Potter. Nãy giờ là nói lan man chơi chơi, giờ tôi sẽ viết về các nhân vật mà tôi thích nhất trong bộ truyện này.

Thầy Dumbledore

Tôi nghĩ là đứa trẻ nào đi học cũng sẽ thích có một thầy giáo như là thầy Dumbledore. Đây chắc chắn là một trong những nhân vật mà tôi thích nhất.

Có một thời gian khá dài, không rõ bắt đầu từ bao giờ nhưng phải kéo dài tới tận một hai năm đầu những năm ba mươi tuổi, tôi hay có cái cảm giác thèm có một mentor. Một người lớn tuổi, có kinh nghiệm, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trên đường đời. Không phải là khuyên bảo điều hay lẽ phải, hay phải chỉ cho tôi chính xác phải làm cái gì, mà là một người lắng nghe mình khi mình cần, cho mình một lời khuyên, giúp mình hiểu thêm về cuộc sống, để mình trưởng thành với bớt lo lắng, bớt hoang mang, và bớt dằn vặt hơn. Một người giống như thầy Dumbledore.

Thực ra trong cuộc sống, tôi cũng gặp được những người như thế, chẳng qua tôi không có cơ hội được làm việc hay làm bạn với họ trong thời gian dài, mà chỉ là những quãng thời gian ngắn ngủi, khiến tôi sau đó lại càng hay cảm thấy nuối tiếc. Cũng mất một thời gian dài, nhưng giờ thì tôi đã học được cách tự làm chủ cuộc sống của chính mình, không còn trông chờ một mentor nào nữa.

Bởi vậy tôi rất thích cái chi tiết trong tập 3 khi Harry Potter cứ chờ đợi mãi con hươu thần, hiện thân của cha mình, tới cứu mình-trong-quá-khứ bên bờ hồ, nhưng rồi cuối cùng chợt nhận ra rằng, sẽ chẳng có con hươu thần nào cả, mà cậu sẽ phải tự cứu lấy chính mình-trong-quá-khứ. Và đó là lúc Harry gọi được thần hộ mệnh của mình, và hóa ra đó cũng chính là con hươu đã tới cứu Harry-trong-quá-khứ.

Nhưng đó là chuyện sau này. Mãi sau tôi mới có thể làm được như Harry trong cuộc đời thực của chính mình. Còn ngày mới đọc Harry Potter, tôi rất mê thầy Dumbledore. Đó chính xác là mẫu mentor mà tôi vẫn mơ có được. Một người thông thái, thấu hiểu mọi điều, nhưng rất gần gũi, thực tế, và hài hước chứ không giáo điều, không cấm đoán mà gợi mở, và thường không né tránh những câu hỏi của những người trẻ. Khi đọc Harry Potter, thầy Dumbledore là một nhân vật làm tôi cảm thấy rất ấm lòng.

Fred & George

Nếu tính trong “thế hệ trẻ” trong Harry Potter, tôi chính ra thích nhất cặp song sinh nhà Weasley. Mặc dù hai nhân vật này được cho là thuộc cung Bạch Dương, không phải cung của tôi, nhưng tôi lại thấy họ gần với mình nhất – hài hước, thích bày trò vui vẻ, và không thích các thể loại luật lệ nào sất. Tôi thì không hay chọc phá người khác như họ, cũng không biết làm kinh tế như họ, cũng chẳng đủ can đảm bỏ học khi có biến như họ, nhưng cơ bản tôi cũng yêu tự do như họ, và giờ cũng đang ung dung tự tại sống một cuộc đời không giống với số đông, về cơ bản cũng chẳng sợ trời sợ đất gì.

Charlie & Bill Weasley

Fred và George không phải là những cá tính điên rồ nhất trong nhà Weasley. Về cơ bản, tôi rất thích cái gia đình này. Sau cặp sinh đôi thì tôi thích nhất hai anh Charlie và Bill. Có lẽ thích anh Charlie nuôi rồng hơn, nhưng quả thật tôi không nhớ nhiều chi tiết về hai anh này, và hình như còn lẫn lộn giữa hai người. Bữa nào phải đọc truyện lại mới rõ hơn được. Nhưng tôi nhớ là cả hai anh đều rất ngầu. Cả hai đều là Nhân Mã.

Bác Hagrid

Nhắc đến Nhân Mã là phải nhắc đến bác Hagrid. Đây cũng là một nhân vật mà tôi rất thích. Chắc tôi thích những người hoang dã. Với bác Hagrid thì còn là vì tôi cũng khá thích động vật nói chung. Nếu theo học ở Hogwarts, nhất định tôi sẽ thích môn học của bác Hagrid nhất. Sẽ tình nguyện xin làm phụ tá, trợ giảng cho bác, rồi làm trợ lý chăm nom các con vật nuôi cho bác. Rồi nếu thế giới mà yên bình thì học xong sẽ xin ở lại trường dạy môn Sinh vật huyền bí! B-) (Đấy là nếu không theo chân anh Charlie sang Rumani nuôi rồng!)

Tôi cũng thích được sống trong một cái lều ở bìa rừng như bác Hagrid, hàng ngày đi chăm nom các con vật, tối đến ngồi chơi với Fang hoặc đi thăm Aragog, trong nhà lúc nào cũng sẵn kẹo bánh và trà ngon để tiếp đãi những người bạn thường xuyên đến thăm, kể cả khi chúng nó chui vào cái áo khoác tàng hình mà đến gõ cửa nhà tôi lúc đêm muộn!

Neville Longbottom

Nhắc tới một người thích động vật thì tôi lại nhớ tới một người thích thực vật, cũng là một nhân vật tôi thích, đó là Neville Longbottom. Có lẽ tôi cảm thấy gần gũi với nhân vật này là bởi tôi trước đây cũng là một đứa trẻ nhút nhát, nhưng rồi giống như Neville, cũng học được cách trở thành một con người mạnh mẽ hơn, biết rất rõ mình là ai, mình theo đuổi những giá trị nào.

Ngoài ra thì Neville còn có một câu chuyện quá khứ về gia đình cũng hơi phức tạp, nên câu chuyện về cuộc đời và sự trưởng thành của cậu bé này cũng trở nên thú vị. Có lẽ sau này khi đọc lại bộ Harry Potter tôi sẽ viết một bài riêng về Neville.

Neville hóa ra lại thuộc cung Sư Tử.

Molly Weasley

Rõ ràng là những nhân vật mà tôi thích nhất kể ra nãy giờ đều thuộc các cung lửa. Giờ thì sẽ đến một cung nước. Rất tiếc là tôi không đặc biệt thích nhiều nhân vật nữ trong Harry Potter (mặc dù giáo sư McGonagall và Luna Lovegood cũng là những nhân vật rất đáng yêu, bên cạnh Hermione siêu phàm), nhưng tôi có thể nói nhân vật nữ mà tôi thích nhất chính là bà Weasley.

Nhìn chung thì tôi rất ngưỡng mộ những người phụ nữ có cá tính mạnh, không nhất thiết phải là lãnh đạo thành đạt hay nữ anh hùng siêu nhân gì đó, mà chỉ cần là một người phụ nữ hét ra lửa nhưng cũng rất đáng yêu như bà Molly trong một gia đình với một ông chồng Bảo Bình lúc nào cũng say mê đủ thứ kỳ quặc, mấy thằng con “trời đánh” toàn làm những thứ điên rồ, phá bỏ các thể loại luật lệ, rồi sống những cuộc đời tự do tự tại chẳng giống ai, rồi một thằng con “cừu đen” lầm lỡ như Percy, và một cô con gái út cứng cỏi.

Như tôi đã từng đọc ở đâu đó không nhớ, bà Molly chính là chất keo gắn kết mọi người trong nhà Weasley lại thành một cái gia đình. Thú thực, tôi cũng có một bà mẹ Bọ Cạp và một người yêu tự do như tôi cũng thấy hơi mệt khi mẹ tôi đôi khi cũng kiểm soát hơi nhiều và không thích tôi phá cách hay làm cái gì khác với số đông. Nhưng quả thật cũng giống như bà Weasley, mẹ tôi cũng là chất keo tạo nên gia đình tôi, cái tập thể mà mỗi người một phách.

Bà Weasley không chỉ tạo thành một cái gia đình cho ông chồng mơ mộng và một đàn con đông đúc. Bà còn cho Harry cái hơi ấm gia đình mà cậu bé không có, dĩ nhiên là từ rất lâu trước khi cậu bé sau này lại trở thành con rể của bà. Nhưng có lẽ chính từ sự xuất hiện của gia đình Weasley mà đặc biệt là sự quan tâm, che chở, yêu thương ấm áp mà bà Weasley dành cho Harry chẳng khác gì một đứa con của mình đã khiến Rowling nghĩ tới việc cho cậu bé gia nhập gia đình họ luôn bằng cách cưới luôn cô con gái duy nhất trong nhà!

Ron Weasley

Nhân nói đến bà Weasley thì cũng nên nhắc tới Ron, một thanh niên cung Song Ngư, cũng là một cung nước. Trong ba nhân vật chính, chính ra tôi lại thích Ron nhất. Đối với tôi, Harry và Hermione đều hơi siêu phàm, đều có năng lực và khí chất hơn người, nhất là người bình thường như tôi. Bởi vậy trong bộ ba bọn họ, tôi đâm ra lại cảm thấy gần gũi với Ron hơn. Tôi thì không hay xúc động như Ron, nhưng ở Ron có nhiều suy nghĩ, cảm xúc, và hành động giống một người bình thường trong thế giới thực. Chính điều đó giúp cho bộ sách này trở nên “thực” hơn và khiến bộ ba Harry – Ron – Hermione trở nên thú vị và cân bằng hơn.

Tôi nghĩ một trong những chi tiết thú vị nhất trong bộ sách chính là việc Ron sau này lại thành đôi với Hermione, chắc chắn nằm ngoài sự hình dung cũng như mong đợi của nhiều độc giả. Tôi thì không phải fan đẩy thuyền cho cặp Hermione và Harry nhưng cũng chẳng nghĩ gì về Ron và Hermione cả. Nhưng tôi nể bà Rowling ở việc đẩy thuyền cho cặp Song Ngư – Xử Nữ (Đất và Nước) này. Rõ ràng các diễn biễn bất ngờ và khó đoán của Harry Potter chính là một điểm độc đáo, nổi bật của bộ truyện và khiến người người từ khắp nơi trên thế giới cảm thấy mê mẩn.

Sirius Black

Nhắc đến các cung nước mà suýt nữa thì tôi quên mất Sirius Black. Anh này cũng thuộc cung Bọ Cạp giống bà Molly, nhưng có vẻ cũng rất phóng khoáng, phong trần, lãng tử, giống như một Nhân Mã. Trong bộ truyện Harry Potter, không hiểu sao tôi thích nhất tập 3 với câu chuyện của Sirius Black. Và khi đọc tập 5 không hiểu sao tôi cũng đoán được là Sirius sẽ chết.

Tôi hiểu tại sao Rowling lại tạo ra Sirius Black. Harry Potter là một đứa trẻ mồ côi lớn lên lúc nào cũng tưởng nhớ về cha mẹ mình và thèm khát có được một gia đình. Với một cậu bé như thế, quá trình trưởng thành nhất định sẽ đặc biệt hay nghĩ về người cha, giống như kiểu tôi đã nghĩ về một mentor vậy. Tuy Harry đã có thầy Dumbledore, nhưng thầy lại giống một mentor, và có lẽ giống một người ông hơn là một người cha. Anh em thì đã có Ron. Vậy thì phải có một nhân vật nào đó giông giống như một người cha đối với Harry. Còn gì hơn là một người cha đỡ đầu, lại chính là người bạn thân nhất của cha mình?

Nhưng Sirius phải có một cuộc đời éo le. Bởi, có lẽ ý tưởng của nhà văn khi xây dựng câu chuyện về cuộc đời của cậu bé Harry Potter là cậu ấy sẽ trưởng thành, sẽ vượt qua nhiều khó khăn, biến cố, nhưng đó cũng là một hành trình vô cùng gian nan. Nếu Sirius là một người bình thường, sống một cuộc đời bình thường, dang tay đón nhận Harry như một đứa con trai, trở thành người cha thứ hai của cậu, xong hai người sống hạnh phúc mãi mãi thì câu chuyện sẽ không còn gì để kể.

Bởi thế Sirius phải có một cuộc đời éo le. Xuất hiện rồi, tưởng như được giải oan rồi, chuẩn bị bước từ bóng tối ra ánh sáng đến nơi rồi, thì lại phải trôi dạt nơi chân trời góc bể, chỉ có thể giao tiếp và giúp đỡ cho Harry một cách rất hạn chế mà thôi. Harry, vì thế, cũng buộc phải học cách trở nên mạnh mẽ hơn. Nhìn chung, đó là cách mà con người trưởng thành (và sống sót).

Có lẽ cũng chính bởi nghĩ theo cái logic ấy mà khi đọc tới giữa tập 5 tôi đã dự cảm được cái chết của Sirius. Nói một cách hơi phũ phàng thì để tạo thêm khó khăn cho hành trình của Harry, tác giả sẽ không chỉ tạo ra thêm thử thách, thêm biến cố, thêm những cuộc phiêu lưu, mà còn phải tăng thêm sự bi thảm trong những trải nghiệm của Harry, cũng như những người khác, mà cái chết của Sirius gần như mới là sự khởi đầu, mà sau này tới cuối bộ truyện như chúng ta đã biết, còn có nhiều mất mát đau thương nữa, trong đó có sự ra đi của hai trong số những nhân vật mà tôi yêu thích kể trên.

Đúng ra thì cái chết đã được nhắc đến ngay từ tập đầu tiên, nhưng trong ba tập đầu đều là chuyện quá khứ. Tới tập thứ tư mới bắt đầu có một cái chết ở diễn biến hiện tại của câu chuyện, nhưng dù sao Cedric cũng là một nhân vật phụ, không tạo nên những cảm xúc quá mạnh mẽ với người đọc. Với Harry thì mạnh hơn vì cậu bé phải trực tiếp chứng kiến sự việc. Phân đoạn này Daniel Radcliff đã diễn rất tốt trên phim.

Sự ra đi của Sirius giống như là đã hoàn thành vai trò của mình trong cuộc đời của cậu bé Harry Potter. Bản thân Rowling cũng chia sẻ là đã phải khóc khi viết về diễn biến này.

Harry Potter

Cuối cùng, kể kết lại bài này, tôi cũng nên nhắc tới Harry Potter. Harry Potter dĩ nhiên là một nhân vật tuyệt vời mà Rowling đã tạo ra. Một cuộc sống, một hành trình trưởng thành với quá nhiều biến động. Có thể nói là một cuộc đời phi thường. Nhưng chính cái sự phi thường, cái sự hơn người ấy lại khiến tôi không hình thành một gắn kết đặc biệt về mặt cảm xúc ở góc độ cá nhân với nhân vật này.

Chắc chắn tôi sẽ viết nhiều hơn về nhân vật Harry Potter, cũng như về bộ sách này, nhưng phải trong các bài viết sau. Tới giờ thì tôi mới đọc (gần hết) bộ truyện này có một lượt, mà cách đây cũng lâu rồi. Năm nay thì đã gần hết, hy vọng sang năm tôi sẽ có thể bắt đầu đọc lại bộ truyện này, lần lượt từng cuốn một, và sau đó thì sẽ có nhiều điều để viết hơn.

Giờ thì xin dừng tại đây. Chúc mọi người một cuối tuần vui vẻ!

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết viễn tưởng

Các tác giả yêu thích của tôi qua từng thời kỳ (P2)

Phần 1 của loạt bài này xem tại đây.

3. J. K. Rowling

Sau giai đoạn đọc Nguyễn Nhật Ánh, tôi đến với Harry Potter của J. K. Rowling. Cũng giống với Nguyễn Nhật Ánh, tôi chỉ nhận ra tôi đã đọc Rowling nhiều hơn nhiều so với đa số các tác giả khác và bà thực ra là nhà văn nữ mà tôi đọc nhiều nhất. Chẳng qua tất cả những gì tôi đọc đều nằm trong bộ Harry Potter nên tôi không có cảm giác là tôi đã đọc nhiều. Cũng giống như với Nguyễn Nhật Ánh, tôi gắn kết với các tác phẩm của Rowling hơn là với tác giả, đọc là đọc thôi, không quan tâm tác giả là ai, không đo đếm xem mình đọc được bao nhiêu, nhiều hay ít so với các tác giả khác. Thậm chí, có một thời gian tôi cứ loay hoay cố gắng đi tìm một tác giả nữ mà mình thích, cho tới một ngày, lại cũng giống như với Nguyễn Nhật Ánh, chỉ khi nhìn vào con số thống kê ‘most read authors’ trên GoodReads tôi mới nhận ra rằng, kể cả khi tôi vẫn chưa đọc hết cuốn Harry Potter cuối cùng thì với niềm yêu thích đặc biệt dành cho bộ sách này, J. K. Rowling cũng đã từ lúc nào trở thành một tác giả yêu thích của tôi, dù tôi chưa bao giờ nhận ra điều đó.

Harry Potter được dịch ra tiếng Việt và xuất bản lần đầu vào những ngày tôi học cấp 3. Vậy nên có thể nói đây là bộ truyện yêu thích nhất của tôi ở giai đoạn cuối tuổi teen và đầu những năm tuổi hai mươi. Đến giờ cũng không có cuốn sách nào mà tôi tuần nào cũng phấp phỏng chờ đợi một bản dịch mỏng dính chỉ là một phần của cuốn sách gốc để rồi lao đầu vào đọc một hơi cứ như thể đọc không nhanh thì quyển sách sẽ biến mất vậy. Những ngày học thi đại học vất vả, căng thẳng chỉ có thể làm tôi trì hoãn đọc một vài cuốn một thời gian ngắn nhưng rồi cũng mau chóng lôi ra đọc cho xong thì mới yên lòng.

Ý tưởng viết loạt bài này (thực ra sẽ tạm thời dừng ở bài thứ hai là bài này, vì đến giờ cũng chỉ có bốn tác giả tôi coi là tác giả yêu thích) đến với tôi vào sáng hôm nay khi ngồi xem phần 4 của bộ phim, không biết đến lần thứ bao nhiêu rồi, thuộc lòng không biết bao nhiêu chi tiết, mà vẫn thấy háo hức và xúc động.

Càng nghĩ lại càng thấy cái thế giới pháp thuật mà Rowling đã vẽ ra có rất nhiều điều tôi muốn tìm hiểu lại và nghiên cứu thêm. Cũng như Nguyễn Nhật Ánh, thế giới mà Rowling vẽ ra giống như một thứ ánh sáng thắp lên trong lòng những người trẻ để họ có một cái gì đó tốt đẹp mà nắm giữ lấy trước khi bước ra thế giới khắc nghiệt ngoài kia.

Harry Potter không chỉ nói về thiện – ác. Harry Potter là bộ sách về lòng dũng cảm cần có để đối diện với mất mát, với quá khứ, với sự sợ hãi, hay là với chính mình. Harry Potter là một thế giới được gây dựng và gìn giữ bởi tình cảm giữa con người với con người, trong đó nổi bật nhất là tình bằng hữu, bên cạnh tình thầy trò cũng như tình cảm gia đình. Một thế giới đã liên tục bị xé nát bởi những tham vọng mù quáng và xung đột, cũng như thế giới thực mà chúng ta đang sống.

Trong 6 cuốn sách đầu, dù cuốn nào cũng rất hấp dẫn và khó đoán, không hiểu sao tôi thấy thích nhất là tập 3 với câu chuyện của Sirius Black. Cuốn mà tôi ít thích nhất có lẽ là tập 5. Còn cuốn cuối cùng của bộ truyện sở dĩ tôi đến giờ này vẫn đang bỏ dở là bởi tôi đọc 6 tập trước đó bằng tiếng Việt nhưng đọc cuốn cuối cùng bằng tiếng Anh nên có quá nhiều thuật ngữ tôi chỉ biết phiên bản tiếng Việt chứ đọc tiếng Anh thấy rất xa lạ. Một phần lý do còn là thời gian đứt quãng giữa tập 6 và tập 7 cũng là thời điểm có nhiều thứ khác chen chân vào cuộc sống của tôi, đồng thời sự hứng thú của tôi với bộ truyện cũng giảm đi nhiều sau tập 5.

Có lẽ để đọc nốt tôi nên tìm đọc bản dịch tiếng Việt của tập 7. Một ước muốn hơi xa vời là khi nào đó sẽ đọc bộ truyện này bằng tiếng Anh.

4. Haruki Murakami

Chắc cũng chẳng có gì nhiều để viết về Haruki Murakami ở đây nữa vì tôi đã viết review các sách của ông mà tôi đọc khá nhiều trên blog này. Trong bốn tác giả mà tôi viết ở loạt bài này, Murakami là người tôi tiếp cận sau và cũng là tác giả gắn bó với những năm tuổi hai mươi của tôi nhiều nhất.

Cuốn đầu tiên của ông mà tôi đọc là Rừng Na-Uy. Tôi đã đọc nó lần đầu vào năm 2007, rồi sau đó đọc lại nhiều lần, cả bản tiếng Việt và bản tiếng Anh. Nó cũng là cuốn sách tôi thấy ám ảnh nhất. Nó chạm tới cái cảm giác chơi vơi, trống rỗng, buồn nản ở trong lòng mà tôi không sao gọi tên hay cắt nghĩa được trong một thời gian dài. Chỉ biết rằng nó có ở đó, như một cái gì đó mắc kẹt trong lồng ngực, muốn thoát ra mà không thoát được. “[A]s that knot of air inside me.” (tr. 25)

“I lived through the following spring, at eighteen, with that knot of air in my chest, but I struggled all the while against becoming serious.” (tr. 25) – Những dòng viết kiểu như thế này đã từng như chảy từ trong tâm can của tôi ra vậy. Murakami giống như là đã cho tôi một thứ ngôn ngữ để tôi nói chuyện với chính mình.

Sau cuốn Rừng Na-Uy thì, giống như nhiều độc giả khác của ông, tôi lao vào đọc Murakami như một người nghiện. Như đã kể ở phần trước, sau cuốn thứ 10 thì tôi quyết định dừng đọc để cai nghiện Murakami. Đồng thời đó cũng là thời điểm mà bản thân tôi có nhiều thay đổi, cuộc sống cũng bước sang một trang mới, nên tôi cũng cảm thấy không có nhu cầu gắn bó nhiều với thế giới của Murakami nữa.

Tiếp theo sẽ là ai?

Thật ra thì là ai cũng không quan trọng. Với tôi thì đọc sách cũng như nhiều thứ khác trong cuộc sống, nó cũng là tùy duyên thôi. Kể từ khi chủ động ngừng đọc Murakami từ vài năm trước, tôi bắt đầu tìm đọc các tác giả khác, trong đó có cố gắng ưu tiên các tác giả Việt và các tác giả nữ để bớt bị đọc lệch. Nhưng mấy năm nay tôi cũng không có thêm tác giả yêu thích nào.

Sáng nay ngồi xem Harry Potter xong, tự dưng tôi nghĩ, thay vì việc cứ mở rộng việc đọc, hay là tôi nên quay lại với không chỉ các tác giả cũ mà cả những cuốn sách cũ, ví dụ ngay như Harry Potter và J. K. Rowling. Mới chỉ đọc có một lượt, hẳn là có nhiều chi tiết giờ đây đọc lại sẽ thấy thú vị. Vả lại, cũng nên đọc bản tiếng Anh nữa.

Nếu mà tôi có năng lực làm được những gì mình nghĩ là mình muốn làm, thì hẳn tác giả tiếp theo tôi sẽ đọc là J. R. R. Tolkien. Cũng giống series phim Harry Potter, tôi đã xem loạt phim chuyển thể từ các cuốn sách của Tolkien không biết bao nhiêu lần rồi, và lần tới mở TV đúng lúc chiếu mấy phim này hẳn sẽ lại dán mắt vào xem cho mà xem. Đặc biệt là các tập phim Hobbit ấy. Cũng đã nghĩ tới việc tìm đọc sách từ lâu rồi, nhưng vẫn chưa đủ động lực kiếm sách về đọc. Nên đây cứ tạm coi là một ý tưởng viển vông đi.

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Các tác giả yêu thích của tôi qua từng thời kỳ (P1)

Tính đến thời điểm này (3/11/2019), tôi đã đọc khoảng hơn 220 cuốn sách, khoảng một phần ba số đó là của các tác giả Việt Nam và chưa tới một phần ba (nhưng hơn một phần tư) là của các tác giả nữ. Cái này là theo thống kê của trang GoodReads dựa trên liệt kê về sách đã đọc theo trí nhớ của tôi. GoodReads không có thống kê về số lượng tác giả đã đọc nên tôi cũng không biết con số chính xác, nhưng vì thường mỗi tác giả tôi không đọc quá nhiều sách của họ nên tôi đoán số lượng tác giả tôi đã đọc là khoảng 200 người. 

Trước đây GoodReads có làm thống kê và liệt kê về những tác giả được đọc nhiều nhất của mỗi người dùng (‘most read authors’), một tính năng mà tôi rất thích nhưng đáng tiếc đã bị gỡ bỏ năm nay (2019) do ít người tương tác. Mặc dù vậy, như đã nói ở trên, mỗi tác giả tôi thường không đọc quá nhiều nên nhắm mắt lại tôi cũng biết tôi đã đọc ai nhiều nhất.

Tác giả tôi đã đọc nhiều nhất là nhà văn Nguyễn Nhật Ánh – người mà tôi đã đọc chính xác là không thể đếm được bao nhiêu quyển. Tác giả tôi đã đọc nhiều thứ hai là Haruki Murakami – 10 cuốn và con số đang tạm dừng lại ở đó là bởi tôi quyết tâm cai nghiện bác này. Tác giả thứ ba là J. K. Rowling với 6 cuốn Harry Potter và một phần cuốn thứ 7. Kế đó là một vài tác giả tôi đã đọc của họ ba cuốn, nhưng hầu hết đều không phải là những tác giả yêu thích của tôi.

Thực ra tôi không có nhiều tác giả yêu thích. Ngoài ba người kể trên, tôi chỉ có thể nghĩ tới một cái tên khác – E. B. White – người mà tôi đã đọc ba cuốn và cũng là tác giả đầu tiên mà tôi thật sự yêu thích. Thật ra cũng có một vài cái tên khác – như Jack London, Dale Carnegie, Jared Diamond hay Paul Auster – mà tôi rất ấn tượng với một hoặc hai cuốn sách nào đó của họ nhưng cũng chưa đọc được quá, thậm chí chưa đọc hết, cuốn thứ hai nên tôi thật sự không thể nói họ là những tác giả yêu thích của tôi được.

Nhìn lại bốn tác giả này, tôi nhận thấy rằng hầu hết họ là những tác giả yêu thích trong từng giai đoạn khác nhau của cuộc đời đọc sách của tôi từ nhỏ đến giờ. Hôm nay tôi sẽ viết một chút về trải nghiệm của tôi khi đọc sách của họ.

1. E. B. White

Đây sẽ là tác giả duy nhất trong bốn tác giả tôi sẽ viết một chút về tiểu sử của ông trước khi kể chuyện tôi đã đọc sách của ông như thế nào. Còn ba người kia đã quá nổi tiếng nên tôi sẽ không nói gì về tiểu sử, thân thế của họ cả.

E. B. White tên đầy đủ là Elwyn Brooks White, sinh ngày 11/07/1899 (cung Cự Giải) tại thành phố Mount Vernon, bang New York, Mỹ – một thành phố trung bình rất gần với thành phố New York. Ông tốt nghiệp Đại học Cornell năm 1921. Tại Cornell, ông là một biên tập viên của tờ The Cornell Daily Sun. Sau khi tốt nghiệp, ông làm việc như một cây viết tự do và gia nhập The New Yorker vào khoảng năm 1926-1927. Năm 1929, White cưới biên tập viên văn học đầu tiên của tạp chí này – bà Katherine Angell – sau khi bà ly dị với người chồng trước. Hai người sống với nhau tới tận khi bà Katherine mất vào năm 1977. Hai người có một người con trai – Joel White, một kiến trúc sư hàng hải chuyên thiết kế tàu, đã mất năm 1997 do ung thư phổi.

White nổi tiếng nhất với ba truyện thiếu nhi, lần lượt là Stuart Little (xuất bản năm 1945, tức là khi ông 46 tuổi), Charlotte’s Web (xuất bản năm 1952, khi ông 53 tuổi), và cuối cùng là The Trumpet of The Swan (xuất bản năm 1970, khi ông 71 tuổi). Ba cuốn này đều đã được dịch ra tiếng Việt và tái bản nhiều lần với các tựa Nhắt Stuart, Mạng nhện của Charlotte, và Chiếc kèn trumpet của thiên nga. Tuy nhiên, tôi không biết chúng được dịch từ khi nào và đến giờ có bao nhiêu bản dịch tiếng Việt. Tôi đã đọc bản dịch tiếng Việt của  Charlotte’s Web The Trumpet of The Swan từ giữa những năm 1990.

Ngoài ra, White còn xuất bản nhiều sách do ông viết hoặc biên tập, trong đó có thơ và tiểu luận. 

White giành được nhiều giải thưởng, trong đó đáng chú ý có Newbery Medal (1953) cho cuốn Charlotte’s Web – giải thưởng văn học đầu tiên ông nhận được, và Pulizer Prize Special Citation for Letters năm 1978 – cũng là giải thưởng cuối cùng ông nhận được.

White mất ngày 1/10/1985 tại nhà riêng tại Brooklin, một thị trấn nhỏ ở bang Maine, thọ 86 tuổi. Ông được chôn cạnh mộ của vợ mình tại Nghĩa trang Brooklin.

Tư liệu tham khảo: 

https://en.wikipedia.org/wiki/E._B._White (truy cập ngày 03/11/2019)

https://en.wikipedia.org/wiki/Mount_Vernon,_New_York (truy cập ngày 03/11/2019)

https://www.britannica.com/biography/E-B-White (truy cập ngày 03/11/2019)

https://en.wikipedia.org/wiki/Joel_White (truy cập ngày 03/11/2019)

Tôi đã đọc cả ba cuốn truyện thiếu nhi của E. B. White và cũng chỉ dừng ở đó. Thực ra tôi chỉ đọc Mạng nhện của CharlotteChiếc kèn trumpet của thiên nga hồi còn nhỏ, có lẽ đâu đó đầu những năm 1990. Mãi cách đây không lâu tôi mới tìm đọc Stuart Little (bản tiếng Anh), chỉ để đọc cho đủ bộ ba cuốn này. Thật ra ngày trước không có internet, cũng chẳng có thông tin gì, nên tôi hoàn toàn không biết tới cuốn Stuart Little của White. Sau này lớn lên cũng biết loáng thoáng có phim Stuart Little nhưng hoàn toàn không biết nó được dựa trên cuốn sách của White và cũng là một tác phẩm văn học thiếu nhi nổi tiếng. Khi biết tới Stuart Little (phim) có lẽ tôi đã lớn nên đã không có ý định xem hay tìm hiểu gì thêm về nó.

Cuốn sách đầu tiên của White mà tôi đọc là Mạng nhện của Charlotte, một cuốn sách tôi được tặng. Đến giờ, đây vẫn là cuốn truyện thiếu nhi mà tôi thích nhất (nếu chỉ tính truyện chữ, không tính truyện tranh). Nhưng giờ tôi không còn giữ được cuốn sách đó. Năm 2006, khi mẹ tôi đi công tác ở Singapore có hỏi tôi thích mua gì, tôi đã xin mua cuốn này bằng tiếng Anh. (Khi đó tôi đã ngoài 20 tuổi.) Đó là bản tái bản của Puffin Books năm 2003, với tranh minh họa của Garth Williams. Bẵng đi một thời gian sau tôi mới nhìn thấy bản dịch tiếng Việt cuốn sách này tại các nhà sách với cái bìa y chang như bìa cuốn sách tiếng Anh mà tôi có. Dĩ nhiên, bản dịch tiếng Việt trước đây tôi đọc không có những hình minh họa này. Thực ra tôi chưa bao giờ đọc cuốn sách tiếng Anh này, chỉ giữ cẩn thận trong tủ sách như một cuốn sách quý. 

Chiếc kèn trumpet của thiên nga thì tôi vô tình tìm thấy trên giá sách của Thư viện Hà Nội trong một ngày hè lang thang xem sách trên thư viện. Ngày ấy tôi chưa có thói quen chủ động tìm kiếm sách của tác giả mà mình thích nên việc tìm thấy cuốn sách này chỉ là tình cờ. Không rõ là do cuốn sách ấy giới thiệu là cùng tác giả với cuốn Mạng nhện của Charlotte hay do tôi đã nhận ra cái tên E. B. White nên đã rất hào hứng khi mượn về, nhưng tôi nhớ là đã mượn cuốn ấy vì cái tên E. B. White. Cuốn này đọc xong tôi cũng rất thích, nhưng vẫn thích Mạng nhện của Charlotte hơn.

Stuart Little thì như đã nói, tôi đọc mãi về sau này, tức là phải ngoài 30 tuổi, chỉ để đọc cho đủ bộ ba nổi tiếng của White, thành ra cũng không có nhiều ấn tượng.

Tuy vậy, chỉ riêng cuốn Mạng nhện của Charlotte cũng đã đủ để E. B. White trở thành một tác giả yêu thích của tôi. Cuốn truyện này cũng là một trong những cuốn sách hay nhất mà tôi đã từng đọc, tính trong tất cả hơn 220 cuốn sách mà tôi đã đọc tính đến thời điểm này, và có lẽ là trong cả cuộc đời này luôn. Có thể nói rằng Mạng nhện của Charlotte và E. B. White là một phần quan trọng trong cuộc đời đọc sách thời thơ ấu của tôi.

2. Nguyễn Nhật Ánh

Trong số bốn tác giả này, Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn Việt Nam duy nhất và đồng thời cũng là người duy nhất mà tôi đã đọc không biết bao nhiêu cuốn – cái này chính xác là cái mà người ta vẫn gọi là không đếm được. Nói thật, nếu nhìn vào danh sách những cuốn sách đã xuất bản của bác Ánh tôi cũng không nói được chính xác cuốn nào tôi đã đọc, cuốn nào tôi chưa đọc. Và dĩ nhiên là đọc nhiều thế thì không phải cuốn nào tôi cũng nhớ được nội dung. Trên blog này tôi cũng viết review được cho nhõn một cuốn. Cũng không phải cuốn tôi thích nhất hay có gì đặc biệt, chỉ là cuốn tôi đọc sau này và nhân tiện đang chạy blog này thì tôi viết thôi.

Hầu hết những cuốn sách của bác Ánh tôi đọc ngày còn tuổi teen, tức là những năm học cấp hai và cấp ba. Tôi vẫn nhớ cuốn đầu tiên mà tôi đọc là Thằng quỷ nhỏ, và đọc đến cuối truyện thì tôi đã khóc. Sau đó thì tôi mải miết đọc hết cuốn này đến cuốn khác, hầu hết là đi mượn thì phải, và dĩ nhiên chẳng bao giờ nhớ hay đếm xem mình đã đọc bao nhiêu quyển. Chỉ nhớ là cứ thấy mấy cuốn truyện của bác Ánh là lao vào đọc. Ngày ấy Nhà xuất bản Trẻ xuất bản rầm rộ một đợt rất bài bản, tất cả sách đều cùng một khổ, cùng kiểu thiết kế nên rất dễ nhận dạng.

Ngày ấy, tất cả những gì tôi biết về tác giả Nguyễn Nhật Ánh chỉ là một cái tên không hơn không kém. Thật tình mà nói, ngày ấy tôi chỉ lao đầu vào đọc thôi, chẳng hề mảy may nghĩ ngợi xem tác giả là ai, đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ, viết những sách gì, nên khỏi phải nói đến những chuyện khác.

Trước đây. tôi cũng không nhận ra rằng nhà văn Nguyễn Nhật Ánh là một trong những tác giả mà tôi yêu thích nhất và có lẽ đã có ảnh hưởng không nhỏ đến tôi trong quá trình trưởng thành. Tôi chỉ đơn giản là đã đọc truyện của bác Ánh một cách tự nhiên như ăn ngủ với hít thở vậy. Sau này, khi bắt đầu nghĩ ngợi về chuyện ai là tác giả yêu thích của mình thì tôi đã bước sang một giai đoạn khác, đọc những thứ khác. Lúc ấy, mỗi khi nghĩ đến văn học Việt Nam và các tác giả Việt Nam, ý nghĩ duy nhất hiện ra trong đầu tôi là chẳng có tác giả Việt Nam nào tôi thấy thích cả.

Đến chỗ này là phải cảm ơn GoodReads. Chính nhờ cái chuyện lập danh sách các sách mình đã đọc, cố gắng nặn óc nghĩ cho ra mọi cuốn mình đã đọc để tăng con số thống kê lên cao nhất có thể, cùng với tính năng thống kê ‘most read authors’ ngày trước mà một ngày tôi đã nhận ra rằng nhà văn mà tôi đã đọc nhiều nhất nếu tính số đầu sách chính là bác Ánh. Và hiển nhiên đây chính là một tác giả yêu thích của tôi. Hơn thế nữa, bác Ánh chính là nhà văn Việt Nam duy nhất mà tôi có thể nói là tôi thích từ trước đến giờ.

Nhân đây thì cũng phải cảm ơn bạn Khải Đơn vì bài viết này. Tôi không làm trong hay quen biết gì với giới viết lách và xuất bản, và cũng không mấy khi để ý đến những chuyện hậu trường, lùm xùm này nọ của họ. Kể cả sau khi đọc bài viết kia, tôi cũng chẳng buồn lần lại đầu đuôi sự việc. Nhưng tôi nhớ mãi những gì bạn Khải Đơn đã viết về bác Ánh trong bài viết đó. Giờ tôi trích lại ở đây:

Truyện của ông Ánh và ông Võ Phi Hùng có gì các anh biết không? – Có sự lương thiện. Hàng chục tập viết, hàng ngàn trang sách không có tranh, nhưng trẻ con, thiếu niên vẫn đọc. Nó làm lứa trẻ biết rung động với điều thiện, biết sợ trước cái xấu, hoặc lùi bước tủi thân. Nhưng trong các trang viết đó, nó tuyệt nhiên không dạy trẻ con làm điều xấu, điều ác, hay đặt điều hãm hại một người xa lạ.

Sự lương thiện này – nó đã hóa thành tro bụi khi người ta đốt sách, nó bị phỉ nhổ khi xã hội chúng ta quay cuồng trong cơn đam mê và vòng xoáy của tiền bạc.  Chúng tôi sẽ lớn lên và bị thiêu hủy y như thế.

Nhưng thật may mắn, ông Ánh và ông Võ Phi Hùng – những người viết từ cái thuở chả ai thèm chăm chỉ viết – đã nỗ lực viết hàng chục hàng trăm tập truyện – chỉ để bọn trẻ con đọc cho vui mỗi mùa hè, và ráp đầy thêm kỷ niệm tốt lành vào trái tim chúng.

Tôi nghĩ đó là lần đầu tiên tôi đã nhận ra có lẽ truyện của bác Ánh có một ý nghĩa lớn hơn những gì tôi có thể hình dung. Những cuốn sách ấy là một phần của quá trình trưởng thành của tôi, chúng – cùng với những cuốn khác, mà chủ yếu lại là truyện tranh – đã gắn bó với tôi trong giai đoạn tuổi teen, giúp tôi nuôi dưỡng tâm hồn mình trước khi (tự dưng) trở thành người lớn.

Trở lại với sách của bác Ánh, khó có thể nói được cuốn nào là cuốn mà tôi thích nhất. Như có nhắc ở trên, một trong những truyện tôi nhớ nhất là Thằng quỷ nhỏ – tôi vẫn nhớ thằng bé ấy tên là Quỳnh – là bởi đó là truyện đầu tiên mà tôi đọc. Tiếp theo có thể kể đến Cô gái đến từ hôm qua, có lẽ là bởi hồi nhỏ tôi đã có một thời gian khá dài phiền muộn sau khi người bạn thân nhất chuyển nhà và chuyển trường. Ngoài ra, một trong những ấn tượng của tôi có lẽ là chùm truyện về ba cô nữ sinh Xuyến, Thục, Cúc Hương. Đó là các truyện Nữ sinh, Buổi chiều Windows, và Bồ câu không đưa thư. Cũng dễ hiểu là vì đó là những truyện mà các nhân vật chính là nữ nên tôi thấy gần gũi hơn. Có nhiều truyện của bác Ánh sau này thì tôi không đọc vì khi ấy đã là người lớn và có những mối quan tâm khác. Truyện của bác Ánh mà tôi đã đọc gần nhất cũng cách đây bốn năm rồi – Còn chút gì để nhớ

1 Comment

Filed under Uncategorized

T mất tích

Nội dung đơn giản, lối viết cuốn hút, không quá dài, và hương vị hơi là lạ, T mất tích là một cuốn sách thích hợp cho một kỳ nghỉ lười biếng nằm nhà đọc truyện. Để mất hút khỏi đời sống nhộn nhịp mà dõi theo câu chuyện của một người đàn ông mà vợ anh ta tự dưng biến mất cùng toàn bộ tư trang, chẳng nhắn nhủ lại điều gì. Chỉ là cuộc sống hàng ngày, những nhân vật lặp lại, vài ký ức về quá khứ, một ông bố qua đời, nói chung bình thường như cuộc đời của bất kỳ ai. Vậy mà đọc đến cuối có cảm giác như thời gian vừa ngưng lại cho mình nhìn lại vào cuộc đời của chính mình.

Cảm giác nếu T không mất tích, anh này cứ thế mà sống cuộc sống của anh ta thôi, chẳng có gì để kể cho chúng ta nghe cả, có khi chẳng bao giờ anh ta phải nghĩ gì về cuộc đời mình, về những nhân vật lặp lại, về những ký ức quá khứ, hay về ông bố mới qua đời. T mất tích chỉ như một cái cớ để kể chuyện. T qua lời kể của anh chồng chỉ như một cái bóng câm lặng, nhút nhát.

Đôi lúc cảm thấy hơi kỳ cục vì vợ biến mất (bỏ đi) mà ông chồng không xoắn quẩy lên tí nào, nhưng đọc theo mạch truyện dần cũng thấy quen, như bị sự tẻ nhạt của cuộc sống kia thuyết phục rằng ừ thì cũng chẳng có gì mà phải xoắn quẩy lên cả.

Gọi là tẻ nhạt nhưng những chi tiết của cuộc sống kia hiện ra rất rõ ràng, như trong một bộ phim, đọc đến đâu cũng tưởng tượng ra được dễ dàng. Điều ấy đòi hỏi một sự quan sát rất tỉ mỉ, tinh tế của người cầm bút. Chỉ có chỗ mô tả một nhân vật nữ qua mắt của nhân vật chính là nam mà mô tả chuốt mascara cong vút làm mình thấy hơi buồn cười vì chắc 90% đàn ông không biết được mascara là gì hay gái nào chải mascara gái nào không. Hoặc mình nhầm hoặc chỗ đó “lòi đuôi” là truyện của tác giả nữ.

Giống như Murakami trong 1Q84 khi đứng vai nữ cứ phải để nữ chính ám ảnh về kích cỡ bộ ngực của mình cho nó mang nét nữ tính, cảm giác tác giả Thuận trong truyện này đứng vai nam kể chuyện dường như cũng cố tình ép anh nam chính luôn phải dán mắt vào mấy cô ngực bự như để thêm phần nam tính cho nhân vật. Dù sao mình cũng thấy thích thú khi các nhà văn nữ đứng vai nam kể chuyện và ngược lại.

Truyện có nút thắt nhưng không cần mở. T mất tích là mất hút luôn. Nút thắt chính là nút mở. Từ đây anh nhân vật chính bước vào một chương mới trong cuộc đời. Không cần phải quằn quại, nhưng cũng là một dịp để ngẫm lại cuộc đời mình, cuộc đời của những người xung quanh mình, để chấp nhận cuộc đời với những gì mình có. Và những gì mình không.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Cô gái trên tàu

Tác giả: Paula Hawkins. Bản tiếng Việt do Nhã Nam và NXB Hội nhà văn xuất bản cùng năm với bản gốc, 2015. Huyền Vũ dịch.

Cuốn này rất dễ đọc, câu chuyện cuốn hút, có thể cầm sách đọc 1-2 hơi là xong. Phần mở đầu không hấp dẫn lắm khi dẫn dắt vào lát cắt cuộc đời của một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi đang rất bất ổn và không ngừng mơ về những ngày xưa cũ với người chồng cũ, người mà giờ đây đã là chồng một người khác. Nhưng khá nhanh chóng các tình tiết mới xuất hiện, kéo cô này lệch ra khỏi quỹ đạo cuộc sống đang bế tắc, lôi cô vào câu chuyện của những người khác mà hóa ra cuối cùng lại liên quan tới chính cô. Cái kết mang hơi hướng của một bộ phim drama của Mỹ, nên có phần thường, nhưng kể cũng hợp lý để kết lại câu chuyện.

Có lẽ điểm mạnh nhất của truyện là sức hấp dẫn đến từ việc câu chuyện được mở ra từ từ theo lối trinh thám. Khi đọc người đọc cũng buộc phải làm giống như nhân vật chính, là cố gắng chắp nối các tình tiết mắt thấy tai nghe với những ký ức đã bị rơi rớt còn lại không đầu không cuối, không biết có thực hay do tưởng tượng ra, đồng thời cũng lại tiếp tục nghe ngóng các tình tiết mới, để giải bài toán trước mặt. Và đến khi câu chuyện đã được sáng tỏ, tôi vẫn thấy còn cái cảm giác cuộc sống đúng là có những chuyện khó lường, trông vậy mà không phải vậy.

Tuy nhiên, cách viết đổi ngôi tôi giữa ba nhân vật nữ  có phần hơi khiên cưỡng và không tự nhiên lắm. Vì Rachel, cô gái ngồi trên tàu, rõ ràng là nhân vật chính như cái tựa gợi ý, đã được dành nhiều đất hơn cả. Cuộc sống và nội tâm của cô này được khắc họa đậm nét và có chiều sâu hơn so với hai cô kia. Về tổng thể, đây là một hành trình của Rachel. Một hành trình tìm hiểu một sự việc mà cô có ít nhiều liên quan dần dần trở thành một hành trình tìm lại bản thân mình khi dần hé lộ ra những bí mật liên quan tới tình cảnh khốn khổ của cô hiện giờ. Dù là đổi ngôi để người đọc có cái nhìn về câu chuyện từ một hướng khác nhưng rõ ràng chỉ nhằm bổ sung tình tiết cho câu chuyện mà Rachel đang theo đuổi. Lối viết đổi ngôi sẽ thú vị hơn khi đọc nếu các nhân vật lần lượt đứng ngôi tôi được xây dựng “ngang cơ” nhau.

Tôi thích cách tác giả xây dựng một nhân vật nghiện rượu phải vật lộn với những cơn nghiện của mình, những hậu quả gây ra sau mỗi lần say xỉn không biết trời đất, những khoảng trống mơ hồ trong ký ức. Một nhân vật có thể gây chán ngán cho người đọc, như một số bạn nhận xét, nhưng tôi nghĩ trong nhân vật đó có sự yếu đuối, sự chán chường, sự bất lực, và sự buông xuôi rất con người.

Trên GoodReads có một nhận xét rất thú vị là các nhân vật nữ trong truyện này đều thảm hại, ai cũng phải định nghĩa mình bằng những mối quan hệ với một hoặc vài người đàn ông. Thật ra thì những nhân vật nam trong truyện cũng vậy thôi, họ cũng có những vấn đề của họ, và cũng đều gặp rắc rối trong những mối quan hệ với phụ nữ. Những mối quan hệ xoắn quẩy giữa mấy người đàn ông và mấy người phụ nữ trong truyện này nó tạo nên một cái nền drama cho câu chuyện. Nhưng đúng là một số nhân vật nữ phụ trong truyện (bà mẹ, cô bạn cùng nhà) cũng được dựng lên là đang trong một mối quan hệ nào đó là những chi tiết thừa thãi chẳng liên quan gì tới câu chuyện chính. Ngoài ra cũng chẳng có thông tin gì khác về những nhân vật phụ này, thành ra những ai hơi nhạy cảm về nữ quyền có thể cảm thấy khó chịu.

Đọc truyện này xong lập tức nghĩ tới Gone Girl nhưng truyện đó chưa đọc mà mới xem phim.

Leave a comment

Filed under Tiểu thuyết

Sức mạnh của hiện tại

Cuốn sách có ảnh hưởng nhiều nhất tới tôi trong vài năm gần đây là Sức mạnh của hiện tại của Eckhart Tolle. Tôi đọc nó lần đầu khi đang gặp nhiều khó khăn, bế tắc trong cuộc sống. Tôi cũng không nhớ vì sao mình đã chọn đọc nó, nhưng có thể là vì đã nghe Tolle nói một điều gì đó về những khổ đau của con người. Sau tôi có đọc lại cuốn sách đó một lần nữa, lần sau này thì bằng tiếng Việt.

Ý tưởng chính của cuốn sách – hiện tại là quan trọng – không phải là ý tưởng gì mới lạ, và tựa của cuốn sách cũng không có gì đáng chú ý, nhưng nếu bạn muốn tìm một cuốn sách diễn giải kỹ hơn về cách mà chúng ta nghĩ về hiện tại, mối liên hệ của chúng ta tới hiện tại, và mối liên hệ của mối liên hệ đó với những cảm giác đau khổ, mất mát trong cuộc sống của chúng ta, thì tôi sẽ giới thiệu cuốn sách này.

Nhưng như chính tác giả nói từ đầu cuốn sách, đây không phải là một cuốn sách bạn nên đọc bằng lý trí – nghĩa là bằng phân tích, phản biện. Thật ra phản ứng của tôi khi đọc ở nhiều đoạn của cuốn sách chính là bắt bẻ và lật ngược lại những gì tác giả viết ra, bởi tôi cảm thấy nó không logic, không kín kẽ, không thấu đáo. Nhưng vì những phản biện của tôi cũng không được kín kẽ, nên tôi cứ bấm bụng đọc tiếp, cho đến khi tôi nhận ra rằng cái ý tứ chung đằng sau những câu chữ có phần chưa hoàn hảo kia mới là cái đáng “đọc”, còn chuyện câu chữ có lẽ chỉ là việc diễn đạt những ý tứ ấy cũng không dễ dàng gì và tác giả chỉ đang cố gắng diễn giải những điều ấy ra mà thôi. Dù sao thì nếu không quá xét nét, tôi nghĩ là đọc cũng có thể cảm nhận được ít nhất là vài phần những gì tác giả muốn nói.

Có hai điều lớn tôi đã rút ra được từ cuốn sách. Thứ nhất là ý thức được sâu sắc sự tách bạch giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai. Hay nói đúng hơn là nhận dạng ra được mình đã và đang dành thời gian cho quá khứ, hay hiện tại, hay tương lai. Điều đầu tiên mà tôi phải thấy giật mình sau đó là quả thực tôi đã dành rất nhiều thời gian để nghĩ ngợi về những gì đã xảy ra trong quá khứ và cũng rất nhiều thời gian nghĩ về những gì có thể xảy ra trong tương lai. Và dĩ nhiên, những lúc đó thời gian nghĩ về hiện tại là rất ít hoặc không có.

Trước đây tôi cứ nghĩ việc tôi hay nghĩ ngợi và nhớ rất lâu về những gì đã xảy ra chẳng qua là do bản chất của tôi là như thế và đó là hoàn toàn tự nhiên. Nhưng từ ngày đọc cuốn sách này tới giờ, tôi đã tập được thói quen không đắm chìm trong quá khứ và cũng không lo lắng nhiều về những gì có thể xảy ra nữa. Sở dĩ tôi đã tập được thói quen đó là vì tôi đã thực hành một điều là Tolle khuyên trong cuốn sách, chính điều lớn thứ hai mà tôi rút ra được từ cuốn sách này: không phán xét chính mình.

Trước đây, tức là trước khi đọc cuốn sách này, tôi thường xuyên thấy bối rối với những cảm xúc mà mình có và không biết phải làm thế nào với chúng cả. Tôi cố gắng che giấu chúng với mọi người xung quanh và cũng cố gắng che giấu chúng với chính bản thân mình, phủ nhận chúng, hoặc tự bịa ra một lý do nào đó để giải thích cảm giác của mình. Tôi nghĩ rằng điều đó đã góp phần đẩy tôi vào trạng thái dần dần cảm thấy khó sống với chính bản thân mình. Càng tránh né quá khứ, tôi lại càng hay phải quay trở lại với nó. Càng tránh né hiện tại, tôi lại càng không biết phải giải quyết các vấn đề của hiện tại như thế nào.

Từ ngày học cách chỉ quan sát và ghi nhận cảm xúc của mình chứ không phán xét bản thân là đã làm đúng hay đã làm sai như Tolle phân tích và nhắc lại nhiều lần qua các ví dụ trong sách, tôi thấy cuộc sống quả nhiên dễ chịu hơn nhiều và thấy mình tư duy được thông suốt hơn (vì không bám chặt vào cảm xúc (để phán xét) nữa nên không bị chúng che mắt). Nhờ thế mà khi phải đối diện với điều gì ở hiện tại tôi cũng cảm thấy đỡ rối hơn trước đây.

Hôm nay tự dưng nhớ đến cuốn sách ấy trong lúc thảnh thơi ngồi ăn sáng uống trà nhìn người qua lại, và chợt nhớ về những ngày xưa cũ mê mải với những giấc mơ nào đó mà quên mất rằng cuộc sống thường nhật cũng có nhiều việc để làm và mỗi phút giây hiện hữu cũng có nhiều cái đáng quan sát và học hỏi.

2 Comments

Filed under Tự-cứu (Self-help)

Từ Beirut đến Jerusalem

Tác giả: Thomas Friedman. Alpha Books và NXB Thế giới phát hành năm 2014. Đặng Ly dịch.

Tôi thấy đây là cuốn sách đáng đọc nhất của Friedman trong số bốn cuốn sách của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Nó thật ra lại là cuốn sách đầu tay của ông. Tôi nghĩ là trong các cuốn sau này ông có xu hướng khái quát hóa nhiều quá dẫn tới đưa ra nhiều luận điểm không chính xác. Cuốn sách đầu tay này của ông được viết trong phạm vi tập trung hơn và các sự kiện được khai thác sâu sắc hơn.

Nó cũng là một cuốn sách rất đáng đọc trong hoàn cảnh số đầu sách tiếng Việt về Trung Đông ở Việt Nam là rất ít ỏi (tôi không kể ra được quá 10 cuốn). Ví dụ trước đây tôi cũng đọc báo chí và các bài nghiên cứu về Trung Đông nhưng chỉ bắt đầu cảm thấy mình rốt cục cũng nắm bắt được một điều gì đó về khu vực này kể từ sau khi đọc xong cuốn sách này. Chỉ mỗi tội là tới giờ (2017) đã là gần 30 năm trôi qua kể từ ngày cuốn sách được xuất bản lần đầu, nghĩa là những gì cuốn sách nhắc tới chỉ còn mang tính lịch sử và đã có quá nhiều chuyện xảy ra ở Trung Đông kể từ ngày đó tới giờ.

Cuốn sách cơ bản gồm hai phần: về Li-băng và về Israel. Mỗi phần đều có thể làm một cuốn sách độc lập. Xâu chuỗi hai phần là trải nghiệm làm báo của Friedman.

Phần viết về Li-băng rất hay vì thông qua một số sự kiện nổi bật tại Li-băng, Friedman giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về những vấn đề của khu vực. Li-băng cơ bản chỉ là cái sân khấu. Dĩ nhiên họ có những vấn đề riêng của họ, nhưng những người khác đã bước chân lên cái sân khấu đó cũng mang theo những câu chuyện riêng của họ. Người Mỹ. Người Israel. Người Palestine. Friedman dùng khá nhiều giấy mực để phơi bày những chiêu trò của Arafat và các bên khác dưới cái được gọi là cuộc cách mạng giải phóng Palestine vốn đã (hoặc vẫn) được tô màu hồng ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam. Phần này cũng có những so sánh thú vị giữa Israel và Palestine – hai cộng đồng cùng tìm kiếm một nơi trú ẩn và một nhà nước thống nhất nhưng theo những cách khác nhau và, theo Friedman, bởi vậy có được hai kết quả khác nhau – ít ra cũng đáng để suy nghĩ.

Israel đã được nhắc tới từ phần Li-băng nhưng hiện ra rõ nét hơn nhiều ở phần sau trong những đặc tả về mối liên hệ phức tạp giữa họ và người Palestine trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó Friedman cũng dành nhiều phần nói về mối liên hệ giữa người Do Thái sống ở Israel và người Do Thái ở những nơi khác trên thế giới mà đặc biệt là ở Mỹ. Đó cũng là câu chuyện cá nhân vì bản thân tác giả cũng là một người Mỹ gốc Do Thái, thành ra phần này viết cũng nhiều cảm xúc hơn phần Li-băng. Tôi thì lại thích phần Li-băng hơn.

Những phân tích của tác giả về con đường hòa bình cho khu vực ở phần cuối cuốn sách có lẽ đến nay đã được thực tế chứng minh là sai (hoặc là vẫn chưa đúng) bởi đến giờ các phe phái trong khu vực vẫn cứ giằng co qua lại, chưa kể là vài năm gần đây còn có thêm sự hoành hành của IS, vượt quá mọi dự cảm từ cách đây vài chục năm. Tôi không bình luận nhiều về phần này vì không đủ hiểu biết để bàn luận.

Vậy tóm lại tôi thấy đây là một cuốn sách đáng đọc để hiểu được Trung Đông những năm cuối thập niên 1980. Có lẽ nhiều chuyện của thời đó vẫn còn tiếp diễn cho tới bây giờ, hay chí ít cũng vẫn liên quan tới các sự kiện thời sự ngày nay, nên cuốn sách cũng có thể giúp chúng ta bơi được tốt hơn giữa đủ mọi làn sóng thông tin hiện tại về khu vực phức tạp này.

Sách rất dày, cỡ 850 trang, nên đọc cũng vất vả, nhất là với những ai còn rất mơ hồ về Trung Đông. 200 trang đầu tôi đã đọc tới 2 lượt trước khi có thể tiêu hóa được các thông tin trong đó mà đọc tiếp. Với những người không ưa kể chuyện dông dài mà thích ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề thì có thể sẽ hơi bực mình khi đọc vì kể chuyện dông dài là văn phong của Friedman mà. Còn với các bạn thích hóng chuyện và thích những cuốn sách dễ đọc, ít khô khan thì không vấn đề gì cả.

Ghi chú cuối cùng: sách khá nhiều lỗi dịch nhỏ, có lẽ do biên tập ẩu.

Leave a comment

Filed under Du ký, Phi hư cấu khác

Con đường Hồi giáo

Cuốn sách thứ hai trong series “Lên đường với trái tim trần trụi” của tác giả Nguyễn Phương Mai, do Nhã Nam & NXB Hội nhà văn phát hành năm 2016.

“Con đường Hồi giáo theo chân các chiến binh Ả Rập xuất phát từ Mecca tỏa ra hai hướng Á Âu. Cánh cung sang phía Tây… là quãng đường tôi đã vượt qua trong năm 2012 sau Mùa xuân Ả Rập.”

(Chú thích trên tấm bản đồ ở đầu cuốn sách)

Một ý tưởng rất thú vị và lãng mạn đã được tác giả hiện thực hóa thành một chuyến phiêu lưu đáng ngưỡng mộ, dù tôi nghĩ là người đọc có lẽ chỉ có thể hình dung và cảm nhận được một phần nhỏ của chuyến đi ấy trong khuôn khổ 300 trang của cuốn sách.

Tuy nhiên, tác giả chỉ lần theo con đường Hồi giáo ấy một cách cơ học, tức là chỉ đi qua đúng các quốc gia mà các chiến binh Ả Rập ngày xưa đã đi tới. Cuốn sách không nhắc chút gì tới lịch sử của các chuyến chinh phạt hay du cư ngày xưa, thành thử đôi khi tôi cảm thấy cái tựa của cuốn sách như một chiếc áo hơi rộng với nội dung bên trong. Bên trong chỉ là một lát cắt qua khu vực tại thời điểm năm 2012.

Như nhiều cuốn sách du ký khác, cuốn sách này là một sự pha trộn của những dữ kiện sách vở cùng những quan sát và cảm nhận mắt thấy tai nghe của tác giả trong chuyến đi. Tuy nhiên, tôi cho rằng dung lượng thông tin sách vở mà cuốn sách này cung cấp là khá đáng nể với một cuốn sách du ký thông thường. Rồi các thông tin sách vở vốn tương đối khô khan đó được pha trộn khéo léo với những trải nghiệm độc đáo trên đường đi dưới ngòi bút hài hước của một người có thâm niên làm báo cũng như gõ đầu sinh viên. Kết quả là cuốn sách trở nên dễ đọc, hấp dẫn, và giúp mở mang đầu óc.

“Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu [Islam và Islamism]. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.”

(Trích phần “Thưa cùng bạn đọc”)

Thật ra không biết người khác thế nào chứ tôi đọc xong chả mấy mà quên gần hết những thông tin sách vở mà tác giả đưa vào. 😀 Ấn tượng về những trải nghiệm lăn lê trên đường của tác giả thì sâu sắc hơn với tôi. Những chuyện kể mắt thấy tai nghe ấy rất sống động và khiến tôi cảm giác mình có thể mường tượng ra những con người thực ở đó đang sống một cuộc sống bình thường hàng ngày như thế nào. Có lẽ đó chính là lý do vì sao tác giả nhất định phải khăn gói quả mướp lê la cho kỳ được qua ngần ấy nước để xem hiện thực cuộc sống có giống như báo đài ti vi sách vở vẫn nói hay không.

Về tổng thể cuốn sách mang tới cho tôi một cảm nhận chung về sự đa dạng ở Trung Đông nhưng hầu như không có cảm nhận cụ thể về một quốc gia cụ thể nào trong số đó, mặc dù với mỗi một quốc gia tác giả đã chọn lọc và rút ra một vài nét chấm phá đặc sắc về quốc gia đó. Ví dụ đột nhiên bây giờ có ai hỏi tôi vậy cuốn sách ấy viết gì về Yemen, tôi chịu thua liền.

Một chút về lịch sử, một chút về chính trị, nhiều chút về văn hóa và xã hội, đây là một cuốn sách nhập môn về Trung Đông tốt. Và dĩ nhiên, nó cũng thích hợp với những kẻ luôn nghe thấy tiếng gọi của những con đường. 🙂

“Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.

Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.

Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.

Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi.”

Leave a comment

Filed under Du ký

Đọc lệch

Năm 2015 rảnh rang mình thống kê, phân loại đám sách mình đã đọc và phát hiện ra rằng đám sách đọc tự do của mình bị thiên lệch về các tác giả nước ngoài và các tác giả nam. Lệch ở đây tỷ lệ là xấp xỉ tới 3:1 chứ không ít. Ngoài ra, trong vài năm gần nhất mình giảm hẳn đọc sách fiction mà chủ yếu đọc sách non-fiction. Do đó, năm 2016 mình có ý thức hơn trong việc chọn sách đọc, ưu tiên các tác giả Việt Nam, các tác giả nữ, và sách văn học hư cấu.

Kết quả là trong số 38 cuốn mình đọc trong năm 2016, tỷ lệ sách của tác giả Việt Nam đã tăng lên đạt 42%, sách của tác giả nữ tăng lên đạt 37%, và sách hư cấu bịa đặt đã tăng lên đạt 63%.

Mình nghĩ là năm 2017 mình vẫn tiếp tục ưu tiên 3 trends này để tiếp tục khắc phục tình trạng đọc lệch.

Muốn biết sự đọc lệch tưởng chừng như ngẫu nhiên ở các độc giả đại chúng bình thường có ý nghĩa gì và tại sao, mời các bạn đọc Where I’m Reading From của Tim Parks  :D.

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Đột nhiên có tiếng gõ cửa

Nếu bạn hay đọc truyện ngắn, hoặc đang đi tìm một tuyển tập truyện ngắn dễ đọc nhưng có chất lượng, bạn có thể thử cuốn này: Đột nhiên có tiếng gõ cửa của Etgar Keret, do Lê Đình Chi dịch, Alpha Books và NXB Lao động phát hành năm 2015.

Mỗi lần tôi mở sách ra đọc, cuốn sách như lôi tuột tôi vào một thế giới khác. Rất khác. Không phải bởi tác giả của nó đến từ một nền văn hóa lạ với tôi, mà tôi nghĩ phần lớn là do tài bịa đặt siêu thực kỳ ảo của Keret khi viết truyện. Thường tôi không đọc gì vào buổi tối những ngày nhiều việc vì khi đó tôi không muốn nhét thêm thứ gì nữa vào đầu, nhưng cuốn truyện này là một ngoại lệ. Tôi đã đọc nó vào những buổi tối sau ngày dài mệt mỏi, bởi nó cho tôi một cảm giác được thoát khỏi thực tại mà đi đâu đó. Có những khi tôi chỉ đọc được một vài truyện rất ngắn trong đó thì đã buồn ngủ, nhưng tối hôm sau lại hào hứng mở ra đọc trước khi đi ngủ. Chỉ vài trang của cuốn sách cũng giúp tôi cảm thấy dễ chịu.

Với tôi, Keret không chỉ là một người kể chuyện lôi cuốn, ông còn là người biết lôi cuốn ngay từ câu đầu tiên. Tôi thích cách mở đầu của rất nhiều truyện ngắn trong tập truyện này. Rất khích thích trí tò mò. Không vòng vo dẫn dắt mà ném thẳng vào người đọc một tình huống nào đó để bắt đầu câu chuyện. Một cách lấp lửng!

‘”Kể cho tao một câu chuyện,” người đàn ông râu rậm ngồi trên ghế sofa phòng khách nhà tôi ra lệnh.’

‘Robbie nói dối lần đầu tiên khi lên bảy.’

‘Tôi biết một người đàn ông lúc nào cũng tưởng tượng.’

‘Kể từ khi cô bỏ đi, mỗi tối anh lại lăn ra ngủ một chỗ: trên ghế sofa, trên ghế bành ngoài phòng khách, trên tấm thảm trải ngoài ban công như một gã vô gia cư lang thang.’

‘Con trai tôi muốn tôi giết bà ấy.’

‘Theo quan điểm của tôi, toàn bộ biến cố xảy ra với Avishai Abudi khiến tất cả chúng ta phải để tâm chú ý.’

‘Câu chuyện đầu tiên Maya viết kể về một thế giới tại đó con người tách mình làm đôi thay vì sinh sản.’

‘Khổ sở nhất là ban đêm.’

‘Yonatan có một ý tưởng chói sáng cho một phóng sự tài liệu.’

‘Ba trong số những anh chàng cô từng hẹn hò đã tìm cách tự sát.’

‘Một vài đứa trẻ nằm lăn ra sàn và gào thét ăn vạ.’

‘Đây là câu chuyện về một người đàn ông phải khổ sở vì một búi trĩ.’

‘Bà quyết định mở cửa nhà hàng ngay lập tức, vào buổi sáng sau tang lễ.’

‘Tôi nói quá nhiều.’

‘Ba người đang đợi trước một bộ đàm liên lạc nội bộ.’

‘Những câu tôi đang viết lúc này là để dành cho những người xem Truyền hình Công cộng Đức.’

Không chỉ nhiều câu mở đầu ngắn mà tôi thấy nhìn chung Keret là người ưa viết những câu ngắn. (Một cách tốt để lấp lửng.)  Mà tôi thì ưa những nhà văn viết những câu văn ngắn, vì nó phù hợp với sự tiêu hóa chữ nghĩa của tôi khi đọc. Đó cũng là một lý do tôi thích đọc tập truyện này của Keret.

Dĩ nhiên chuyện câu ngắn câu dài, mở đầu khiêu khích hay không khiêu khích chỉ là một tí kỹ thuật viết lách chứ không tạo nên được linh hồn cho tác phẩm. Điều tôi thích nhất ở tập truyện này, như đã nói từ đầu, là nó lôi tuột tôi vào thế giới tưởng tượng của nhà văn. Ở đó trí tưởng tượng của tôi cũng được đẩy xa hơn, một cảm giác mà đã rất lâu rồi tôi mới có được khi đọc một cuốn truyện hư cấu.

‘…”Tao cảnh cáo mày rồi đấy,” gã Thụy Điển ngắt lời tôi. “Không có tiếng gõ cửa nào hết đâu đấy.” “Tôi cần phải có,” tôi khăng khăng. “Không có một tiếng gõ cửa sẽ chẳng có câu chuyện nào hết.” “Để kệ hắn,” tay giao pizza dịu giọng nói. “Cho hắn nghỉ một chút. Mày muốn một tiếng gõ cửa chứ gì? Được, mày có một tiếng gõ cửa rồi đấy. Miễn là nó đem đến cho [chúng tao] một câu chuyện.”‘

Cuốn sách này cũng chính là một tiếng gõ cửa hư ảo lên những hiện thực của cuộc đời!

1 Comment

Filed under Truyện ngắn