Sức mạnh của hiện tại

Cuốn sách có ảnh hưởng nhiều nhất tới tôi trong vài năm gần đây là Sức mạnh của hiện tại của Eckhart Tolle. Tôi đọc nó lần đầu khi đang gặp nhiều khó khăn, bế tắc trong cuộc sống. Tôi cũng không nhớ vì sao mình đã chọn đọc nó, nhưng có thể là vì đã nghe Tolle nói một điều gì đó về những khổ đau của con người. Sau tôi có đọc lại cuốn sách đó một lần nữa, lần sau này thì bằng tiếng Việt.

Ý tưởng chính của cuốn sách – hiện tại là quan trọng – không phải là ý tưởng gì mới lạ, và tựa của cuốn sách cũng không có gì đáng chú ý, nhưng nếu bạn muốn tìm một cuốn sách diễn giải kỹ hơn về cách mà chúng ta nghĩ về hiện tại, mối liên hệ của chúng ta tới hiện tại, và mối liên hệ của mối liên hệ đó với những cảm giác đau khổ, mất mát trong cuộc sống của chúng ta, thì tôi sẽ giới thiệu cuốn sách này.

Nhưng như chính tác giả nói từ đầu cuốn sách, đây không phải là một cuốn sách bạn nên đọc bằng lý trí – nghĩa là bằng phân tích, phản biện. Thật ra phản ứng của tôi khi đọc ở nhiều đoạn của cuốn sách chính là bắt bẻ và lật ngược lại những gì tác giả viết ra, bởi tôi cảm thấy nó không logic, không kín kẽ, không thấu đáo. Nhưng vì những phản biện của tôi cũng không được kín kẽ, nên tôi cứ bấm bụng đọc tiếp, cho đến khi tôi nhận ra rằng cái ý tứ chung đằng sau những câu chữ có phần chưa hoàn hảo kia mới là cái đáng “đọc”, còn chuyện câu chữ có lẽ chỉ là việc diễn đạt những ý tứ ấy cũng không dễ dàng gì và tác giả chỉ đang cố gắng diễn giải những điều ấy ra mà thôi. Dù sao thì nếu không quá xét nét, tôi nghĩ là đọc cũng có thể cảm nhận được ít nhất là vài phần những gì tác giả muốn nói.

Có hai điều lớn tôi đã rút ra được từ cuốn sách. Thứ nhất là ý thức được sâu sắc sự tách bạch giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai. Hay nói đúng hơn là nhận dạng ra được mình đã và đang dành thời gian cho quá khứ, hay hiện tại, hay tương lai. Điều đầu tiên mà tôi phải thấy giật mình sau đó là quả thực tôi đã dành rất nhiều thời gian để nghĩ ngợi về những gì đã xảy ra trong quá khứ và cũng rất nhiều thời gian nghĩ về những gì có thể xảy ra trong tương lai. Và dĩ nhiên, những lúc đó thời gian nghĩ về hiện tại là rất ít hoặc không có.

Trước đây tôi cứ nghĩ việc tôi hay nghĩ ngợi và nhớ rất lâu về những gì đã xảy ra chẳng qua là do bản chất của tôi là như thế và đó là hoàn toàn tự nhiên. Nhưng từ ngày đọc cuốn sách này tới giờ, tôi đã tập được thói quen không đắm chìm trong quá khứ và cũng không lo lắng nhiều về những gì có thể xảy ra nữa. Sở dĩ tôi đã tập được thói quen đó là vì tôi đã thực hành một điều là Tolle khuyên trong cuốn sách, chính điều lớn thứ hai mà tôi rút ra được từ cuốn sách này: không phán xét chính mình.

Trước đây, tức là trước khi đọc cuốn sách này, tôi thường xuyên thấy bối rối với những cảm xúc mà mình có và không biết phải làm thế nào với chúng cả. Tôi cố gắng che giấu chúng với mọi người xung quanh và cũng cố gắng che giấu chúng với chính bản thân mình, phủ nhận chúng, hoặc tự bịa ra một lý do nào đó để giải thích cảm giác của mình. Tôi nghĩ rằng điều đó đã góp phần đẩy tôi vào trạng thái dần dần cảm thấy khó sống với chính bản thân mình. Càng tránh né quá khứ, tôi lại càng hay phải quay trở lại với nó. Càng tránh né hiện tại, tôi lại càng không biết phải giải quyết các vấn đề của hiện tại như thế nào.

Từ ngày học cách chỉ quan sát và ghi nhận cảm xúc của mình chứ không phán xét bản thân là đã làm đúng hay đã làm sai như Tolle phân tích và nhắc lại nhiều lần qua các ví dụ trong sách, tôi thấy cuộc sống quả nhiên dễ chịu hơn nhiều và thấy mình tư duy được thông suốt hơn (vì không bám chặt vào cảm xúc (để phán xét) nữa nên không bị chúng che mắt). Nhờ thế mà khi phải đối diện với điều gì ở hiện tại tôi cũng cảm thấy đỡ rối hơn trước đây.

Hôm nay tự dưng nhớ đến cuốn sách ấy trong lúc thảnh thơi ngồi ăn sáng uống trà nhìn người qua lại, và chợt nhớ về những ngày xưa cũ mê mải với những giấc mơ nào đó mà quên mất rằng cuộc sống thường nhật cũng có nhiều việc để làm và mỗi phút giây hiện hữu cũng có nhiều cái đáng quan sát và học hỏi.

1 Comment

Filed under Tự cứu

Từ Beirut đến Jerusalem

Tác giả: Thomas Friedman. Alpha Books và NXB Thế giới phát hành năm 2014. Đặng Ly dịch.

Tôi thấy đây là cuốn sách đáng đọc nhất của Friedman trong số bốn cuốn sách của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Nó thật ra lại là cuốn sách đầu tay của ông. Tôi nghĩ là trong các cuốn sau này ông có xu hướng khái quát hóa nhiều quá dẫn tới đưa ra nhiều luận điểm không chính xác. Cuốn sách đầu tay này của ông được viết trong phạm vi tập trung hơn và các sự kiện được khai thác sâu sắc hơn.

Nó cũng là một cuốn sách rất đáng đọc trong hoàn cảnh số đầu sách tiếng Việt về Trung Đông ở Việt Nam là rất ít ỏi (tôi không kể ra được quá 10 cuốn). Ví dụ trước đây tôi cũng đọc báo chí và các bài nghiên cứu về Trung Đông nhưng chỉ bắt đầu cảm thấy mình rốt cục cũng nắm bắt được một điều gì đó về khu vực này kể từ sau khi đọc xong cuốn sách này. Chỉ mỗi tội là tới giờ (2017) đã là gần 30 năm trôi qua kể từ ngày cuốn sách được xuất bản lần đầu, nghĩa là những gì cuốn sách nhắc tới chỉ còn mang tính lịch sử và đã có quá nhiều chuyện xảy ra ở Trung Đông kể từ ngày đó tới giờ.

Cuốn sách cơ bản gồm hai phần: về Li-băng và về Israel. Mỗi phần đều có thể làm một cuốn sách độc lập. Xâu chuỗi hai phần là trải nghiệm làm báo của Friedman.

Phần viết về Li-băng rất hay vì thông qua một số sự kiện nổi bật tại Li-băng, Friedman giúp chúng ta hiểu nhiều hơn về những vấn đề của khu vực. Li-băng cơ bản chỉ là cái sân khấu. Dĩ nhiên họ có những vấn đề riêng của họ, nhưng những người khác đã bước chân lên cái sân khấu đó cũng mang theo những câu chuyện riêng của họ. Người Mỹ. Người Israel. Người Palestine. Friedman dùng khá nhiều giấy mực để phơi bày những chiêu trò của Arafat và các bên khác dưới cái được gọi là cuộc cách mạng giải phóng Palestine vốn đã (hoặc vẫn) được tô màu hồng ở nhiều nơi, trong đó có Việt Nam. Phần này cũng có những so sánh thú vị giữa Israel và Palestine – hai cộng đồng cùng tìm kiếm một nơi trú ẩn và một nhà nước thống nhất nhưng theo những cách khác nhau và, theo Friedman, bởi vậy có được hai kết quả khác nhau – ít ra cũng đáng để suy nghĩ.

Israel đã được nhắc tới từ phần Li-băng nhưng hiện ra rõ nét hơn nhiều ở phần sau trong những đặc tả về mối liên hệ phức tạp giữa họ và người Palestine trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh đó Friedman cũng dành nhiều phần nói về mối liên hệ giữa người Do Thái sống ở Israel và người Do Thái ở những nơi khác trên thế giới mà đặc biệt là ở Mỹ. Đó cũng là câu chuyện cá nhân vì bản thân tác giả cũng là một người Mỹ gốc Do Thái, thành ra phần này viết cũng nhiều cảm xúc hơn phần Li-băng. Tôi thì lại thích phần Li-băng hơn.

Những phân tích của tác giả về con đường hòa bình cho khu vực ở phần cuối cuốn sách có lẽ đến nay đã được thực tế chứng minh là sai (hoặc là vẫn chưa đúng) bởi đến giờ các phe phái trong khu vực vẫn cứ giằng co qua lại, chưa kể là vài năm gần đây còn có thêm sự hoành hành của IS, vượt quá mọi dự cảm từ cách đây vài chục năm. Tôi không bình luận nhiều về phần này vì không đủ hiểu biết để bàn luận.

Vậy tóm lại tôi thấy đây là một cuốn sách đáng đọc để hiểu được Trung Đông những năm cuối thập niên 1980. Có lẽ nhiều chuyện của thời đó vẫn còn tiếp diễn cho tới bây giờ, hay chí ít cũng vẫn liên quan tới các sự kiện thời sự ngày nay, nên cuốn sách cũng có thể giúp chúng ta bơi được tốt hơn giữa đủ mọi làn sóng thông tin hiện tại về khu vực phức tạp này.

Sách rất dày, cỡ 850 trang, nên đọc cũng vất vả, nhất là với những ai còn rất mơ hồ về Trung Đông. 200 trang đầu tôi đã đọc tới 2 lượt trước khi có thể tiêu hóa được các thông tin trong đó mà đọc tiếp. Với những người không ưa kể chuyện dông dài mà thích ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề thì có thể sẽ hơi bực mình khi đọc vì kể chuyện dông dài là văn phong của Friedman mà. Còn với các bạn thích hóng chuyện và thích những cuốn sách dễ đọc, ít khô khan thì không vấn đề gì cả.

Ghi chú cuối cùng: sách khá nhiều lỗi dịch nhỏ, có lẽ do biên tập ẩu.

Leave a comment

Filed under Du ký, Phi hư cấu khác

Con đường Hồi giáo

Cuốn sách thứ hai trong series “Lên đường với trái tim trần trụi” của tác giả Nguyễn Phương Mai, do Nhã Nam & NXB Hội nhà văn phát hành năm 2016.

“Con đường Hồi giáo theo chân các chiến binh Ả Rập xuất phát từ Mecca tỏa ra hai hướng Á Âu. Cánh cung sang phía Tây… là quãng đường tôi đã vượt qua trong năm 2012 sau Mùa xuân Ả Rập.”

(Chú thích trên tấm bản đồ ở đầu cuốn sách)

Một ý tưởng rất thú vị và lãng mạn đã được tác giả hiện thực hóa thành một chuyến phiêu lưu đáng ngưỡng mộ, dù tôi nghĩ là người đọc có lẽ chỉ có thể hình dung và cảm nhận được một phần nhỏ của chuyến đi ấy trong khuôn khổ 300 trang của cuốn sách.

Tuy nhiên, tác giả chỉ lần theo con đường Hồi giáo ấy một cách cơ học, tức là chỉ đi qua đúng các quốc gia mà các chiến binh Ả Rập ngày xưa đã đi tới. Cuốn sách không nhắc chút gì tới lịch sử của các chuyến chinh phạt hay du cư ngày xưa, thành thử đôi khi tôi cảm thấy cái tựa của cuốn sách như một chiếc áo hơi rộng với nội dung bên trong. Bên trong chỉ là một lát cắt qua khu vực tại thời điểm năm 2012.

Như nhiều cuốn sách du ký khác, cuốn sách này là một sự pha trộn của những dữ kiện sách vở cùng những quan sát và cảm nhận mắt thấy tai nghe của tác giả trong chuyến đi. Tuy nhiên, tôi cho rằng dung lượng thông tin sách vở mà cuốn sách này cung cấp là khá đáng nể với một cuốn sách du ký thông thường. Rồi các thông tin sách vở vốn tương đối khô khan đó được pha trộn khéo léo với những trải nghiệm độc đáo trên đường đi dưới ngòi bút hài hước của một người có thâm niên làm báo cũng như gõ đầu sinh viên. Kết quả là cuốn sách trở nên dễ đọc, hấp dẫn, và giúp mở mang đầu óc.

“Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu [Islam và Islamism]. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.”

(Trích phần “Thưa cùng bạn đọc”)

Thật ra không biết người khác thế nào chứ tôi đọc xong chả mấy mà quên gần hết những thông tin sách vở mà tác giả đưa vào. 😀 Ấn tượng về những trải nghiệm lăn lê trên đường của tác giả thì sâu sắc hơn với tôi. Những chuyện kể mắt thấy tai nghe ấy rất sống động và khiến tôi cảm giác mình có thể mường tượng ra những con người thực ở đó đang sống một cuộc sống bình thường hàng ngày như thế nào. Có lẽ đó chính là lý do vì sao tác giả nhất định phải khăn gói quả mướp lê la cho kỳ được qua ngần ấy nước để xem hiện thực cuộc sống có giống như báo đài ti vi sách vở vẫn nói hay không.

Về tổng thể cuốn sách mang tới cho tôi một cảm nhận chung về sự đa dạng ở Trung Đông nhưng hầu như không có cảm nhận cụ thể về một quốc gia cụ thể nào trong số đó, mặc dù với mỗi một quốc gia tác giả đã chọn lọc và rút ra một vài nét chấm phá đặc sắc về quốc gia đó. Ví dụ đột nhiên bây giờ có ai hỏi tôi vậy cuốn sách ấy viết gì về Yemen, tôi chịu thua liền.

Một chút về lịch sử, một chút về chính trị, nhiều chút về văn hóa và xã hội, đây là một cuốn sách nhập môn về Trung Đông tốt. Và dĩ nhiên, nó cũng thích hợp với những kẻ luôn nghe thấy tiếng gọi của những con đường. 🙂

“Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.

Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.

Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.

Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi.”

Leave a comment

Filed under Du ký

[Ghi chú] Đọc lệch

Năm 2015 rảnh rang mình thống kê, phân loại đám sách mình đã đọc và phát hiện ra rằng đám sách đọc tự do của mình bị thiên lệch về các tác giả nước ngoài và các tác giả nam. Lệch ở đây tỷ lệ là xấp xỉ tới 3:1 chứ không ít. Ngoài ra, trong vài năm gần nhất mình giảm hẳn đọc sách fiction mà chủ yếu đọc sách non-fiction. Do đó, năm 2016 mình có ý thức hơn trong việc chọn sách đọc, ưu tiên các tác giả Việt Nam, các tác giả nữ, và sách văn học hư cấu.

Kết quả là trong số 38 cuốn mình đọc trong năm 2016, tỷ lệ sách của tác giả Việt Nam đã tăng lên đạt 42%, sách của tác giả nữ tăng lên đạt 37%, và sách hư cấu bịa đặt đã tăng lên đạt 63%.

Mình nghĩ là năm 2017 mình vẫn tiếp tục ưu tiên 3 trends này để tiếp tục khắc phục tình trạng đọc lệch.

Muốn biết sự đọc lệch tưởng chừng như ngẫu nhiên ở các độc giả đại chúng bình thường có ý nghĩa gì và tại sao, mời các bạn đọc Where I’m Reading From của Tim Parks  :D.

Leave a comment

Filed under Ghi chú

Đột nhiên có tiếng gõ cửa

Nếu bạn hay đọc truyện ngắn, hoặc đang đi tìm một tuyển tập truyện ngắn dễ đọc nhưng có chất lượng, bạn có thể thử cuốn này: Đột nhiên có tiếng gõ cửa của Etgar Keret, do Lê Đình Chi dịch, Alpha Books và NXB Lao động phát hành năm 2015.

Mỗi lần tôi mở sách ra đọc, cuốn sách như lôi tuột tôi vào một thế giới khác. Rất khác. Không phải bởi tác giả của nó đến từ một nền văn hóa lạ với tôi, mà tôi nghĩ phần lớn là do tài bịa đặt siêu thực kỳ ảo của Keret khi viết truyện. Thường tôi không đọc gì vào buổi tối những ngày nhiều việc vì khi đó tôi không muốn nhét thêm thứ gì nữa vào đầu, nhưng cuốn truyện này là một ngoại lệ. Tôi đã đọc nó vào những buổi tối sau ngày dài mệt mỏi, bởi nó cho tôi một cảm giác được thoát khỏi thực tại mà đi đâu đó. Có những khi tôi chỉ đọc được một vài truyện rất ngắn trong đó thì đã buồn ngủ, nhưng tối hôm sau lại hào hứng mở ra đọc trước khi đi ngủ. Chỉ vài trang của cuốn sách cũng giúp tôi cảm thấy dễ chịu.

Với tôi, Keret không chỉ là một người kể chuyện lôi cuốn, ông còn là người biết lôi cuốn ngay từ câu đầu tiên. Tôi thích cách mở đầu của rất nhiều truyện ngắn trong tập truyện này. Rất khích thích trí tò mò. Không vòng vo dẫn dắt mà ném thẳng vào người đọc một tình huống nào đó để bắt đầu câu chuyện. Một cách lấp lửng!

‘”Kể cho tao một câu chuyện,” người đàn ông râu rậm ngồi trên ghế sofa phòng khách nhà tôi ra lệnh.’

‘Robbie nói dối lần đầu tiên khi lên bảy.’

‘Tôi biết một người đàn ông lúc nào cũng tưởng tượng.’

‘Kể từ khi cô bỏ đi, mỗi tối anh lại lăn ra ngủ một chỗ: trên ghế sofa, trên ghế bành ngoài phòng khách, trên tấm thảm trải ngoài ban công như một gã vô gia cư lang thang.’

‘Con trai tôi muốn tôi giết bà ấy.’

‘Theo quan điểm của tôi, toàn bộ biến cố xảy ra với Avishai Abudi khiến tất cả chúng ta phải để tâm chú ý.’

‘Câu chuyện đầu tiên Maya viết kể về một thế giới tại đó con người tách mình làm đôi thay vì sinh sản.’

‘Khổ sở nhất là ban đêm.’

‘Yonatan có một ý tưởng chói sáng cho một phóng sự tài liệu.’

‘Ba trong số những anh chàng cô từng hẹn hò đã tìm cách tự sát.’

‘Một vài đứa trẻ nằm lăn ra sàn và gào thét ăn vạ.’

‘Đây là câu chuyện về một người đàn ông phải khổ sở vì một búi trĩ.’

‘Bà quyết định mở cửa nhà hàng ngay lập tức, vào buổi sáng sau tang lễ.’

‘Tôi nói quá nhiều.’

‘Ba người đang đợi trước một bộ đàm liên lạc nội bộ.’

‘Những câu tôi đang viết lúc này là để dành cho những người xem Truyền hình Công cộng Đức.’

Không chỉ nhiều câu mở đầu ngắn mà tôi thấy nhìn chung Keret là người ưa viết những câu ngắn. (Một cách tốt để lấp lửng.)  Mà tôi thì ưa những nhà văn viết những câu văn ngắn, vì nó phù hợp với sự tiêu hóa chữ nghĩa của tôi khi đọc. Đó cũng là một lý do tôi thích đọc tập truyện này của Keret.

Dĩ nhiên chuyện câu ngắn câu dài, mở đầu khiêu khích hay không khiêu khích chỉ là một tí kỹ thuật viết lách chứ không tạo nên được linh hồn cho tác phẩm. Điều tôi thích nhất ở tập truyện này, như đã nói từ đầu, là nó lôi tuột tôi vào thế giới tưởng tượng của nhà văn. Ở đó trí tưởng tượng của tôi cũng được đẩy xa hơn, một cảm giác mà đã rất lâu rồi tôi mới có được khi đọc một cuốn truyện hư cấu.

‘…”Tao cảnh cáo mày rồi đấy,” gã Thụy Điển ngắt lời tôi. “Không có tiếng gõ cửa nào hết đâu đấy.” “Tôi cần phải có,” tôi khăng khăng. “Không có một tiếng gõ cửa sẽ chẳng có câu chuyện nào hết.” “Để kệ hắn,” tay giao pizza dịu giọng nói. “Cho hắn nghỉ một chút. Mày muốn một tiếng gõ cửa chứ gì? Được, mày có một tiếng gõ cửa rồi đấy. Miễn là nó đem đến cho [chúng tao] một câu chuyện.”‘

Cuốn sách này cũng chính là một tiếng gõ cửa hư ảo lên những hiện thực của cuộc đời!

1 Comment

Filed under Truyện ngắn

Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (2007)

Tập truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp (với minh họa của các họa sỹ) do NXB Văn hóa Sài Gòn & Đông A xuất bản năm 2007. Như lời tựa có giới thiệu, đây là tuyển tập ông Thiệp làm “để sớm lo chuyện ‘rửa tay gác bút’“. Sách dày gần 600 trang, lại khổ to (17,5 x 24 cm) nên cầm cũng nặng tay, nằm đọc thì hơi vất vả.

Tôi mua cuốn này vào khi nào cũng không nhớ, trước đã lôi ra đọc rồi bỏ dở ở đâu đó, cơ bản không thấy ấn tượng gì, chắc tại chưa “đủ tuổi”. Tới năm nay 2016 này tôi mới lôi ra đọc lại từ đầu và lần này thì đọc được hết, và có chút ấn tượng. Có lẽ truyện ông Thiệp bạn đọc gần 30 tuổi hẵng đọc, trước đó cứ yên tâm mải mê chinh chiến và yêu đương đi đã.

Hơn nửa đầu tuyển tập này tôi đọc khá là nhanh, khá là thích, nhưng càng về sau đọc càng chậm và (hoặc là vì) càng ít thích hơn. Các truyện được sắp xếp theo thứ tự thời gian, vậy có nghĩa là tôi không thích những truyện ông Thiệp viết sau này như những truyện ông viết trước đây.

“Khi mới viết văn, bởi người viết còn trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm sống, quan niệm thiện ác cũng như xử thế thị phi rạch ròi, lòng dạ sắt đá, bởi thế theo cổ nhân ắt hẳn “văn viết ra khó, tâm tuyệt, khí tuyệt, mặt tựa người chết” (chữ của Kim Thánh Thán). Trước năm 1992, phần lớn truyện tôi viết ra đều ở dạng này (‘Tướng về hưu’, ‘Không có vua’, ‘Giọt máu’, ‘Kiếm sắc’, ‘Vàng lửa’, ‘Phẩm tiết’, ‘Những người thợ xẻ’ v.v.) Bắt đầu ngấm ngầm từ truyện ‘Sang sông’, thật ra phải sang đến truyện ‘Sống dễ lắm’ tôi mới đủ tâm thế bèn chuyển sang lối viết dễ (hoặc tưởng là dễ) như thể phóng lãng, nhại đùa, cốt khư khư tồn dưỡng tâm khí cho mình mà không để nó thất thoát ra nữa. Cái dễ của nghề văn thực ra khi này chỉ là cái dễ bề ngoài mà thôi, mắt miệng hấp háy, cử chỉ lờ đờ, má hóp, hai bên khóe mép buông xuôi, đôi khi cười một mình, ngơ ngơ ngác ngác, quần áo trễ tràng (“lòng như sắt cứng cũng mềm dần” – thơ Lê Thánh Tông). Ta biết Tâm là thứ Trời định ra cho ta rồi: khi cái Tâm ra ngoài là Tình, vào trong là Tính, đi xuôi là Thức, trở ngược là Trí. Muốn đem ra ngoài mà cho trở ngược vào trong tức là phản quán, đấy là điều rất khó chứ dễ dàng gì (phản là trở lại, quán là chiếu soi hay xét biết).”

Trích Lời tựa

Ấn tượng đầu tiên của tôi qua cuốn này là ông Thiệp là người rất biết kể chuyện. Nghĩa là tôi thấy ông kể chuyện hấp dẫn. Nhiều truyện ông viết nếu tóm tắt cái cốt truyện thì cũng không có gì đặc biệt, nhưng đọc – tức là nghe ông kể chuyện – thì thấy rất thú vị, lôi cuốn.

Ấn tượng thứ hai của tôi là mấy truyện lịch sử ông viết. Ông Thiệp vốn là giáo viên dạy sử, thảo nào ông viết ra mấy truyện hư cấu dựa trên những nhân vật lịch sử, những sự kiện lịch sử. Thú thực là tôi không thạo mấy chuyện liên quan đến mấy người hay mấy thời kỳ ông nhắc tới, nhưng ở góc độ là người đọc truyện thì tôi thấy thú vị. Không rõ ngày xưa khi dạy sử ông Thiệp có kể chuyện cho học trò nghe không, nhưng khi đọc mấy truyện lịch sử của ông, tôi cứ nghĩ là nếu xưa tôi là học trò của ông chắc tôi sẽ thấy môn Sử thú vị hơn, gần gũi hơn, bởi cảm nhận được các nhân vật lịch sử về một mặt nào đó cũng là người bình thường, cũng tâm tư như ai, chứ không chỉ là những nhân vật tương đối vô hồn trong các cuốn giáo khoa sử.

Ngoài các nhà chính trị thời xưa ra ông Thiệp còn viết truyện về mấy ông bà thi nhân văn sĩ có thiệt như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Tú Xương, Vũ Trọng Phụng. Nhiều truyện của ông hay có thơ, do ông viết ra hay trích lại. Ông khá hay trích thơ Nguyễn Bính. Và trong nhiều truyện ông hay nhắc tới việc viết văn, ý nghĩa của nó, những thứ mang danh nó, những thứ người ta gán cho nó hay cho người viết, chuyện văn chương và cơm áo gạo tiền, những thứ đại loại như vậy.

Đó là nói về những ấn tượng, còn như đa phần các ông nhà văn khác, đối tượng chính của ông Thiệp dĩ nhiên là nhân dân cần lao chứ không phải mấy ông văn nhân, chính trị như tôi vừa nhắc ở trên. Và bởi vậy ông viết về cuộc sống đời thường, về nhân tình thế thái, về thói đạo đức giả, về cơm gạo tiền bạc, về những ham muốn bản năng, về  gia đình, về chuyện các thế hệ, về xã hội nói chung. Ông cũng dùng nhiều khái niệm và tư tưởng của Phật giáo nữa.

Tôi thấy truyện của ông Thiệp đậm chất văn hóa Việt, hay nói đúng hơn là đậm chất đồng bằng Bắc Bộ, thích triết lý, phản ánh một xã hội chịu ảnh hưởng rõ rệt của văn hóa truyền thống và chính trị, cũng như của thời mở cửa ra kinh tế thị trường, loay hoay giữa các giá trị. Chắc bởi vậy nên truyện của ông được nước ngoài đón nhận. Đọc ông Thiệp tôi không khỏi nhớ tới Dương Thu Hương, một nữ nhà văn cùng thời đó, cũng lột tả được cái xã hội thời đó như thế, cũng một giọng văn mà tôi cảm thấy rất đồng bằng Bắc Bộ, dù bà Hương viết quyết liệt hơn còn ông Thiệp thì bay bay hơn. Với tôi thì cả hai đều là những nhà văn Việt nên đọc.

Tôi rất thích phần vẽ minh họa của các họa sỹ là bạn ông Thiệp cho tất cả các truyện của ông trong tuyển tập này. Vừa đọc vừa coi hình rất thú vị.

Nhìn chung tôi thấy cuốn sách được làm cẩn thận, tuy còn đôi lỗi chính tả. Phần chú thích cuối truyện tôi không đọc hết nhưng tôi thấy cách viết lạ lạ và trình bày đẹp. Một cuốn sách hẳn là làm hài lòng ông tác giả và nhiều người đọc.

Leave a comment

Filed under Truyện ngắn

Vào trong hoang dã

I now walk into the wild.

Ngay sau khi đọc câu này, tôi lập tức bị nó ám ảnh. Nó như không chỉ là lời nhắn của Chris McCandless cho Wayne: Giờ em đi vào miền hoang dã đây (theo bản dịch tiếng Việt của Lê Hồng Vân, Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn, 2015). Nó như một lời tuyên bố với cả thế giới: Giờ tôi bước vào trong hoang dã.

Nghe như một câu thơ.

Cuốn sách này mang tới cho tôi hai ngạc nhiên. Ngạc nhiên thứ nhất là tại sao Jon Krakauer lại quan tâm tới Chris McCandless nhiều đến thế, tới mức phải đi tìm hiểu xem trước khi chết McCandless là ai, sống một cuộc sống như thế nào, rồi viết một cuốn sách về cuộc đời và cái chết của anh. Xét cho cùng, một thanh niên “đi phượt” rồi chết cũng chỉ như một cái tin có thể xuất hiện trên báo vào bất cứ ngày nào, rồi sẽ lại nhanh chóng bị lấp đi bởi những tin tức khác, như là nổ bom chết hàng chục, hàng trăm người chẳng hạn.

Ngạc nhiên thứ hai là không ngờ không chỉ có Krakauer mà còn có vô cùng nhiều người ngưỡng mộ chuyến đi vào miền hoang dã đó của McCandless. Tôi không ngạc nhiên chuyện bản thân mình ngưỡng mộ chuyến đi đó, nhưng tôi cũng không ngạc nhiên khi biết rằng nhiều người cho đó là xuẩn ngốc. Như đã nói, tôi lại vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng trên thế giới không chỉ còn mà còn rất nhiều người thích cái ý tưởng về một chuyến đi như thế, dù không phải ai cũng dám thực hiện.

Hay là chuyến đi của Chris McCandless là hiện thân của một giấc mơ của rất nhiều người?

Và không chỉ là một giấc mơ. Vẫn luôn có những người đã, đang, và sẽ thực hiện những chuyến đi nguy hiểm như thế. Krakauer chính là một trong số đó.

I put a foot through a snow bridge spanning a slot so deep I couldn’t see the bottom of it. A little later I broke through another bridge to my waist; the poles kept me out of the hundred-foot crevasse, but after I extricated myself, I bent double with dry heaves, thinking about what it would be like to be lying in a pile at the bottom of the crevasse, waiting for death to come, with nobody aware of how or where I’d met my end.

[Tôi đặt một chân qua một chiếc cầu tuyết bắc ngang một khe nứt sâu tới mức tôi không nhìn thấy đáy. Một lát sau tôi vượt qua một chiếc cầu khác ở bên hông; những chiếc cột đã giữ tôi khỏi rơi xuống khe vực sâu cả trăm foot ấy, nhưng sau khi thoát khỏi đó, tôi gập người thở dốc, nghĩ rằng không biết sẽ ra sao nếu mình nằm thành một đống dưới đáy vực, chờ cái chết tới, mà chẳng ai hay tôi đã kết thúc cuộc đời mình ở đâu hay như thế nào.]

Bản thân tôi đã từng trải qua một ý nghĩ gần như thế. Tôi đã từng một mình đi qua những con đường mà một bên là vực thẳm, tuy là không quá nguy hiểm (đường rộng) và thỉnh thoảng vẫn có người qua lại, nhưng đủ vắng vẻ để một ý nghĩ tương tự đã đến với tôi một cách tự nhiên: có lẽ mình chết ở đây cũng không ai hay. Có lúc tôi cũng thoáng nghĩ, nếu chẳng may chết dưới vực kia, không biết liệu sau bao lâu người ta sẽ tìm thấy tôi.

Đang ngồi đây viết thế này nghĩa là tôi chưa mất mạng vì một chuyến đi liều lĩnh nào. Thật ra, các chuyến đi của tôi cũng không có gì gọi là nguy hiểm lắm. Tôi chưa đủ liều và có lẽ cũng chưa đủ buồn chán thế giới văn minh đến mức phải nhất định bước vào trong hoang dã và đoạn tuyệt với xã hội một thời gian.

Có lẽ chỉ đủ để làm một độc giả tận tình của cuốn sách này của Krakauer mà thôi.

I was twenty-three, a year younger than Chris McCandless when he walked into the Alaska bush. My reasoning, if one can call it that, was inflamed by the scattershot passions of youth and a literary diet overly rich in the works of Nietzsche, Kerouac, and John Menlove Edwards, the latter a deeply troubled writer and psychiatrist who, before putting an end to his life with a cyanide capsule in 1958, had been one of the preeminent British rock climbers of the day. Edwards regarded climbing as a ‘psycho-neurotic tendency’; he climbed not for sport but to find refuge from the inner torment that framed his existence.

[Khi đó tôi hai mươi ba tuổi, ít hơn Chris McCandless một tuổi khi anh bước vào vùng rừng rậm Alaska. Lý lẽ của tôi, nếu có thể gọi như vậy, tới từ những đam mê vu vơ của tuổi trẻ và một thực đơn văn chương quá giàu những tác phẩm của Nietzsche, Kerouac, and John Menlove Edwards, người cuối cùng là một nhà văn và nhà tâm thần học rất nhiều phiền muộn, người, trước khi tự kết thúc cuộc đời mình bằng một viên cyanide vào năm 1958, đã là một trong những nhà leo núi người Anh vĩ đại nhất thời đó. Edwards xem leo núi như một ‘khuynh hướng tâm thần’; ông leo núi không phải như chơi một môn thể thao mà để tìm nơi trú ẩn cho sự giày vò nội tâm bên dưới sự tồn tại của mình.]

(Hai đoạn dịch trong ngoặc vuông ở trên là tôi dịch lại từ bản tiếng Anh, vì không có bản tiếng Việt.)

Chris McCandless đã không còn sống để có thể tự kể lại câu chuyện của mình, nhưng cuộc đời anh đã hiện ra một cách sống động dưới ngòi bút của Krakauer. Tôi thích cách tác giả phục dựng lại câu chuyện; vừa sử dụng lời kể của mình; vừa trích dẫn nhật ký, thư từ, bưu thiếp, hay những đoạn được đánh dấu trong những cuốn sách của Chris; ghi lại các mô tả hồi tưởng của gia đình và bạn bè của anh, cũng như của những người mà anh này gặp trong suốt thời gian rong ruổi trên đường cho tới lúc anh vào được trong miền hoang dã của Alaska; đồng thời cũng cung cấp thêm những thông tin thực tế (như thời gian, thời tiết, địa hình, vị trí địa lý, thực vật…) giúp người đọc hình dung được câu chuyện tốt hơn. Đó là chưa kể tác giả còn kể thêm những câu chuyện liên quan, của chính mình và của những người khác, như để đặt cạnh nhau những cuộc đời khác nhau về không gian và thời gian, để chúng soi chiếu lẫn nhau.

Chân dung Chris McCandless hiện lên trong cuốn sách tôi thấy cũng thú vị. Hơi lập dị tí nhưng dễ thương (Bảo Bình mà). Nếu anh này còn sống, có thể độ cực đoan sẽ giảm đi (bởi nếu không thì khó sống lắm).

“His face had a strange elasticity: It would be slack and expressionless one minute, only to twist suddenly into a gaping, oversize grin…”

“’He was wearing long shorts and this really stupid hat,’ says Jan Burres, a forty-one-year-old rubber tramp who was traveling around the West selling knick-knacks at flea markets and swap meets with her boy friend, Bob. ‘He had a book about plants with him, and he was using it to pick berries, collecting them in a gallon milk jug with the top cut off…’”

“We were always trying to pull him back from the edge.”

“…lab reports had to be written in a particular format to make grading them a manageable proposition. Chris thought it was a stupid rule and decided to ignore it. He did his lab reports, but not in the correct format so the teacher gave him an F.”

“Chris didn’t like being told what to do. I think he would have been unhappy with any parents; he had troubles with the whole idea of parents.”

“Chris invented this workout he called Road Warriors: He would lead us on long, killer runs through places like farmers’ fields and construction sites, places we weren’t supposed to be, and intentionally try to get us lost. We’d run as far and as fast as we could, down strange roads, through the woods, whatever. The whole idea was to lose our bearings, to push ourselves into unknown territory. Then we’d run at a slightly slower pace until we found a road we recognized and race home again at full speed. In a certain sense that’s how Chris lived his entire life.”

“Two years after he sweated over the grill in Bullhead, his colleagues at the golden arches don’t recall much about Chris McCandless. ‘One thing I do remember is that he had a thing about socks,’ says the assistant manager, a fleshy, garrulous man named George Dreeszen. ‘He always wore shoes without socks – just plain couldn’t stand to wear socks. But McDonald’s has a rule that employees have to wear appropriate footwear at all times. That means shoes and socks. Chris would comply with the rule, but as soon as his shift was over, bang! – the first thing he’d do is peel those socks off. I mean the very first thing. Kind of like a statement, to let us know we didn’t own him, I guess. But he was a nice kid and a good worker. Real dependable.’”

“He could do the job – he cooked in the back – but he always worked at the same slow pace, even during the lunch rush, no matter how much you’d get him to hurry up. Customers would be stacked ten-deep at the counter, and he wouldn’t understand why I was on his case. He just didn’t make the connection. It was like he was off in his own universe.”

“’Even when he was little,’ says Carine, who was born three years after Chris, ‘he was very to himself. He wasn’t antisocial – he always had friends, and everybody liked him – but he could go off and entertain himself for hours. He didn’t seem to need toys or friends. He could be alone without being lonely.’”

“Everett was a loner, but he liked people too damn much to stay down there and live in secret the rest of his life. A lot of us are like that – I’m like that, Ed Abbey was like that, and it sounds like this McCandless kid was like that: We like companionship, see, but we can’t stand to be around people for very long. So we get ourselves lost, come back for a while, then get the hell out again.”

Tuy nhiên, có một chi tiết tôi cho là hơi lạc nhịp với bức tranh chung, và là một phỏng đoán sai lầm. Ấy là đoạn tác giả trích lời Carine McCandless cho rằng Chris đã rút khỏi đội kèn (French horn) vì không muốn bị xếp ở vị trí kém hơn em gái mình. Tôi cho rằng sự hơn kém so với người khác không phải là điều mà một người như Chris mảy may bận tâm đến. Với em gái mình thì càng không. Ngoài chi tiết này ra tôi không thấy có chi tiết nào khác có ý nói rằng Chris đã từng tỏ ra khó chịu chuyện thua kém gì ai. Ngược lại, hồi mới học lớp ba anh chàng còn nằng nặc đòi xin ra khỏi một chương trình dành riêng cho các học sinh có năng lực vượt trội (an accelerated program for gifted students). Chỉ có thể nói như giáo viên của anh trước sự việc ấy, “Chris marches to a different drummer”. Chris có cả một thế giới riêng để lưu tâm đến, cạnh tranh khó mà là tính cách của anh.

Những tranh cãi xung quanh cái chết của McCandless – đáng tiếc hay “đã dốt còn tưởng mình nguy hiểm” – chắc sẽ chẳng bao giờ đi đến đâu vì mỗi bên đi theo những giá trị khác nhau. Những người cảm thấy tức giận trước việc tung hô chuyến đi và cái chết lãng xẹt của McCandless đặt cao giá trị của sự sống sót – survival; còn những người ủng hộ sự phiêu lưu của anh này đặt một giá trị khác cao hơn cả sống sót, ấy là passion – nói một cách dân dã là phải có sự đắm đuối trong lòng một tí. Một bên thì sống thực tế hơn, còn bên kia thì mơ mộng hơn. Dĩ nhiên lý tưởng là nên cân bằng cả hai, không quá lệch về bên nào.

Krakauer có ý bảo vệ Chris khi phân tích rằng cái chết của anh này phần nhiều là do xui xẻo, chứ không phải do quá coi thường tính mạng của mình. Tôi cơ bản cũng đồng ý vậy. Mặc dù Chris có ý thức được rằng chuyến đi có thể nguy hiểm tới tính mạng – if this adventure proves fatal – tôi cũng nghĩ như tác giả cuốn sách rằng ở cái tuổi so green như vậy, khái niệm về cái chết với một thanh niên bình thường trên thực tế còn khá trừu tượng và xa vời.

“I knew that people sometimes died climbing mountains. But at the age of twenty-three, personal mortality – the idea of my own death – was still largely outside my conceptual grasp.”

“At that stage of my youth, death remains as abstract a concept as non-Euclidean geometry or marriage.”

Câu chuyện của Chris kết thúc buồn. Phần cuối của cuốn sách có thể làm người ta rơi nước mắt. Tôi đã đọc cuốn sách này hai lần, và có lẽ thỉnh thoảng sẽ đọc lại.

Leave a comment

Filed under Phi hư cấu khác

Nhật ký Anne Frank

Trước khi tháng Song Tử qua đi (chỉ còn 10 ngày nữa), nếu có thể bạn hãy đọc một cuốn sách của một tác giả Song Tử: Anne Frank.

Hồi đầu mình có hơi ngại đọc cuốn này vì ai cũng biết nó viết về cuộc sống dưới thời Đức quốc xã, một thời kỳ mà chỉ cần nhắc tới tên mình đã cảm thấy ớn. Mua về là bởi biết nó là cuốn kinh điển nhiều người đọc nên nghĩ là cũng nên đọc. Và rồi thì cũng đọc thật. Thật ra nó là một cuốn sách rất dễ đọc bởi nó là nhật ký của một cô bé 13-14 tuổi và Anne Frank thì kể chuyện rất tài, ban đầu đọc cảm giác giống như đọc tiểu thuyết vậy.

Quả thật là mình nghĩ ở góc độ một người viết tiểu thuyết (hoặc làm phim) thì có lẽ họ thường muốn tạo ra một bối cảnh, một câu chuyện hơi khác thường một chút, để trong đó các nhân vật tự nhiên bộc lộ được hết những tâm tư, tình cảm, và cá tính của họ ra, để rồi đến cuối câu chuyện người đọc (hoặc người xem) cảm nhận được một điều gì đó cho chính mình về nhân tình thế thái. Bối cảnh của câu chuyện có thực này, dù chẳng ai muốn nó xảy ra, có những tính chất “khác thường” kiểu như thế: hai gia đình bình thường đang yên đang lành phải dọn vào sống chung với nhau một cách bí mật, trốn tránh sự tìm bắt của chính quyền phát xít, hàng ngày phải nín thở lắng nghe mọi động tĩnh từ bên ngoài, nương tựa vào sự giúp đỡ của những người bạn Hà Lan tốt bụng, luôn phải đối mặt với khả năng bị phát hiện và bắt vào trại tập trung bất cứ lúc nào xen lẫn với những hy vọng mong manh rằng cuộc sống lẩn trốn bất thường này một ngày nào đó sẽ kết thúc.

Het Achterhuis, tên nguyên bản tiếng Hà Lan của cuốn sách này, muốn nhắc tới phần phụ bí mật của ngôi nhà đã dùng làm nơi ẩn náu của hai gia đình Do Thái từ năm 1942 đến 1944. Achter nghĩa là “đằng sau” hay “ở sau của”, còn huis tiếng Hà Lan nghĩa là “tòa nhà”. Trong những căn nhà cổ của Amsterdam, căn hộ nhìn xuống vườn hay sân sau có thể tách biệt hẳn với phần mặt phố, do đó có thể chia thành hai căn hộ hoàn toàn độc lập trong chung một ngôi nhà. Het Achterhuis – nghĩa đen là “ngôi nhà ở đằng sau”…

Để đơn giản hóa tên gọi bằng tiếng Anh, chúng tôi dịch tên phần này của tòa nhà là Chái nhà bí mật [The Secret Annex], mặc dù đó không phải là một chái nhà theo nghĩa đen của từ này.

(Phần chú thích đầu cuốn sách, theo bản dịch tiếng Việt của Đặng Kim Trâm. Phần trong ngoặc vuông [ ] là chú thích của người viết bài này.)

Trong bối cảnh bất thường đó, cuộc sống bình thường vẫn phải tiếp tục. Mọi người vẫn phải chuẩn bị các bữa ăn, dọn dẹp nhà cửa, người lớn làm việc, trẻ con phải tự học, cùng nghe tin thời sự rồi bàn luận, tổ chức các buổi sinh nhật một cách đơn giản, cho đến việc cùng đối phó khi nhà có trộm hay khi việc nhờ mua lương thực trở nên khó khăn. Những căng thẳng về tinh thần. Va chạm giữa hai gia đình với nhau, giữa bố mẹ và con cái. Chuyện tình cảm nảy sinh giữa Anne Frank và Peter. Tất tật những chuyện đó hiện lên sống động qua ngòi bút của tác giả.

Qua câu chuyện hiện lên trong cuốn nhật ký, mình rất ấn tượng với Otto Frank – cha của Anne Frank và cũng là người duy nhất sống sót trong tám người (ông mất năm 1980), cũng là người đã tìm thấy cuốn nhật ký và cho xuất bản. Điều đầu tiên mà mình ấn tượng là ông dường như là người duy trì nếp đọc sách và tự học cho bản thân mình và hai cô con gái trong hoàn cảnh sống rất éo le đó. Đọc đến những đoạn đó mình không tránh khỏi tự hỏi, nếu mình rơi vào hoàn cảnh ấy liệu có còn tâm trạng để đọc sách nữa hay không. Và dựa trên những gì Anne Frank nhắc tới về việc đọc và học của hai chị em hay Peter, mình cảm thấy quả là gia đình đó từ thời cách đây hơn nửa thế kỷ đã có một nền tảng học vấn và văn hóa thật đáng nể. Dĩ nhiên họ cũng thuộc tầng lớp ưu tú trong xã hội của họ thời bấy giờ, không đại diện cho mặt bằng chung. Nếu bạn nào tò mò giống mình có thể tự tìm đọc thêm các thông tin về dòng họ Frank ấy cũng như về ông Otto Frank nói riêng.

Ngoài ra, qua những suy nghĩ của Anne Frank mười ba tuổi bộc lộ trong cuốn nhật ký, mình nghĩ là cô gái này đã được lớn lên trong một sự giáo dục rất cởi mở của gia đình nên mới có những nhận xét và suy nghĩ rất tự do, phóng khoáng như thế. Không biết có phải do tình cảm của Anne Frank nghiêng về người cha nhiều hơn hay không mà mình cảm giác rằng ảnh hưởng của người cha trong chuyện này cũng đóng vai trò quan trọng. (Dĩ nhiên không phải cha mẹ nào cũng thích con mình tự do “quá trớn”, nhất là ở mấy nước Á Đông ảnh hưởng đậm đà chất Nho Khổng giáo.)

Một điểm ấn tượng nữa của mình về câu chuyện được kể trong cuốn nhật ký là về những người Hà Lan phi Do Thái sống dưới thời Đức quốc xã chiếm đóng đó. Một số lựa chọn trở thành bạn của những người Do Thái, che giấu họ, giúp họ sống trong thời loạn, như những người bạn của hai gia đình được nhắc tới; và dĩ nhiên một số khác lựa chọn con đường sẵn sàng trở thành người chỉ điểm cho quân quốc xã để đổi lấy những món tiền thưởng hay gì gì đó. Đặc biệt ấn tượng là về người bán rau cho người bạn Hà Lan vẫn giúp hai gia đình mua thực phẩm khi ông này nói đại ý rằng ông biết thừa người mua rau của ông đang che giấu một gia đình Do Thái nhưng dĩ nhiên ông chẳng nói ra cho ai biết hết. Bản thân ông cũng đang che giấu cho vài người Do Thái và sau đó bị bắt khi quân quốc xã phát hiện ra.

Nói chung nếu chỉ đọc cuốn nhật ký thì không có gì ảm đạm mấy, vì những gì thật sự ảm đạm xảy ra sau đó. Phần Lời bạt của cuốn sách cung cấp thêm những thông tin để người đọc hiểu thêm về bối cảnh xã hội thời đó cũng như số phận của những người đã sống trong Chái nhà bí mật đó sau khi họ bị phát hiện và bị bắt vào trại tập trung, dựa trên những nghiên cứu và phỏng vấn với các nhân chứng sau này. Trong đó có số phận của chính Anne Frank. Phần này đọc rất xúc động. Nhất là khi những người này đã bị bắt trong những đợt càn quét cuối cùng của quân quốc xã ở Hà Lan, và họ cũng bị giết trong những đợt thảm sát cuối cùng tại các trại tập trung mà họ được đưa đến trước khi các trại này được giải phóng và chính quyền quốc xã sụp đổ.

Một điều mình khá ngạc nhiên là một số bạn, có vẻ như ở các nước phương Tây, phản ứng khá dữ dội về việc cuốn sách này được đưa vào danh mục sách bắt buộc phải đọc trong chương trình lịch sử ở trường. Một số nói là cuốn sách thật ra không nói được nhiều về thời kỳ đó và nó đã được thổi phồng lên quá mức. Dĩ nhiên, những người thích cuốn sách này cũng đã đáp trả khá nhiều về những nhận xét đó.

Cá nhân mình thì cho rằng đây là một cuốn sách sinh động về cuộc sống. Đúng là có thể nó không nói được nhiều về lịch sử, nhưng nó đã khiến bản thân mình cũng như nhiều người khác quan tâm hơn và vì thế mà tự đi tìm hiểu nhiều hơn về cái đoạn lịch sử đáng buồn ấy của nhân loại. Mình nghĩ đó cũng là một khía cạnh rất có giá trị của cuốn sách.

Bản tiếng Việt mình đọc do Đặng Kim Trâm dịch từ nguyên bản tiếng Anh của Bantam Books 1993, NXB Hội nhà văn và Đông A xuất bản năm 2007.

Leave a comment

Filed under Nhật ký

The end of the story

The end of the story by Lydia Davis – Picador, 2004; first published in 1994.

What would you do if you want to tell a cliché story of a woman who starts a relationship with a guy, then things go wrong, he leaves her, and she takes some time to get over it? Lydia Davis has a brilliant idea of writing a novel about a writer writing a novel based on a past relationship between herself and a guy twelve years younger than her. From this idea, The end of the story contains two stories intertwining with each other: one about the relationship, which is reconstructed and reflected from the writer-narrator’s memories of what happened, and the other about how she manages to live to write a fiction from that relationship.

So it is not just about how a person goes through a relationship but also, and perhaps more importantly, about how she reflects on a past relationship. Memories do not include everything, and for what is included part of them can be inaccurate or unclear, and how she interprets them now when she looks back maybe different from how she viewed them in the past when she was going through them. Same with how she feels looking back and how she felt back then. Everything comes out really lively and fascinatingly in the book, and it is especially interesting that Lydia Davis does that without using any dialogs but relying mainly on exquisite narration and descriptions. Lots of poetic writings. Sharp as she has always been.

The novel writing of the protagonist based on this – which means her very own – story is also depicted well with interesting details of the craft of creative writing embedded in a pretty typical life of a writer. Also just narration and descriptions yet I enjoyed reading a lot, really page-turning to me.

“The end of the story” is therefore about ending two stories, or more exactly, ending two things: the haunting ghost of a past relationship and the story told in the protagonist’s novel. If it is not always clear when a relationship ends in reality, it is even much more difficult to say when one is totally over a past relationship. I feel that we usually have to decide for ourselves when we are really over something if we really want to be exact about that, just to have a better sense of being really over it. In other words, if we want an end for something that seems to go on and on even when it seems to have ended before, we have to choose/create a point of ending for ourselves. Interestingly, it is very similar to how a writer ends his/her written story: he/she has to decide when the story ends. I guess that is why Lydia Davis came up with the idea of writing this book. She did a great job.

However, for a few times in the middle of the book I did find what I was reading a bit overwhelming. It could be that I was a bit fed up with either the richness of her writing or with the craziness of her characters, or both. I guess it’s just because the book is rich of real life.

Overall I loved the book. I will definitely read it again.

Leave a comment

Filed under In English, Tiểu thuyết

Where I’m reading from

Where I’m reading from: The changing world of books by Tim Parks – New York Review Books, 2015; first published in 2014.

I enjoyed the first two parts of the book – “The world around the book” and “The book in the world” – more than the latter two – “The writer’s world” and “Writing across worlds”. Perhaps because I am an ordinary reader more than a writer and translator it was easier for me to feel connected with what Tim Parks has to say about reading than with what he talks about when he touches on the more sophisticated craft of writing and especially that of translation.

Overall I find the book very thought-provoking. It can push an ordinary reader/writer/translator to look beyond his/her ordinary experiences by posing a lot of good questions. Going through the book readers can become more aware of what may lie behind our seemingly natural ways of reading, writing, translation, and thinking about books, including some biases created by a globalized world of book making and mainstream culture(s) of reading. What the author talks about in this book is not only worth noticing but also thinking further than what he’s written; all topics are good for discussion and further analysis.

However, the book lacks a bit of blend as a coherent discussion. This might be because it is a put-together of a number of independent articles Tim Parks has written here and there: the endings of many essays are really more an end to themselves than a link to the next, which sometimes makes the book difficult to follow. On the other hand, this is a book you can start reading, or reread, from anywhere you like.

Leave a comment

Filed under In English, Phi hư cấu khác